A. MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là một quy luật, là kết quả của nền kinh tế thị trường tự do gồm
có nhiều doanh nghiệp của nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại để tranh giành
cùng một lợi ích, mong mở rộng thị phần của mình trên một thị trường liên quan.
Cạnh tranh là động lực của cải tiến và phát triển. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
khác nhau mà có tồn tại sự độc quyền, cũng như một số công ty độc quyền trong
nền kinh tế thị trường, đó có thể là do doanh nghiệp được nhà nước bảo hộ về bí
quyết kinh doanh, bằng sáng chế, hay là do doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ
nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm nào đó, hay cũng có
thể là doanh nghiệp độc quyền là nhờ vào các quy định của pháp luật-doanh nghiệp
được chính phủ bảo hộ độc quyền. Điều này đặc biệt đúng với những mặt hàng
mang tính thiết yếu và nhạy cảm đối với nền kinh tế như xăng dầu. Xăng dầu là
nguồn năng lượng thiết yếu và rất quan trọng, là nguồn nhiên liệu tiên quyết cho
nhiều ngành sản xuất, ảnh hưởng đến sự phát triển to lớn của mỗi quốc gia.. Ở
nước ta hiện nay đang áp dụng việc chuyển từ nhà nước độc quyền kinh doanh
xăng dầu sang cho doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, điều đó sẽ tác động như
thế nào đến nhà sản xuất và người tiêu dùng? Và Việt Nam hiện nay có thực sự
đang kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường hay không? Bên cạnh đó, đang có
rất nhiều điều không minh bạch trong kinh doanh xăng dầu, thị trường xăng dầu
vẫn đang phải đối mặt với những “ gã khổng lồ” với khả năng chi phối thị trường.
Độc quyền phân phối xăng dầu cũng đã gây tác động tới việc tăng giá xăng dầu.
Nhận thấy đây là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực và có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống xã hội nên trong học phần kinh tế vi mô, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Vấn đề
độc quyền trong kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu viết tiểu
luận của mình. Trong quá trình làm bài, dù đã có nhiều cố gắng song không thể
1
tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô và các bạn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độc quyền và do đó độc quyền
thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độc quyền không thuần túy
đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội. Độc quyền được phân loại theo
nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc
quyền...
* Độc quyền bán và độc quyền mua:
Khái niệm độc quyền thường dùng để chỉ độc quyền bán nhưng tương tự như
độc quyền bán cũng có độc quyền mua - một trạng thái thị trường mà ở đó chỉ tồn
tại một người mua trong khi có nhiều người bán. Khác với độc quyền bán, trong
trường hợp độc quyền mua, doanh nghiệp độc quyền sẽ gây sức ép để làm giảm giá
mua sản phẩm từ những người bán.
Doanh nghiệp độc quyền bán có thể đồng thời là độc quyền mua và trong
trường hợp này lợi nhuận siêu ngạch của nó rất lớn vì bán sản phẩm với giá cao
hơn và mua yếu tố đầu vào thấp hơn mức cân bằng của thị trường cạnh tranh.
Doanh nghiệp độc quyền bán có điều kiện thuận lợi để trở thành độc quyền
mua vì nó sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi và do đó một
vài yếu tố đầu vào của nó có thể là duy nhất, kể cả trong trường hợp yếu tố đầu vào
không duy nhất thì doanh nghiệp độc quyền bán cũng có khả năng chi phối mạnh
giá các yếu tố đầu vào nếu nó có quy mô lớn.
1.3.Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền thường gây ra
Do tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất hàng hóa ở
mức sản lượng mà tại đó chi phí biên bằng với doanh thu biên thay vì sản xuất ở
mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm bằng chi phí biên như trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo (cân bằng cung cầu).
4
Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà giá bán sản phẩm không phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất ra, trong tình trạng độc
quyền giá bán sẽ giảm xuống khi doanh nghiệp độc quyền tăng sản lượng. Vì thế
Nam thì giá bán xăng dầu sẽ được áp dụng theo cơ chế thị trường nghĩa là thương
nhân kinh doanh xuất, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân sản xuất, chế biến
xăng dầu tự quyết định sau khi nộp các loại thuế, phí theo quy định của pháp luật
hiện hành.
