TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ
Đề tài:
VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN
TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT
NAM
Giảng viên Học viên thực hiện
TS. Lê Khương Ninh Nguyễn Ngọc Hiền
MSHV: 130908
Lớp Cao học KTNN.K16
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Tháng 10 năm 2009
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 2
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề:
Xăng dầu là nguồn năng lượng thiết yếu và rất quan trọng đối với mỗi quốc
gia. Tuy nhiên, đây là nguồn năng lượng không thể tái tạo. Vì vậy, chúng ta phải sử
dụng nguồn năng lượng này như thế nào để mang lại lợi nhuận tối đa trong kinh
doanh? Việc chuyển từ Nhà nước độc quyền kinh doanh xăng dầu sang cho doanh
nghiệp sẽ có tác động như thế nào đến nhà sản xuất và người tiêu dùng? Vấn đề
điều chỉnh giá do doanh nghiệp quyết định có sự quản lý của Nhà nước có vận hành
theo đúng cơ chế không? Bên cạnh đó, kinh doanh như thế nào là đảm bảo hài hoà
các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng? Để được hiểu rõ hơn
về những vấn đề đặt ra ở trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề độc quyền trong
kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam” làm đề tài tiểu luận cho môn học kinh tế vi
mô.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu vấn đề độc quyền trong kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam,
là đường cầu đối với sản phẩm của nhà độc quyền.
Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi hội đủ hai điều kiện sau:
- Đối thủ cạnh trạnh không thể gia nhập ngành: Do doanh nghiệp độc quyền
hoàn toàn không có đối thủ cạnh trạnh nên có thể ấn định sản lượng hay giá bán tùy
ý mà không lo ngại thu hút những doanh nghiệp khác gia nhập ngành vì sự gia
nhập ngành của các doanh nghiệp mới sẽ khó khăn vì các rào cản, chi phí sản xuất.
- Không có những sản phẩm thay thế tương tự. Nếu không có sản phẩm thay
thế thì nhà độc quyền không lo ngại về tác động của chính sách giá của mình đến
phản ứng của các doanh nghiệp khác.
2.2. Xu hướng dẫn đến độc quyền
2.2.1. Chi phí sản xuất
Nhà độc quyền xuất hiện trong những trường hợp ngành có tính kinh tế nhờ
quy mô. Đối với những ngành này, chi phí trung bình dài hạn (LAC) giảm dần khi
sản lượng tăng lên. Do đó, những doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những
doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp hơn và có thể loại bỏ các doanh nghiệp khác
bằng cách giảm giá bán sản phẩm mà vẫn có thể thu được lợi nhuận.
Một khi vị thế độc quyền được thiết lập, sự gia nhập ngành của các doanh
nghiệp khác sẽ rất khó khăn; vì những doanh nghiệp mới sản xuất ở mức sản lượng
thấp, như vậy phải chịu chi phí cao. Những doanh nghiệp này sẽ dễ dàng bị nhà độc
quyền loại khỏi thị trường bằng cách giảm giá bán sản phẩm. Sự độc quyền hình
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 5
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
thành từ con đường cạnh tranh bằng chi phí như vậy được gọi là độc quyền tự
nhiên.
2.2.2. Độc quyền từ nguyên nhân pháp lý
Độc quyền có thể được tạo ra từ nguyên nhân pháp lý, Pháp luật có thể tạo ra
độc quyền thông qua hai hình thức phổ biến sau:
- Bảo hộ bằng phát minh, sáng chế.
- Bảo hộ những ngành quan trọng đối với an ninh quốc gia, bằng Pháp luật
và chính sách về giá.
= f(P)
- Ý nghĩa: Số phần trăm thay đổi của cầu do 1% thay đổi của giá.
+ Nếu e
QD,P
< -1 là cầu co giãn nhiều, vì số phần trăm thay đổi của cầu lớn
hơn số phần trăm thay đổi của giá.
