Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong vài thập niên trở lại đây, dịch vụ logistics đã phát triển nhanh
chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước trên thế giới, điển
hình như: Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Mỹ... Dịch vụ logistics là ngành
dịch vụ xuyên suốt quá trình sản xuất, phân phối lưu thông hàng hoá, dịch vụ
trong nền kinh tế. Đây là một công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương
trường. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự
gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt
Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ và là một trong những ngành có tiềm
năng phát triển rất lớn. Gia nhập WTO, bước vào sân chơi toàn cầu, các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics sẽ có cơ hội phát triển nhanh. Tuy
nhiên cũng sẽ có những khó khăn, thách thức bởi hiện nay quy mô của phần
lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu
nguồn nhân lực cũng hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương
trường...đồng thời theo cam kết gia nhập WTO, các công ty 100% vốn nước
ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam.Vì vậy, trong thời gian tới trong
ngành dịch vụ logistics ở nước ta sẽ hứa hẹn sự cạnh tranh rất gay gắt.
Đi sâu nghiên cứu vấn đề này, em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp
phát triển ngành logistics ở Việt Nam”.
Nội dung của bài tiểu luận chủ yếu gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lí luận cơ bản về các dịch vụ logistics.
Chương II: Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Chương III: Giải pháp phát triển các dịch vụ logistics ở Việt Nam.
Trong bài viết còn nhiều nội dung chưa được hoàn thiện, em mong rằng
sẽ nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung cho bài tiểu luận được hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách
hiệu quả để hàng hóa được sản xuất đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng
2
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn bộ hệ thống đồng thời
đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ".
Theo luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
14/6/2005 và Nghị định 140/2007NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết
luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics có đưa ra khái
niệm: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại. Theo đó, thương nhân tổ
chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,
lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách
hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên
quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
II.
Vai trò của các dịch vụ logictis:
Dịch vụ logistics đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình sản
xuất kinh doanh, lưu thông, phân phối của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong
sản xuất kinh doanh nhập khẩu.
Logistics giữ vai trò cầu nối,là động lực thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu.Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, dịch
vụ logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở những điểm
sau:
- Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu
chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện,...
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ logistics là tập hợp
những điều kiện, những yếu tố bên ngoài và bên trong có ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến việc cung ứng các dịch vụ logistics của các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ logistics. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics chính là các nhân tố sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của các dịch vụ logistics.
Có thể phân các nhân tố ảnh hưởng đến các dịch vụ logistics thành
hai nhóm nhân tố: nhóm các nhân tố bên ngoài và nhóm các nhân tố bên trong
thuộc các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics.
Nhóm các nhân tố bên ngoài.
1.
1.1. Yếu tố chính trị, pháp luật.
Trong kinh doanh hiện đai, các yếu tố chính trị, pháp luật ngày càng
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước hiện nay là nền kinh tế phổ biến trên
thế giới. Chính trị có ổn định thì sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong
4
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
hoạt động kinh doanh của mình. Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường chính
trị, pháp luật là:
- Sự ổn định về chính trị và đường lối ngoại giao.
- Sự cân bằng của các chính sách của Nhà nước.
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội.
- Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật...
1.2. Yếu tố kinh tế.
biệt quan tâm. Bởi các yếu tố như nắng, mưa, hạn hán, lụt, dịch bệnh...ảnh
hưởng trực tiếp đến việc cung ứng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ vận tải đường
biển vì nếu điều kiện không thuận thì sẽ không thực hiện được dịch vụ này,
thậm chí còn gây thiệt hại lớn bởi rủi ro trong vận tải biển là rất cao. Bên cạnh
đó cũng phải kể đến ảnh hưởng của sự khan hiếm của các nguyên,nhiên vật
liệu, sự gia tăng của chi phí năng lượng...
1.5. Sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics.
Cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics càng gay gắt thì loại hình dịch
vụ logistics càng phong phú, chất lượng dịch vụ logistics càng được nâng cao.
1.6. Yếu tố khách hàng
Khách hàng chiếm vị trí trung tâm trong mọi hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp. Khách hàng của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
logistics chủ yếu là các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này có nhu cầu sử
dụng dịch vụ logistics lớn thì ngành dịch vụ logistics mới phát triển được.