Theo thống kê hiện nay thì có khoảng 11 doanh nghiệp Nhà nước được kinh
doanh nhập khẩu xăng dầu bán tại thị trường nội địa với khoảng 12.000 trạm bán lẻ
xăng dầu (cây xăng). Trong đó 6.000 cây xăng là của Petrolimex (khoảng hơn
1.800 cây xăng có 100% vốn của tổng công ty, hơn 4000 cây liên kết treo biển tổng
công ty và lấy xăng của tổng công ty).
Tại điều 11 Luật cạnh tranh hiện hành đã định nghĩa rõ: “doanh nghiệp được
coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường
liên quan…”; tại Điều 9 cũng quy định “Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
6
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, và 5 Điều 8 của Luật này khi các bên tham gia
thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.”
Với tỷ lệ thị phần lên tới 60% của Petrolimex hiện nay, rõ ràng là một con số
đảm bảo an toàn cho vị thế của Petrolimex trên thị trường xăng dầu trong nước.
Hơn nữa nếu đơn vị chiếm 60% thị phần cung cấp nguồn nhiên liệu này đã
kiềm giá thì cũng chẳng có đơn vị nào tăng giá. Bởi lẽ, nếu giá thế giới mà tăng
cao, doanh nghiệp khác bán bằng giá của Petrolimex cũng đã là khó khăn.
Có thể nói, xăng dầu là mặt hàng chiến lược, khá nhạy cảm và chủ trương
tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp để thị trường xăng dầu vận hành theo cơ chế
thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên ngay lập tức nhận được sự đồng tình,
ủng hộ của nhiều người. Tuy nhiên, một số ý kiến khác vẫn băn khoăn về việc liệu
quyền lợi của người tiêu dùng có được đảm bảo khi doanh nghiệp được tự quyết
định giá theo ý mình, cũng như cần làm gì để tránh tình trạng chuyển từ độc quyền
Nhà nước sang độc quyền doanh nghiệp.
Nguyên nhân chính của những tranh cãi trên là do Petrolimex đang chiếm
này, có thể thấy ngay là có những chi phí cơ quan điều tiết có thể quan sát và tính
toán được một cách tương đối dễ dàng (như giá xăng dầu thế giới, các loại thuế và
phí).
Tuy nhiên cũng có những chi phí rất khó quan sát và xác minh tính hợp lý,
chẳng hạn như chi phí đầu tư, quỹ lương, khấu hao... Rõ ràng là cơ quan điều tiết
không muốn bù đắp cho những chi phí không hợp lý do đầu tư kém hiệu quả, do
quỹ lương quá cao vì dư thừa lao động hay tiền thưởng quá đáng. Để giải quyết
khó khăn này, cơ quan điều tiết cần yêu cầu các công ty kinh doanh xăng dầu công
8
khai cơ cấu chi phí của mình. Bên cạnh đó, cơ quan điều tiết cũng có thể so sánh
cơ cấu chi phí này với cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp cạnh tranh trong và
ngoài nước. Trong trường hợp của Việt Nam, vì Petrolimex có vai trò chi phối thị
trường nên để tiết kiệm chi phí, cơ quan điều tiết trước tiên chỉ cần thực hiện hai
nghiệp vụ trên với doanh nghiệp này.
Khó khăn thứ hai của việc điều tiết giá là làm thế nào để xác định mức lợi
nhuận hợp lý vì các doanh nghiệp xăng dầu có thể lập luận rằng ngành kinh doanh
này tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phải được bù đắp bằng một mức lợi nhuận trên trung
bình. Một lần nữa, việc xác định mức lợi nhuận trung bình của ngành kinh doanh,
đồng thời so sánh với các công ty cạnh tranh trong và ngoài nước có thể giúp cơ
quan điều tiết khắc phục phần nào khó khăn này.
Bên cạnh hai khó khăn trên, cơ quan điều tiết cũng phải quan tâm đến một
số vấn đề kỹ thuật quan trọng như xác định giá cơ sở và khi nào thay đổi giá cơ sở.
Như đã thảo luận ở trên, trong cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp xăng dầu có
một số khoản mục có tính chủ quan, không quan sát được, vì vậy không nên đưa
các khoản mục chi phí này vào trong giá cơ sở. Tốt nhất là dùng ngay giá xăng dầu
thế giới - là mức giá hoàn toàn khách quan và minh bạch làm giá cơ sở. Về tần suất
thay đổi giá cơ sở, nếu Nhà nước muốn bình ổn giá thì chỉ nên điều chỉnh giá hay
thuế suất khi giá cơ sở biến động đủ lớn (trên 5% chẳng hạn).
dầu tương đối không co giãn so với giá - nghĩa là giá tăng nhưng người sử dụng
phương tiện vận tải cơ giới vẫn phải sử dụng do không có nhiên liệu khác thay thế,
do vậy khi giá xăng dầu tăng thì người tiêu dùng có ít thu nhập hơn dùng để chi
tiêu cho các hàng hóa khác).