+ Nếu e
QD,P
= - 1 là cầu co giãn đơn vị. Khi đó, số phần trăm thay đổi của
lượng cầu bằng đúng với tỷ lệ thay đổi của giá.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 6
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
+ Nếu e
QD,P
> - 1 là số cầu co giãn ít. Khi đó, số phần trăm thay đổi của lượng
cầu nhỏ hơn số phần trăm thay đổi của tăng giá.
Hình 1: Hệ số co giãn điểm
Các yếu tố ảnh hưởng đến e
- Khả năng thay thế của hàng hóa, dịch vụ: độc quyền;
- Mức độ thiết yếu của hàng hóa, dịch vụ: thiết yếu và xa xỉ;
- Mức chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ trong tổng chi tiêu;
- Hệ số co giãn điểm;
- Độ dài thời gian.
2.4. Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của nhà độc quyền
Đường cầu của một công ty độc quyền là đường cầu thị trường (do công ty là
duy nhất trên thị trường). Do đường cầu thị trường là đường cong có độ dốc xuống
dưới, doanh thu cận biên sẽ ít hơn giá của hàng hoá. Như đã lưu ý trước đó, doanh
thu cận biên là: dương khi cầu co giãn, bằng 0 khi cầu là đơn vị co giãn, và âm khi
cầu không co giãn.
Như chúng ta đã biết, bất kỳ công ty nào tối đa hoá lợi nhuận bằng việc sản
Hình 2: Nguyên tắc đối đa hóa lợi nhuận của nhà độc quyền
Tất nhiên, một công ty độc quyền cũng có thể chịu lỗ. Biểu đồ dưới đây
minh hoạ cho khả năng này. Trong biểu đồ này, mức lỗ mà công ty chịu chính là
diện tích hình chữ nhật
p
0
BAAC
0
. Mặc dù do giá lớn hơn AVC, công ty tiếp tục
hoạt động trong ngắn hạn, nhưng sẽ rời bỏ thị trường về dài hạn. Lưu ý là sở hữu
độc quyền không đảm bảo việc duy trì lợi nhuận kinh tế. Hoàn toàn có khả năng ít
người muốn có độc quyền trong việc sản xuất một hàng hoá nào đó…
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 8
P
MC AC
p
0
B
AC
0
A
D
MR
q
0
Q
P MC
sản phẩm. Điều kiện cần thiết cho việc phân biệt giá cả gồm:
Công ty không thể là người làm giá,
Công ty phải có thể phân loại khách hàng theo độ co giãn của cầu của họ,
Việc bán lại sản phẩm phải là việc không khả thi.
Mức giá đó gọi là giá sãn lòng trả hay giá đặt trước của người tiêu dùng.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 9
P Cầu ít co giản
p
0
MC
MR D
Q
P Cầu co giản nhiều
p
0
MC
MR D
MC
MR D
Q
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Chương 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN
TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng vấn đề kinh doanh xăng dầu:
Xăng dầu là một trong những nguồn nhiên liệu thiết yếu trong đời sống
thường nhật của con người; nó phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng; là yếu tố đầu vào
khá quan trọng của các quá trình sản xuất. Do đó việc quy định điều kiện kinh
doanh mặt hàng này là một vấn đề hết sức nhạy cảm đối với mỗi người dân chúng
ta. Chính vì vậy mà chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản nhằm điều chỉnh
những hoạt động trong lĩnh vực này.
Theo Nghị định số 55/2007/NĐ-CP ngày 06/04/2007 của Chính phủ quy
định về kinh doanh xăng dầu và điều kiện kinh doanh xăng dầu tại thị trường Việt
Nam thì giá bán xăng dầu sẽ được áp dụng theo cơ chế thị trường nghĩa là thương
nhân kinh doanh xuất, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân sản xuất, chế biến
xăng dầu tự quyết định sau khi nộp các loại thuế, phí theo quy định của pháp luật
hiện hành.