2.Nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
2.1. Tiềm lực doanh nghiệp.
Tiềm lực doanh nghiệp thể hiên ở nhiều mặt: qui mô của doanh
nghiệp; cơ sở vật chất kĩ thuật; cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo; tài năng,
trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo; trình độ
tay nghề, sự thành thạo kỹ thuật, nghiệp vụ của lao động; tiềm lực tài chính,
khả năng huy động vốn...
2.2. Hệ thống thông tin
Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu thập thông tin về các yếu tố
thuộc môi trường vĩ mô, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn hàng...Đối với
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì yếu tố thông tin là quan
6
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
trọng.Thu thập được thông tin thiết thực, kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt
dụng ngày càng nhiều vào sản xuất kinh doanh và mang lại những kết quả cao
trong kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới tiêu biểu như: Nhật Bản,
Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch...
Những kiến thức về logistics và các hoạt động logistics mới thâm nhập
vào Việt Nam trong những năm gần đây, trước hết và chủ yếu thông qua hoạt
động của các công ty vận tải giao nhận nước ngoài và một số người được đào
tạo tại nước ngoài.
Ban đầu, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận vận tải
là chủ yếu. Các doanh nghiệp này đều là các doanh nghiệp Nhà nước. Số
lượng các doanh nghiệp trong lĩnh vực này là rất ít. Cho đến Đại hội Đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đề ra nghị quyết về cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước, một loạt các doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện chủ
trương cổ phần hóa và có thêm rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân hoạt động
trong lĩnh vực này ra đời. Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ
giao nhận vận tải ngày càng nhiều ở mọi thành phần kinh tế. Vài năm trở lại
đây, nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải do ảnh hưởng
xu thế phát triển các công ty dịch vụ logistics trên thế giới đã và đang xâm
nhập vào thị trường Việt Nam đã mở rộng thêm kinh doanh các dịch vụ
logistics đáp ứng nhu cầu cung ứng các dịch vụ logistics đồng thời cũng và
đổi tên thành công ty kinh doanh dịch vụ logistics.Năm 2005, cả nước có
khoảng 500 doanh nghiệp logistics. Năm 2006, cả nước có khoảng 700-800
8
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Và đến năm 2007, cả nước có gần
1000 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này. Đến nay, các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam đã và đang cung ứng các dịch vụ
logistics cho khách hàng nhưng chưa hình thành một chuỗi các dịch vụ
logistics. Các dịch vụ cung ứng còn nhỏ lẻ, gián đoạn. Thực tế, ngành dịch vụ
phân thành 3 nhóm:
+ Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:
Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp
container;
9
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh
doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải
quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá;
Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và
quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả
chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoá
tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó; hoạt động
Dịch vụ bưu chính;
Dịch vụ thương mại buôn bán;
Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng
lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hoá, phân phối lại và giao hàng.
Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
- Theo phạm vi hoạt động
III.
Dịch vụ logistics nội địa;
Dịch vụ logistics quốc tế.
Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay.
Do nhận biết dịch vụ logistics là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có
lực...Chỉ có một số công ty lớn như: Vietrans, Viconship, Vinalines, Vinatrans,
Vinafco, Vinashin, hãng hàng không Việt Nam Airlines,...nhưng cũng chưa có
năng lực đủ mạnh để tham gia hoạt động logistics toàn cầu.
11
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
Về tổ chức bộ máy, do vốn và nhân lực ít nên việc tổ chức bộ máy của
các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp
trong dịch vụ logistics không có. Hầu hết các doanh nghiệp logistics Việt
Nam chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài.
Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một
số công ty lớn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp.
Về các lĩnh vực dịch vụ logistics được thực hiện ở các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam có thể thấy rằng: Ở Việt Nam dịch vụ
logistics chưa được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp
đầy đủ như đúng bản chất của nó( một chuỗi các dịch vụ ) mà chỉ mới cung
cấp một số dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics mà thôi. Các dịch vụ logistics
chủ yếu mà các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam cung
ứng cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hoá, giao nhận hàng hoá,
bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho...còn các dịch vụ khác
trong chuỗi dịch vụ logistics mặc dù cũng có một số doanh nghiệp cung ứng
nhưng số lượng không nhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển.