10
Thứ hai, sự gia tăng này tác động đến nền kinh tế theo các cách thức mà rất
khó để các nhà hoạch định chính sách có thể quản lý được: một mặt, sự gia tăng
giá xăng dầu tạo áp lực gây ra lạm phát thông qua hiện tượng giá cánh kéo. Do
xăng dầu là yếu tố đầu vào của hầu như tất cả các ngành kinh tế khác, nên giá đầu
vào tăng, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, sẽ kéo theo giá đầu ra
sản phẩm tăng lên dẫn đến chỉ số giá cả nói chung gia tăng, ảnh hưởng đến sức
mua của xã hội và gây ra áp lực lạm phát. Chi phí sản xuất tăng sẽ tác động đến
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, còn không ít những chiêu thức mà đại lý sử dụng móc túi người
tiêu dùng trong lĩnh vực xăng dầu như; gian lận trong đo lường và kinh doanh sản
phẩm xăng dầu. Đây là thực trạng mà nhiều năm qua người tiêu dùng Việt Nam đã
phải gánh chịu. Năm 2008, giá xăng trong nước gặp nhiều biến động do tình hình
thế giới càng khiến nhiều gian thương gia tăng hành vi “ móc túi ” khách hàng
bằng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn.
Theo một số thống kê chưa chính thức, những kiểu đong thiếu xăng, gắn
chíp điện tử, pha xăng dỏm… đã khiến người tiêu dùng thiệt hại với giá trị ước
tính lên đến vài trăm tỷ đồng. Cũng trong năm nay, các cơ quan thông tấn báo chí
đã đồng loạt lên tiếng phê phán các hành vi gian lận trong đo lường xăng dầu, đồng
thời Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam kiến nghị truy tìm và xử lý hình sự đối
với những tổ chức, cá nhân buôn bán, cung cấp những thiết bị, phụ kiện tiếp tay
cho việc thực hiện gian lận thương mại.
11
vận tải, duy trì hệ thống dự trữ và phân phối xăng, lợi nhuận định mức và các nghĩa
vụ tài chính của kinh doanh xăng dầu…), để các cơ quan chức năng và giới tiêu
dùng có cơ sở khoa học minh bạch cho việc tính và kiểm tra “giá chuẩn” trên thị
trường kinh doanh xăng dầu trong nước.
- Các cơ quan chức năng nên thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp
hành chính sách pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu đối với
các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự công bằng cho doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
- Pháp quy hoá các quy định và yêu cầu quản lý nhà nước có liên quan đến
chất lượng, định giá và quản lý giá xăng dầu, bảo đảm cạnh tranh tự do và minh
bạch về giá cả, cũng như tạo các căn cứ ổn định và thuận lợi cho hình thành và dự
báo giá xăng dầu theo sát các động thái thị trường và giảm thiểu các “thắc mắc”,
đoán mò và tin đồn thất thiệt trên thị trường này.
13
C. KẾT LUẬN
Có thể nói độc quyền trong việc kinh doanh xăng dầu là một cấu trúc thị
trường không tối ưu đối với xã hội, sự xuất hiện và tồn tại của độc quyền làm cho
thị trường vận hành kém hiệu quả, nguồi tài nguyên xã hội không được phân bổ tối
ưu, làm cho xã hội bị thiệt hại. Vì vậy, việc sử dụng nguồn lực phát triển kinh tế
không đạt hiệu quả, các lợi ích đạt được phần lớn thuộc về nhà độc quyền.Các
công ty kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu trong nước được hình thành và phát
triển là do lịch sử để lại. Vì các công ty này vừa thực hiện chức năng kinh doanh
của mình và vừa đảm bảo dự trữ năng lượng cho quốc gia, thực hiện nhiệm vụ
chính trị nhà nước giao. Mặt khắc, các công ty này được thành lập theo quyết định
hành chánh, chứ không thông qua hình thức cạnh tranh độc quyền. Mặt dù độc
quyền của ngành xăng dầu đã có một số tác dụng tích cực nhất định đối với phát
triển đất nước như: tạo ra lợi thế về qui mô sản xuất lớn, về hiệu quả đầu tư tập