Theo thống kê hiện nay thì có khoảng 11 doanh nghiệp Nhà nước được kinh
doanh nhập khẩu xăng dầu bán tại thị trường nội địa với khoảng 12.000 trạm bán lẻ
xăng dầu (cây xăng). Trong đó 6.000 cây xăng là của Petrolimex (khoảng hơn
Khi kỷ luật của cạnh tranh không phát huy tác dụng thì Nhà nước có cơ sở để
can thiệp thông qua các biện pháp điều tiết nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và bảo
vệ phúc lợi của người tiêu dùng. Cụ thể, Nhà nước có thể điều tiết về mức giá, về
chất lượng dịch vụ và về quy định gia nhập - rút lui khỏi hoạt động kinh doanh
xăng dầu.
Bản chất của việc điều tiết mức giá là điều chỉnh mối quan hệ lợi ích giữa
Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Có lẽ Nhà nước không muốn quy định
một mức giá quá cao vì như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của khu vực hộ
gia đình và kinh doanh (và tất nhiên là cả CPI nữa). Nhà nước cũng không thể quy
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 12
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
định một mức giá quá thấp vì điều này tuy làm lợi cho người tiêu dùng nhưng lại
gây khó khăn cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và ảnh hưởng tới ngân sách
Nhà nước.
Một quy tắc phổ biến của điều tiết giá là quy định một mức giá sao cho
doanh nghiệp bị điều tiết có thể thu hồi chi phí và có một mức lợi nhuận hợp lý.
Tuy nhiên, việc áp dụng quy tắc này trong thực tế không hề dễ dàng. Khó khăn thứ
nhất là làm thế nào để xác định được các chi phí hợp lý của doanh nghiệp. Chi phí
này bao gồm giá nhập xăng dầu (fob), phí bảo hiểm, cước vận chuyển về đến Việt
Nam, các loại thuế và phí, chi phí kinh doanh (vốn, lao động, khấu hao ), trích quỹ
bình ổn và các khoản trích nộp khác theo luật định. Nhìn vào cơ cấu chi phí này, có
thể thấy ngay là có những chi phí cơ quan điều tiết có thể quan sát và tính toán
được một cách tương đối dễ dàng (như giá xăng dầu thế giới, các loại thuế và phí).
Tuy nhiên cũng có những chi phí rất khó quan sát và xác minh tính hợp lý,
chẳng hạn như chi phí đầu tư, quỹ lương, khấu hao Rõ ràng là cơ quan điều tiết
không muốn bù đắp cho những chi phí không hợp lý do đầu tư kém hiệu quả, do
quỹ lương quá cao vì dư thừa lao động hay tiền thưởng quá đáng. Để giải quyết khó
khăn này, cơ quan điều tiết cần yêu cầu các công ty kinh doanh xăng dầu công khai
cơ cấu chi phí của mình. Bên cạnh đó, cơ quan điều tiết cũng có thể so sánh cơ cấu
chi phí này với cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp cạnh tranh trong và ngoài
bình và có hiệu lực của Nhà nước, mà điều này lại phụ thuộc khả năng tách bạch
mục tiêu kinh doanh ra khỏi các mục tiêu chính trị - xã hội và khả năng minh bạch
hóa cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nhất là những doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
3.2. Vấn đề định giá của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp sẽ định giá như sau: Giá cơ sở sẽ được xác lập để hình
thành nên “giá bán lẻ xăng dầu”. Giá cơ sở là tổng của các khoản như sau: Giá CIF
(tức giá xăng dầu thế giới theo công bố trên tờ Plalt’s Singapore được tính bình
quân của số ngày dự trữ lưu thông theo quy định cùng với chi phí phát sinh để đưa
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 14
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
sản phẩm về đến cảng) cộng với thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, tỷ giá ngoại
tệ, thuế VAT, phí xăng dầu, mức trích quỹ bình ổn giá, các loại thuế, các khoản
trích nộp khác theo luật định, chi phí kinh doanh và lợi nhuận định mức…
Mọi biến động của mức giá này sẽ được coi là căn cứ để doanh nghiệp tăng
hay giảm giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường. Như vậy, khi “giá cơ sở” giảm từ trên
3 đến 12%, Doanh nghiệp phải giảm giá bán lẻ với mức không thấp hơn 50% của
mức giảm giá cơ sở. Ngược lại, nếu giá cơ sở tăng từ trên 3 đến 12%, Doanh
nghiệp cũng được đề xuất tăng giá bán lẻ với điều kiện không vượt quá 50% của
mức tăng giá cơ sở.