Trong các dịch vụ logistics chủ yếu được cung ứng bởi các doanh
nghiệp logistics của Việt Nam thì dịch vụ giao nhận vận tải và kinh doanh
kho bãi là phát triển nhất.
- Dịch vụ vận tải giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu.
Ở Việt Nam hiện nay, vận tải giao nhận chủ yếu phát triển trên lĩnh vực
đường biển và đường hàng không, trong đó vận tải đường biển chiếm ưu thế
- Dịch vụ vận tải giao nhận nội địa và phân phối hàng.
Vận tải giao nhận nội địa ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu là đường
sắt và đường ôtô vì đường sắt và đường ôtô có cơ sở hạ tầng, hệ thống bến bãi
tương đối hoàn chỉnh. Những năm qua, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được
cải thiện cho nên vận tải giao nhận hàng hoá bằng container nội địa cũng
được phát triển. Ngoài ôtô, ngành đường sắt cũng tổ chức chuyên chở hàng
hoá học tuyến Bắc Nam tạo sự liên kết chặt chẽ các địa phương, các vùng, các
miền trong lưu thông hàng hoá và tích cực tham gia chuyên chở hàng hoá
xuất nhập khẩu. Từ chỗ chưa có toa xe chuyên dụng chở container đến nay xe
13
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
chuyên dụng của đường sắt đã đáp ứng yêu cầu vận chuyển container của
khách hàng trên toàn tuyến.
Về phân phối hàng hoá, các doanh nghiệp lớn có thế mạnh trong việc
cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng hoá có khối lượng lớn, hàng theo kế
hoạch, hàng siêu trường, siêu trọng thì các doanh nghiệp nhỏ lại có lợi thế
trong cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng thông thường như hàng bách hoá,
hàng rời, hàng container có khối lượng nhỏ và đặc biệt là thầu việc phân phối
các sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ trong nội địa cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc vận chuyển máy móc, thiết bị, hàng công
trình ra vào các cảng Việt Nam theo yêu cầu của khách hàng.
- Dịch vụ phân loại và đóng gói bao bì hàng hóa
Khi các doanh nghiệp có nhu cầu thuê dịch vụ phân loại và đóng gói
bao bì thì doanh nghiệp logistics sẽ triển khai thực hiện sao cho tiết kiệm chi
phí cho doanh nghiệp khách hàng. Đối với hàng phi mậu dịch, hàng hội chợ,
triển lãm, hàng có khối lượng nhỏ, nguồn hàng không thường xuyên, hàng
của các văn phòng đại diện hay các cơ quan ngoại giao, sứ quán...các doanh
của các chuyên gia trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam thì ngành dịch vụ
logistics Việt Nam mới giới hạn ở thị trường nội địa, các doanh nghiệp cung
ứng dịch vụ logistics Việt Nam hầu như mới chỉ giới hạn đáp ứng nhu cầu
logistics cho các doanh nghiệp khách hàng trong nước chứ hầu như chưa có
khả năng đáp ứng nhu cầu logistics thế giới. Một số doanh nghiệp logistics
Việt Nam có cung ứng dịch vụ logistics ra thị trường thế giới nhưng đó cũng
chỉ là làm thuê cho các đại lý logistics nước ngoài chứ chưa thực sự tự mình
cung ứng, nếu là tự mình cung ứng thì cũng chỉ sang thị trường Lào,
Campuchia, Trung Quốc chứ chưa vươn được xa hơn.
Mặc dù giá cả dịch vụ logistics của Việt Nam tương đối rẻ hơn so với
một số nước khác, nhưng chất lượng chưa cao và phát triển chưa bền vững.
Cạnh tranh về giá cả của những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch
vụ logistics không lành mạnh. Có trường hợp cùng một khách hàng nhưng
mỗi công ty về logistics lại chào với những mức giá khác nhau. Hoạt động
của các doanh nghiệp nhỏ khá manh mún, chụp giựt và hạ giá dịch vụ để lôi
15
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
kéo khách hàng, trong khi chất lượng dịch vụ không rõ ràng, tạo nên tiền lệ
xấu trong hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics.
