UBND HUYỆN TÂN THẠNH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP MỘT
Tên tác giả: Cao Thị Khánh Linh
Đơn vị: Trường Tiểu học Kiến Bình
Tân Thạnh, năm 2016
1
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GIÁO DỤC
- Cấp cơ sở:
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
- Cấp huyện:
đúng, rõ ràng, đẹp, nhanh sẽ giúp cho các em có điều kiện ghi chép bài của tất
cả các môn học khác tốt hơn. Chữ viết còn là biểu hiện của nết người. Việc
rèn luyện kĩ năng viết được, viết đúng, viết đẹp, viết nhanh cho học sinh lớp 1
là nền tảng, là cơ sở để các em tiếp tục rèn luyện chữ viết ở các lớp trên.
Trong quá trình giảng dạy, có nhiều giáo viên đã không ngừng cải tiến,
đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng chữ viết của học
sinh. Thế nhưng qua quan sát tập vở và bài viết của học sinh từ nhiều năm
nay, tôi nhận thấy chữ viết của nhiều học sinh còn chưa đạt yêu cầu. Các em
viết chưa đúng mẫu chữ viết, chữ viết không rõ ràng, viết thiếu dấu, thiếu nét,
đặt dấu thanh tùy tiện, trình bày bẩn,… Điều này không chỉ thể hiện chất
lượng của riêng bài tập viết mà còn ảnh hưởng đến chất lượng học tập các
môn học khác của học sinh.
Năm học 2014 – 2015, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
góp phần nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp Một” và đã vận dụng
có hiệu quả ở lớp mình phụ trách. Năm học 2015 – 2016, tôi lại được phân
công giảng dạy lớp 1. Với thực trạng về chữ viết của học sinh chưa được như
mong muốn, tôi ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng viết
cho học sinh ngay từ lớp học nền tảng này. Vì thế, tôi tiếp tục chọn đề tài:
“Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh
3
lớp Một” để vận dụng thực hiện ở lớp 1B, Trường Tiểu học Kiến Bình. Do
năm học 2015- 2016 là năm học đầu tiên trường tôi thực hiện giảng dạy
chương trình Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục nên tôi có nghiên cứu điều
chỉnh, cải tiến và bổ sung một số giải pháp nhằm phù hợp hơn với tình hình
thực tế, góp phần nâng cao chất lượng chữ viết của học sinh.
Tôi nghĩ nâng cao chất lượng chữ viết của học sinh là đề tài có nhiều giáo
viên cũng như nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên, ở từng khối lớp, từng địa
- Học sinh còn lúng túng khi trình bày bài viết ở chữ cỡ nhỏ: viết một
dòng, bỏ một dòng trong vở ô li; trình bày không cân đối tên phân môn, tên
bài học; kẻ hàng trong vở không ngay ngắn.
5
- Học sinh viết được các chữ viết hoa nhưng chưa đúng các nét theo mẫu.
Các em thường viết chưa đạt ở những chỗ uốn lượn của các nét; độ rộng, độ
cao của chữ cũng không đều nhau.
Điều tra về kết quả xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh lớp 1B, Trường
Tiểu học Kiến Bình ở những năm qua vào thời điểm cuối năm học, tôi thống
kê như sau: (Chỉ thống kê phần xếp loại chữ đẹp)
Năm học
2012-2013
2013-2014
2014-2015
Số học
Loại A
SL
TL
23,5%
4
25,0%
4
47,3%
9
2014- 2015
Số học Điểm 9–10
sinh
17
16
19
Điểm 7 – 8
Điểm 5 - 6
Điểm dưới 5
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
21,0%
25,0%
5,3%
6,3%
Như vậy, khi chưa vận dụng đề tài này, năm học 2012-2013, ở lớp 1B, số
học sinh có chữ viết xếp loại C là 17,7%; kiểm tra môn Tiếng Việt phần viết ở
cuối năm, số bài điểm dưới 5 chiếm 11,8%. Năm học 2013-2014, số học sinh
có chữ viết xếp loại C là 18,8%; kiểm tra môn Tiếng Việt phần viết ở cuối
năm, số bài điểm dưới 5 chiếm 6,3%.
Từ bảng thống kê trên cho thấy số học sinh viết chưa đạt yêu cầu không
nhiều hơn so với số học sinh viết đúng, viết đạt nhưng nếu chữ viết của các
em không đúng, không rõ ràng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng những
môn học khác cũng như kết quả rèn luyện chữ viết sau này của các em ở các
lớp trên.