Lâu nay, dư luận luôn đặt nghi vấn về sự minh bạch của cơ chế tính giá bán
lẻ xăng dầu. Dù có đến 11 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu nhưng trên thực tế, cả
nước vẫn chỉ áp một loại giá cho xăng dầu bán lẻ. Đây là điều thậm vô lý, chứng tỏ,
ngành kinh doanh xăng dầu chưa thực sự được điều hành theo cơ chế thị trường
như định hướng của Chính phủ. Người tiêu dùng (NTD) vẫn chưa có quyền được
lựa chọn và luôn luôn bức xúc, mỗi khi giá dầu thế giới tăng, doanh nghiệp vội
vàng tăng ngay giá bán lẻ. Mặc dù, lúc buộc phải giảm giá, doanh nghiệp lại giảm
nhỏ giọt, từ từ.
Số liệu thống kê cho thấy 06 tháng đầu năm 2009, tiêu thụ xăng dầu giảm
6% so với năm 2008. Có nhiều lý giải cho con số này, cơ bản nhất là lý do sản xuất
xăng trong nước so sánh với giá của nước khác không hẳn đã hợp lý do mức thu về
ngân sách của mỗi nước khác nhau nên tác động trực tiếp đến giá bán lẻ khác nhau.
Hơn nữa, Việt Nam lại có dầu thô. Thông qua mức thu ngân sách, Nhà nước điều
chỉnh được giá xăng dầu vì lợi ích của cả ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và người
dân. Vì vậy, “thả” giá xăng về cơ chế thị trường không có nghĩa là để Doanh
nghiệp được hoàn toàn quyết định giá bán thế nào cũng được.
Một lý do khác để không “thả” giá xăng dầu: Đây là mặt hàng có tác động
đến tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống. Vấn đề là Nhà nước quản lý
giá bằng biện pháp gì, ở mức độ nào để không làm méo mó thị trường. Kinh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 16
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
nghiệm từ một số nước trên thế giới cho thấy doanh nghiệp muốn tăng giá phải
đăng ký trước 3 tháng. Đó là một cách quản lý tốt, khác với Việt Nam vài ngày lại
điều chỉnh hoặc bắt tăng, giảm. Tư duy của doanh nghiệp Việt Nam là tăng giá mới
có phát triển nên càng không thể không có sự can thiệp của Nhà nước. Một điểm
rất đáng lưu ý là lâu nay, người dân luôn phản ứng với việc tăng giá xăng vì thông
tin về cơ cấu giá xăng còn mù mờ. Họ thấy chính sách điều hành giá hình như chỉ
vì quyền lợi doanh nghiệp, vì cơ chế của mình mà không có tiếng nói của người
tiêu dùng. Cần đưa ra một cơ chế công khai tăng giá xăng dầu do những nguyên
nhân nào, giảm do nguyên nhân nào để người dân yên tâm rằng có lúc doanh
nghiệp hoặc Nhà nước cũng phải tạm thời hy sinh quyền lợi. Như thế người tiêu
dùng sẽ có niềm tin và không quan tâm đến giá xăng nữa.
3.3. Ảnh hưởng của giá xăng dầu đến nhà sản xuất và người tiêu dùng:
Có thể nói rằng, việc tăng giá xăng dầu không đem lại lợi ích cho kinh tế
Việt Nam. Theo lý thuyết, một sự gia tăng mạnh giá xăng dầu có thể tạo ra gánh
nặng đối với nền kinh tế theo hai cách thức khác nhau, tùy thuộc vào mức độ mà
một quốc gia phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu và việc tiêu thụ xăng dầu tương
đối so với tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ nhất, việc giá xăng dầu cao và ngày càng tăng làm giảm mức sống của
dân cư xuống dưới mức lẽ ra đã có thể đạt được do tổng tiêu dùng cho sản phẩm
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1. Kết luận:
Có thể nói độc quyền trong việc kinh doanh xăng dầu là một cấu trúc thị
trường không tối ưu đối với xã hội, sự xuất hiện và tồn tại của độc quyền làm cho
thị trường vận hành kém hiệu quả, nguồi tài nguyên xã hội không được phân bổ tối
ưu, làm cho xã hội bị thiệt hại. Vì vậy, việc sử dụng nguồn lực phát triển kinh tế
không đạt hiệu quả, các lợi ích đạt được phần lớn thuộc về nhà độc quyền.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 18
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Các công ty kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu trong nước được hình thành
và phát triển là do lịch sử để lại. Vì các công ty này vừa thực hiện chức năng kinh
doanh của mình và vừa đảm bảo dự trữ năng lượng cho quốc gia, thực hiện nhiệm
vụ chính trị nhà nước giao. Mặt khắc, các công ty này được thành lập theo quyết
định hành chánh, chứ không thông qua hình thức cạnh tranh độc quyền. Mặt dù độc
quyền của ngành xăng dầu đã có một số tác dụng tích cực nhất định đối với phát
triển đất nước như: tạo ra lợi thế về qui mô sản xuất lớn, về hiệu quả đầu tư tập
trung, về an ninh năng lượng quốc gia,… tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta đều có
thể nhận thấy các hạn chế và tác hại của hành vi lạm dụng độc quyền đối với toàn
bộ nền kinh tế, mà nổi bật là làm tăng giá cả của các yếu tố đầu vào dẫn đến đời
sống người dân bị ảnh hưởng. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng mà
còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh.
Khi độc quyền xảy ra thì người tiêu dùng và nhà sản xuất phải chấp nhận trả
ở một mức giá nào đó do nhà độc quyền quy định vì xăng dầu là mặt hàng không
thể thiếu để phục vụ đời sống người dân và phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Chưa
công khai chi phí sản xuất một cách minh bạch, vấn đề định giá xăng dầu chưa
đúng còn nhiều chi phí ảo buộc người tiêu dùng phải gánh chịu.
4.2. Giải pháp:
Hạn chế độc quyền là việc làm cần thiết vì độc quyền gây ra thiệt hại đối với
nền kinh tế. Hạn chế độc quyền là vấn đề quan trọng trong kinh tế học ứng dụng.
Một số ngành quan trọng như ngành xăng dầu thường bị khống chế bằng pháp luật,
- Pháp quy hoá các quy định và yêu cầu quản lý nhà nước có liên quan đến
chất lượng, định giá và quản lý giá xăng dầu, bảo đảm cạnh tranh tự do và minh
bạch về giá cả, cũng như tạo các căn cứ ổn định và thuận lợi cho hình thành và dự
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 20
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
báo giá xăng dầu theo sát các động thái thị trường và giảm thiểu các “thắc mắc”,
đoán mò và tin đồn thất thiệt trên thị trường này./.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 21
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế học vi mô TS.Lê Khương Ninh
2. Kinh tế học, Nxb thống kê, David Begg
3. Nghiên cứu từ các trang web.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 22
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU……………………………………… 1
1.1. Đặt vấn đề:…………………………………………………… 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………….1
1.2.1. Mục tiêu chung……………………………………………………… 1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ……………………………………………………….1
1.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………… 1
1.4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………… …………2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN…………………………………………….3
2.1. Mô hình độc quyền…………………………………………………… 3
2.2. Xu hướng dẫn đến độc quyền………………………………………… 3
2.2.1. Chi phí sản xuất……………………………………………………….3
2.2.2. Độc quyền từ nguyên nhân pháp lý………………………………… 4
2.2.3. Độc quyền từ xu hướng sáp nhập của các công ty lớn……………… 4
2.3. Yếu tố xác định loại hàng hóa………………………………………… 4