Theo đánh giá của VIFFAS, trình độ công nghệ logistics của Việt Nam
so với thế giới còn nhiều yếu kém: đa số các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ logistics Việt Nam mới chỉ thực hiện việc mua bán cước tàu biển, cước
máy bay, đại lý khai quan và dịch vụ vận tải, dịch vụ kho bãi. Trong vận tải đa
phương thức vẫn chưa thể kết hợp một cách hiệu quả các phương tiện, chưa tổ
chức tốt các điểm chuyển tải; Trình độ cơ giới hoá trong khâu bốc xếp còn
yếu kém, công tác lưu kho còn lạc hậu so với yêu cầu phát triển logistics toàn
cầu, thủ tục giấy tờ còn rườm rà, chưa áp dụng được thương mại điện tử một
Mặc dù tiềm lực của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn yếu
nhưng thời gian qua, các doanh nghiệp này lại thiếu tính liên kết, ngược lại
còn cạnh tranh đấu đá nhau không lành mạnh, giảm giá cước vận tải để lôi
kéo, thu hút khách hàng. Mới chỉ xuất hiện một vài mô hình liên kết như:
Liên kết giữa Eximbank, Bảo Minh và Sotrans; Liên kết giữa Sotrans và
Sowatco; Liên kết giữa Vinalines và Bảo Việt; đặc biệt gần đây nhất vào
tháng 4/2008 là liên kết giữa Vinalines và Vietinbank;…
Hiện tại ở Việt Nam đã có khoảng 25 công ty logistics nước ngoài tham
gia cung ứng dịch vụ logistics. Đây đều là những doanh nghiệp hùng mạnh
với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ
với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch
vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức
quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường
trong nước. Một số doanh nghiệp điển hình như: NYK Logistics, LOGITEM,
APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics,...Các doanh nghiệp logistics Việt Nam
thay vì cạnh tranh để giành phần thắng trong "cuộc chiến" phân chia thị phần
với các doanh nghiệp logistics nước ngoài trên thị trường nội địa thì lại chủ
yếu cạnh tranh trong nội bộ, tự mình làm yếu mình.
1.
Ưu – nhược điểm:
Những điểm mạnh
-
Số lượng các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh dịch vụ logistics của Việt
IV.
Nam là khá lớn và thuộc mọi thành phần kinh tế. Một khi có sự nhận thức
Tầm phủ của các công ty kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam chỉ trong
phạm vi nội địa hoặc một vài quốc gia trong khu vực. Trong khi tầm phủ của
các công ty nước ngoài chẳng hạn APL là gần 100 quốc gia, Maersk là 60
quốc gia...
•
Phần lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam chỉ tập trung vào khai thác
những mảng nhỏ trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
•
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, tại
các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, qui mô doanh nghiệp còn nhỏ,
điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật chưa đáp ứng nhu cầu, đồng vốn và nhân lực
ít ỏi, bộ máy doanh nghiệp còn quá đơn giản, tính chuyên sâu chưa có...
•
Nguồn nhân lực vừa thiếu vừa yếu, cả nước chưa có trường nào chuyên đào
tạo về logistics. Kiến thức mà nhân viên có được là học từ nước ngoài, một số
18
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
là từ các trường đại học chuyên ngành trong nước với kiến thức ít ỏi và thiếu
cập nhật.
•
Hạ tầng thông tin còn yếu kém. Mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức trong
các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về logistics, các chuyên viên thực tế về
Logistics ( trong và ngoài nước), phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ: Công
thương, Tài chính,Giao thông vận tải,… Tổng cục hải quan, các địa phương,
các doanh nghiệp...
Trên cơ sở các nghiên cứu và khuyến nghị của các nhóm sẽ đề nghị
Chính phủ tháo gỡ, giải quyết những vấn đề vướng mắc để thành lập các
Trung tâm Logistics trên cả nước sao cho hiệu quả. Đồng thời cũng dựa trên
các kết quả nghiên cứu đó mà công bố và phổ biến kiến thức rộng rãi để các
doanh nghiệp và những người quan tâm hiểu và áp dụng loại hình dịch vụ
này.
20
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
2. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ logistics và ban hành các
chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hoạt động logistics.