6
Qua tìm hiểu và quan sát học sinh từ thực tế giảng dạy, tôi nhận định thực
trạng về chữ viết của học sinh là do các nguyên nhân:
- Giáo viên còn ít chú trọng đến việc rèn chữ viết cho học sinh. Do
chương trình của môn Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục có một số bài nội
dung hơi nhiều, mỗi bài học phải theo quy trình bốn việc, có đôi lúc giáo viên
còn chú trọng nhiều hơn ở việc 1 và việc 3, giúp học sinh chiếm lĩnh ngữ âm
và luyện đọc. Phần việc 2 và việc 4 giáo viên còn hối thúc học sinh viết nhanh
để hoàn thành bài viết cho kịp thời gian của tiết dạy. Vì vậy, giáo viên cũng
Phụ huynh học sinh cũng thiếu sự phối hợp với giáo viên để cùng đánh giá
động viên bài viết của con em mình.
Từ những thực trạng nêu trên, bản thân tôi đã nghiên cứu, tìm những giải
pháp cụ thể nhằm giúp học sinh trong việc rèn luyện chữ viết đạt kết quả tốt
hơn, góp phần nâng cao chất lượng chữ viết nói riêng và chất lượng học tập
các môn học nói chung ở lớp mình phụ trách.
Phần II: GIẢI PHÁP
8
1. Quan tâm hướng dẫn việc chuẩn bị và sử dụng đồ dùng học tập
của học sinh:
Chất lượng chữ viết của học sinh có sự tác động rất lớn của yếu tố khách
quan như các phương tiện phục vụ cho việc dạy và học tập viết. Do vậy, muốn
rèn cho học sinh viết chữ rõ ràng, sạch đẹp, tôi đã quan tâm đến việc chuẩn bị
và hướng dẫn sử dụng đồ dùng học tập của học sinh.
Đầu năm học, ngay sau khi thu nhận học sinh lớp 1, tôi chủ động họp
phụ huynh học sinh sớm để hướng dẫn phụ huynh học sinh chuẩn bị dụng cụ
học tập cho con em. Tôi chọn và đưa ra một số loại vở, bút, bảng con để phụ
huynh tham khảo. Tôi phân tích những ưu điểm, hạn chế của một số loại vở,
bút để phụ huynh so sánh, cân nhắc khi lựa chọn đồ dùng học tập cho con em
mình.
Bảng con là công cụ thực hành tiện lợi và hiệu quả nhất với học sinh. Các
em sẽ chuyển biểu tượng chữ viết trong đầu thành sản phẩm nhìn thấy và đánh
giá được. Viết chữ trên bảng con, học sinh dễ điều chỉnh, sửa chữa những chỗ
chưa đạt của chữ viết, giáo viên cũng dễ dàng nắm thông tin phản hồi trong
quá trình dạy tập viết để kịp thời xử lí, uốn nắn.
Tôi yêu cầu học sinh cả lớp mua bảng con giống nhau để thuận tiện trong
Tôi yêu cầu phụ huynh hàng ngày cần giúp các em kiểm tra dụng cụ học
tập. Ví dụ như xem các dụng cụ học tập quy định có đủ không, bút chì đã gọt
chuốt chưa, bút mực có bị tắt nghẹt mực không,.. Tất cả những dụng cụ học
tập nhỏ nên giữ trong hộp bút để vừa được bảo quản, vừa dễ dàng tìm thấy khi
cần.
Bản thân tôi cũng chuẩn bị ở lớp vài chiếc bảng con, vài cây bút mực, bút
chì để phòng khi học sinh quên mang, tôi cho các em mượn sử dụng tạm vì
10
những dụng cụ này không thể thiếu lúc luyện viết.
Đầu năm học, tôi hướng dẫn học sinh bao bìa dán nhãn cẩn thận các
quyển vở. Những quyển nào chưa dùng đến, tôi giữ lại đến khi cần mới phát
ra cho học sinh. Quyển vở Em tập viết có bìa hơi mỏng nên rất dễ bị sút bìa,
tôi dùng kim bấm lớn bấm chặt lại để giúp các em dễ bảo quản hơn.
Trường tôi thực hiện dạy học hai buổi/ ngày nên hầu hết thời gian trong
ngày học sinh phải ở lại trường. Tôi khuyến khích học sinh để tất cả sách vở ở
lớp, chỉ đến chiều thứ sáu hàng tuần mới mang về cho cha mẹ xem. Làm như
vậy học sinh đỡ phải mang nặng mà sách vở cũng được bảo quản tốt hơn.
Tôi thường xuyên giáo dục học sinh phải yêu quý, tôn trọng sách vở của
mình, sử dụng và bảo quản cẩn thận để sách vở luôn mới, không bị nhàu nát,
quăn góc.
Nhờ sự quan tâm chuẩn bị chu đáo đồ dùng học tập phù hợp và hướng
dẫn kĩ cho học sinh cách sử dụng, giáo viên gặp nhiều thuận lợi hơn khi
hướng dẫn học sinh viết đồng loạt cả lớp, giúp học sinh có điều kiện rèn luyện
chữ viết rõ ràng, sạch đẹp theo mẫu quy định.
2. Xây dựng nền nếp học tập cho học sinh ở hai tuần học đầu tiên:
Trong hai tuần học đầu tiên (hai tuần 0), học sinh lớp 1 không học một
chữ nào nhưng lại có giá trị định hướng cho mọi việc về sau. Tôi tranh thủ
đường kẻ đậm hơn, còn gọi là đường kẻ 1. Từ đó, các em đếm lên: đường kẻ
2, đường kẻ 3, đường kẻ 4,…
ĐK5
ĐK4
ĐK3
ĐK2
ĐK1
Trong quá trình hình thành biểu tượng về chữ viết và hướng dẫn học sinh
viết chữ, giáo viên thường sử dụng tên gọi các nét cơ bản để mô tả hình dạng,
12
cấu tạo và quy trình viết một chữ cái. Vì vậy, ngay từ những tiết học ở tuần 0,
tôi đã quan tâm giúp học sinh nắm vững tên gọi các nét cơ bản và cho học
sinh luyện viết kĩ các nét này.
Ở lớp 1B, tất cả học sinh đều đã được học Mẫu giáo nên cũng đã biết qua
5 nhóm nét cơ bản. Tất cả các chữ viết đều được cấu tạo từ các nét nên học
sinh có viết đúng, đẹp các nét cơ bản thì chữ viết mới đúng và đẹp. Tuy chỉ là
những nét tưởng như đơn giản, nhưng đòi hỏi học sinh phải được rèn viết
nhiều lần mới đúng, mới chuẩn. Tôi quan tâm hướng dẫn kĩ về độ cao, độ
rộng, điểm đặt bút, dừng bút của một số nét khó.
Ví dụ: - Nhóm nét cong: gồm nét cong kín, nét cong hở phải, nét cong hở
trái: cao 2 li, rộng 1 li rưỡi. Điểm bắt đầu dưới đường kẻ 3 một chút, nét cong
hở kết thúc ở giữa đường kẻ 1 và đường kẻ 2; nét cong kín kết thúc ở điểm bắt
đầu.
- Nét khuyết: cao 5 li, rộng 1 li. Khi viết nét khuyết phải thon đều, tròn
đầu. Nét khuyết trên: điểm bắt đầu ở đường kẻ 2, kết thúc ở đường kẻ 1, điểm
cắt nhau ở đường kẻ 3. Nét khuyết dưới: điểm bắt đầu ở đường kẻ 3, kết thúc
viết các chữ cái mới học này, tôi phải hướng dẫn học sinh thật tỉ mỉ trên dòng
kẻ li. Tôi trình bày sẵn những dòng kẻ li trên bảng lớp, riêng đường kẻ tương
ứng với đường kẻ đậm trong vở và bảng con, tôi kẻ bằng phấn màu để học
sinh dễ phân biệt. Khi hướng dẫn học sinh viết chữ trên dòng kẻ li ở bảng lớp,
tôi giúp học sinh dễ dàng nhận ra điểm đặt bút, điểm kết thúc, độ cao chữ, vị
trí và độ lớn của các dấu phụ, dấu thanh,…
Tôi cũng ý thức được chữ viết của giáo viên như là một tấm gương của
học sinh, đặc biệt là với học sinh lớp 1. Các em sẽ quan sát và bắt chước cô
14
giáo từ những nét chữ đơn giản đầu tiên đến những bài viết sau này. Vì vậy,
khi được phân công dạy lớp 1, tôi luôn cố gắng rèn luyện chữ viết cho mình.
Mỗi khi viết bảng hay viết lời nhận xét của giáo viên vào vở học sinh, tôi phải
hết sức cẩn thận, viết thật rõ ràng và chân phương để học sinh noi theo.
Danh mục đồ dùng dạy học có bộ chữ dạy tập viết gồm 39 tờ bìa in các
chữ cái và chữ số trong khung ô li. Sử dụng bộ chữ cái này giúp tôi minh họa
hình dạng, cấu tạo, quy trình viết chữ,…làm cho quá trình hướng dẫn cụ thể,
sinh động hơn. Nhờ đó, học sinh khắc sâu hơn về biểu tượng các chữ cái.
Ngoài ra, đầu năm học tôi còn chuẩn bị một bảng phụ được kẻ ô li cố
định giống như trang vở của học sinh. Bảng này có thể dùng phấn viết và sử
dụng hàng ngày khi hướng dẫn học sinh viết vào vở Em tập viết. Nhờ tấm
bảng này, tôi giúp học sinh xác định khoảng cách các chữ ghi tiếng và điểm
đặt bút để viết chữ ghi âm, vần, tiếng tiếp theo trong vở.
Không gian lớp học cũng được tôi tận dụng để phát huy hiệu quả của các
phương tiện trực quan. Phía cuối lớp tôi treo bảng chữ cái theo mẫu chữ viết
thường, chữ viết hoa và các chữ số. Tôi hướng dẫn học sinh cách xác định độ
cao, độ rộng chữ trong khung ô li. Hàng ngày, nếu học sinh có quên về cấu tạo
hoặc độ cao chữ, các em có thể tự quan sát và nhớ lại để viết.
độ viết chữ.
Đối với các trường hợp nối chữ, sau khi hướng dẫn mẫu cho học sinh, tôi
thường lưu ý kĩ những chỗ khó, những lỗi học sinh có thể mắc phải, giúp các
em chú ý điều chỉnh cho đúng.
Ví dụ: - Trường hợp nét móc của chữ cái trước nối với nét móc hoặc nét
hất đầu tiên của chữ cái sau: Học sinh thường mắc lỗi kéo dài chỗ nối làm cho
16
hai chữ cái cách xa nhau quá, chữ sẽ không đẹp. Tôi hướng dẫn học sinh điều
chỉnh “độ doãng” sao cho vừa phải, hợp lí.
Chưa đúng
Đúng
- Trường hợp nét móc, nét khuyết, nét cong của chữ cái trước nối với nét
cong đầu tiên của chữ cái sau: Đây là trường hợp khó đòi hỏi học sinh phải
biết ước lượng khoảng cách khi lia bút qua chữ cái thứ hai. Một số em không
cân đối được khoảng cách làm cho hai chữ cái có khi chồng nét lên nhau, tạo
ra chữ viết không rõ ràng. Tôi hướng dẫn, giúp học sinh điều chỉnh khoảng
cách sao cho hợp lí, phải nhìn thấy được rõ ràng các nét của mỗi chữ cái. Như
vậy, nét nối phải kéo dài ra để tạo khoảng cách giữa hai chữ cái độ chừng nửa
ô li dọc.
Chưa đúng
Đúng
- Trường hợp nét cong kín của chữ cái trước nối với nét móc hay nét hất
đầu tiên của chữ cái sau: Một số học sinh hay mắc lỗi vòng nét nối xuống thấp
Ví dụ:
Khi dấu huyền, dấu sắc được đặt trên chữ cái có dấu mũ (â, ê, ô) thì dấu
thanh được đặt về bên phải của dấu mũ.
Ví dụ:
Dấu phụ, dấu thanh được viết đúng, cân đối mới thể hiện được sự hài
hòa, mềm mại của chữ viết. Chữ viết rõ ràng hơn, đẹp hơn.
18
4.4. Hướng dẫn viết từ ứng dụng:
Dạy viết các từ ứng dụng ngoài việc giúp học sinh thực hiện các yêu cầu
về viết chữ ghi tiếng như viết nối chữ, viết liền mạch, đặt dấu thanh đúng, tôi
còn quan tâm nhắc nhở học sinh lưu ý khoảng cách chữ sao cho đều đặn hợp
lí. Khoảng cách chữ ghi tiếng thường được ước lượng bằng chiều rộng một
chữ cái o viết thường. Điều này tuy không khó nhưng đối với học sinh lớp 1,
các em hay quên cho nên trong một bài viết, có khi khoảng cách chữ của các
em không đều nhau. Có bài khoảng cách chữ gần nhau quá, không tách bạch
được chữ ghi tiếng, làm cho bài viết không rõ ràng, khó đọc, thiếu đi tính
thẩm mĩ. Vì vậy, tôi phải thường xuyên nhắc nhở điều này khi học sinh viết từ
ứng dụng. Với những em thường mắc phải lỗi như thế, khi viết bài vào vở, tôi
đến bên cạnh để chỉ dẫn thêm, giúp học sinh điều chỉnh kịp thời.
Nhờ quan tâm khắc sâu ở những chỗ học sinh thường gặp khó khăn trong
quá trình hướng dẫn học sinh tập viết, theo dõi giúp học sinh điều chỉnh kịp
thời những lỗi sai, tôi nhận thấy học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt về chữ viết.
Các em viết đúng các chữ cái, nối nét hợp lí, đặt dấu thanh đúng vị trí khi viết
chữ ghi tiếng, khoảng cách chữ đều đặn hơn khi viết từ ứng dụng.
5. Hướng dẫn học sinh viết chữ viết hoa:
dấu ^ thì được Â. (Tương tự với các chữ cái viết hoa D-Đ, E-Ê, O-Ô-Ơ, U-Ư).
Từ tuần 27 về sau là nội dung “hướng dẫn viết ứng dụng chữ cái viết
hoa”. Giai đoạn này, học sinh được ôn lại kĩ thuật viết chữ cái viết hoa một lần
nữa. Tuy nhiên, điều tôi tập trung hơn là chỗ nối nét từ chữ cái viết hoa sang
chữ cái viết thường. Ngoài 29 chữ cái viết hoa, học sinh còn được học các chữ
hoa ghi âm có hai, ba chữ cái như: Ch, Gh, Gi, Kh, Ng, Ngh, Nh, Ph, Th, Tr.
Lúc này, tôi giúp các em ghi nhớ quy tắc viết hoa: chỉ viết hoa chữ cái đầu
tiên của chữ ghi tiếng. Tôi kết hợp dạy viết chữ hoa với việc dạy luật chính tả
về viết hoa,; giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu viết đúng ở môn Tiếng Việt là viết
20
đúng con chữ, đúng kiểu chữ, đúng kích cỡ và đúng chính tả, khi các em thấy
xuất hiện luật chính tả về viết hoa chỗ nào thì phải viết hoa ở chỗ ấy, chứ
không được tùy tiện viết chữ hoa.
Khi luyện viết chữ viết hoa ở vở Em tập viết, học sinh có thể quan sát
mẫu ở đầu trang nhưng khi viết chính tả hoặc viết ở những vở khác thì một số
em lại lúng túng do quên mẫu chữ, vì chữ viết hoa ít được ứng dụng hơn chữ
viết thường. Để giúp học sinh nhớ kĩ các mẫu chữ viết hoa, tôi làm tấm bìa có
chiều rộng 3cm, chiều dài khoảng 15cm, trên đó, tôi ghi 29 chữ cái viết hoa
nằm trên đường kẻ li (viết cả hai mặt), rồi pho to bằng giấy cứng phát cho mỗi
học sinh. Khi viết bài, học sinh có thể đặt tấm bìa chữ sát lề vở, nhìn chữ mẫu
khi viết và đối chiếu lại khi viết xong để rút kinh nghiệm.
Từ khi quan tâm hướng dẫn học sinh viết chữ hoa, tôi nhận thấy học sinh
đỡ lúng túng hơn khi gặp luật chính tả viết hoa, các em ít sai chính tả về lỗi
viết hoa, các chữ viết hoa của các em dần dần được cải thiện, đúng mẫu quy
định, trông mềm mại và đẹp hơn trước.
6. Đánh giá bài viết của học sinh:
viết đúng các nét. Về sau, khi viết các chữ ghi vần, ghi tiếng, học sinh chỉ cần
ghép những chữ cái và lưu ý kĩ thuật nối nét, đặt dấu thanh. Vì vậy, ở mỗi bài
viết tôi đều đặt yêu cầu về thời gian để học sinh tập viết nhanh dần.
Không chỉ đánh giá chữ viết ở vở Em tập viết, tôi còn quan tâm nhận xét
chữ viết của học sinh ở tất cả các môn học khác, đặc biệt là Chính tả. Sự
nghiêm khắc về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học là cần thiết vì như
thế học sinh mới được củng cố đồng bộ và thường xuyên.
Tôi thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh, giúp phụ huynh hiểu rõ
về quan điểm đánh giá mới. Từ đó, phụ huynh cũng tham gia đánh giá kết quả
học tập của con em mình. Cũng nhờ thế, phụ huynh có sự quan tâm hơn đến
22
chữ viết của các em, bổ sung cho các em đầy đủ dụng cụ học tập và có những
biện pháp riêng để khích lệ học sinh cố gắng rèn chữ viết tiến bộ hơn.
Thông qua việc đánh giá, tôi nhận ra những cố gắng, nỗ lực của học sinh,
từ đó kịp thời động viên các em tiếp tục rèn luyện. Việc đánh giá nhận xét cụ
thể, rõ ràng, đồng bộ đã giúp học sinh điều chỉnh chữ viết rõ ràng hơn, đẹp
hơn.
7. Hướng dẫn học sinh trình bày bài viết trên vở ô li:
Tôi dùng vở ô li để giúp học sinh luyện viết vào các tiết buổi chiều. Giai
đoạn đầu năm, tôi phải viết mẫu đầu dòng cho học sinh để giúp các em xác
định dòng viết và nhìn mẫu viết theo. Dần dần, tôi để các em tự viết, chỉ viết
mẫu cho những em viết còn chậm hoặc còn sai.
Giai đoạn mới chuyển từ chữ cỡ vừa sang chữ cỡ nhỏ học sinh thường
gặp khó khăn do lẫn lộn về độ cao chữ. Lúc này, chữ viết của học sinh thường
mắc phải các lỗi sai như: nét này là chữ cỡ vừa nhưng nét kia là chữ cỡ nhỏ.
Vì vậy, tôi phải hướng dẫn tỉ mỉ cho học sinh trong những bài viết đầu tiên để
các em không bị lẫn lộn. Trước khi viết bài, tôi đều hỏi lại độ cao chữ cái, độ
được những đường thẳng trên đường kẻ đậm, tôi mới cho các em tự kẻ hàng,
trình bày trong vở theo quy định.
Những việc làm trên, giáo viên chịu khó theo dõi giúp đỡ học sinh một
thời gian. Khi các em đã quen, các em sẽ tự thực hiện, không còn sai nữa. Tập
vở học sinh nhờ thế mà sạch sẽ hơn, các em cũng có tình cảm yêu quý, trân
trọng bài viết của mình hơn.
8. Quan tâm động viên học sinh rèn chữ và chú ý đến các đối tượng
học sinh trong lớp:
Để động viên khích lệ học sinh ham thích rèn luyện chữ viết, tôi thường
tạo ra những phong trào thi đua trong lớp như: Ai viết đẹp nhất? Ai viết nhanh
24
nhất? Ai có cố gắng nhiều hơn? Cuối tuần, người được các bạn bình chọn
nhiều nhất sẽ được tuyên dương trước lớp.
Tôi không xem việc xếp loại vở sạch chữ đẹp hàng tháng là một hình
thức để cập nhật kết quả mà là một phong trào thi đua thường xuyên, kích
thích sự phấn đấu trong học sinh. Cuối mỗi tháng, sau khi xếp loại vở sạch
chữ đẹp, tôi luôn tuyên dương những em có vở và chữ được xếp loại A. Làm
như vậy, học sinh thích thú và hăng say hơn trong việc rèn luyện chữ viết.
Những em chưa được khen cũng cố gắng luyện viết để lần sau mình được
khen. Nhờ đó, chữ viết của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt.
Vào lúc rảnh rỗi, tôi kể cho học sinh nghe các câu chuyện về những tấm
gương luyện chữ như: Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Ngọc Ký,…
Qua đó, tôi giáo dục học sinh cố gắng hơn trong việc rèn luyện chữ viết rõ
ràng, sạch đẹp.
Trong lớp học, không phải khả năng học tập của học sinh nào cũng giống
nhau. Với đối tượng học sinh viết chưa đạt, viết chậm luôn luôn cần sự giúp
đỡ của giáo viên. Vì vậy, tôi thường xuyên quan tâm tới các em trong giờ học.