Ngoài việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ logistics, Nhà nước
cần ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ logistics hoạt động có hiệu quả. Nội dung các chính sách theo các hướng
sau:
•
Khuyến khích việc đầu tư vốn phát triển kết cấu hạ tầng logistics và các
phương tiện vận chuyển, tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho các dịch vụ logistics
phát triển.
•
Có chính sách khuyến khích về thuế đối với các dịch vụ logistics và người
kinh doanh dịch vụ logistics.
ngành dịch vụ logistics.
Để có thể phát triển tốt dịch vụ logistics thì sự hỗ trợ về chính sách và
pháp luật có vai trò hết sức quan trọng.
+ Các văn bản pháp luật cho hoạt động logistics.
Ở Việt Nam hoạt động của các dịch vụ logistics đã được điều chỉnh bởi
luật Thương mại Việt Nam năm 2005 với 8 điều ( từ điều 233 đến điều 240)
quy định về dịch vụ logistics. Cần tiếp tục triển khai chi tiết để thực hiện, ra
các văn bản hướng dẫn thực hiện các điều khoản trong luật đã quy định. Giải
thích và cụ thể hoá các nội dung: khái niệm dịch vụ logistics, người kinh
doanh dịch vụ logistics, hợp đồng dịch vụ logistics, thời hạn trách nhiệm , cơ
sở trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ
logistics…để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ logistics.
+ Các văn bản pháp luật cho những lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển dịch
vụ logistics như: luật về giao thông vận tải, thương mại điện tử, thủ tục hải
quan…
*Tăng cường thể chế quản lý dịch vụ logistics.
Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy việc
tăng cường quản lý dịch vụ logistics của nhà nước là hết sức cần thiết, góp
phần tích cực cho dịch vụ logistics phát triển. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công
thương… phối hợp thành lập uỷ ban quốc gia về dịch vụ logistics hoặc giao
nhiệm vụ cho một vụ hay cục quản lý về dịch vụ logistics , nói khác đi là phải
có một cơ quan quản lý dịch vụ logistics. Cơ quan quản lý sẽ chịu trách
nhiệm:
22
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
•
khai các biện pháp sau:
•
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho dịch vụ logistics. Chiến
lược này nằm trong chiến lược phát triển ngành dịch vụ logistics nói chung.
•
Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương… phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào
tạo nghiên cứu đưa dịch vụ logistics vào chương trình giảng dạy tại các khoa
quản trị kinh doanh của các trường đại học, hoặc thành lập các trường đào tạo
nghề kinh doanh dịch vụ logistics.
•
Nội dung đào tạo cần tập trung vào nội dung logistics, tổ chức vận hành chuỗi
dịch vụ logistics và quản lý sự vận động của chuỗi logistics cũng như các quy
định pháp lý lien quan tới hoạt động logistics.
23
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
•
Hình thức đào tạo có thể áp dụng nhiều hình thức như đào tạo trong nước
hoặc hợp tác với nước ngoài trong đào tạo, tổ chức các hội thảo trao đổi kinh
nghiệm và học tập kinh nghiệm của các nước ngoài hay khảo sát thực tế
Tư vấn cho các doanh nghiệp về luật pháp quốc tế, thông tin thị trường, mở
rộng khách hàng và bảo vệ lợi ích của hội viên khi gặp rào cản hay tranh chấp
thương mại quốc tế.
•
Xử lí tốt việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các hội viên, điều hoà quyền
lợi giữa các hội viên, trên cơ sở đó đề xuất với chính phủ thoả thuận ban hành
giá cả dịch vụ để tạo sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
24
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics ở Việt Nam
•
Tham gia ý kiến vào các văn bản pháp luật liên quan tới hoạt động của các
doanh nghiệp từ khi soạn thảo để đảm bảo tính khả thi của pháp luật.
•
Tư vấn cho các cơ quan nhà nước về biện pháp và chính sách quản lý và phát
triển dịch vụ logistics.
7. Giải pháp đối với người cung ứng dịch vụ logistics.
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phát triển thì các dịch
vụ logistics mới phát triển được. Để phát triển dịch vụ logistics thì không chỉ
có các chính sách và hệ thống pháp luật từ phía Nhà nước mà bản thân các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này cũng phải có các giải pháp để phát
triển. Các giải pháp của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics cần tập
trung vào một số vấn đề sau: