TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ
Đề tài:
VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN
TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
Giảng viên Học viên thực hiện
TS. Lê Khương Ninh Nguyễn Ngọc Hiền
MSHV: 130908
Lớp Cao học KTNN.K16
quyền.
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 2
Mục tiêu (2) sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nói lên sự độc quyền
của ngành kinh doanh xăng dầu.
Mục tiêu (3) sử dụng phương pháp phân tích để tổng kết và đề xuất giải
pháp.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề độc quyền của lĩnh vực kinh doanh xăng dầu trong
nước và sự tác động này đến nhà sản xuất và người tiêu dùng qua việc tăng giá của
doanh nghiệp.
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Mô hình độc quyền
Đối lập với thị trường canh tranh hoàn hảo là thị trường độc quyền. Thị
trường độc quyền đối với một loại hàng hóa nào đó là thị trường mà trong đó chỉ có
một nhà cung ứng hàng hóa đó. Nhà cung ứng duy nhất này được gọi là nhà độc
quyền. Do là người duy nhất cung ứng hàng hóa ra thị trường nên đường cung của
nhà độc quyền chính là đường cung của ngành và đường cầu của thị trường chính
là đường cầu đối với sản phẩm của nhà độc quyền.
Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi hội đủ hai điều kiện sau:
- Đối thủ cạnh trạnh không thể gia nhập ngành: Do doanh nghiệp độc quyền
hoàn toàn không có đối thủ cạnh trạnh nên có thể ấn định sản lượng hay giá bán tùy
ý mà không lo ngại thu hút những doanh nghiệp khác gia nhập ngành vì sự gia
nhập ngành của các doanh nghiệp mới sẽ khó khăn vì các rào cản, chi phí sản xuất.
- Không có những sản phẩm thay thế tương tự. Nếu không có sản phẩm thay
thế thì nhà độc quyền không lo ngại về tác động của chính sách giá của mình đến
phản ứng của các doanh nghiệp khác.
2.2. Xu hướng dẫn đến độc quyền
Hệ số co giãn: Lượng hóa sự thay đổi của số cung và số cầu theo sự thay đổi
của giá hàng hóa.
- Công thức:
e
QD,P
= [ΔQ
D
/Q
D
(%)]/[ΔP/P(%)] = (ΔQ
D
/ΔP)x(P/Q
D
) = (dQ
D
/dP)x(P/Q)
= f’(P)x(P/Q
D
) = f’(P)x(P/f(P)’) với Q
D
= f(P)
- Ý nghĩa: Số phần trăm thay đổi của cầu do 1% thay đổi của giá.
+ Nếu e
QD,P
< -1 là cầu co giãn nhiều, vì số phần trăm thay đổi của cầu lớn
hơn số phần trăm thay đổi của giá.
+ Nếu e
QD,P
= - 1 là cầu co giãn đơn vị. Khi đó, số phần trăm thay đổi của
lượng cầu bằng đúng với tỷ lệ thay đổi của giá.
xuất tại mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên (chừng
nào P > AC). Với công ty độc quyền được mô tả trong biểu đồ trên đây, MR = MC
P
-a/b
Vùng co giản
P
A
A: Điểm co giản đơn vị Vùng không co giản
0 Q
Q
A
a
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 6
tại mức sản lượng Q
0
. Giá do công ty tính là P
0
(giá mà công ty có thể tính tại mỗi
mức sản lượng với đường cầu cho trước). Do giá P
0
vượt quá tổng chi phí trung
bình (AC
0
) tại mức sản lượng này, công ty sẽ thu được lợi nhuận. Mặc dù vậy, lợi
P
MC AC p
0
B
AC
0
A D
MR
q
0
Q
P MC
AC p
0
B
AC
Công ty không thể là người làm giá,
Công ty phải có thể phân loại khách hàng theo độ co giãn của cầu của họ,
Việc bán lại sản phẩm phải là việc không khả thi.
Mức giá đó gọi là giá sãn lòng trả hay giá đặt trước của người tiêu dùng.
P Cầu ít co giản
p
0 P Cầu co giản nhiều p
0
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 8
thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.”
Với tỷ lệ thị phần lên tới 60% của Petrolimex hiện nay, rõ ràng là một con số
đảm bảo an toàn cho vị thế của Petrolimex trên thị trường xăng dầu trong nước.
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 10
Hơn nữa nếu đơn vị chiếm 60% thị phần cung cấp nguồn nhiên liệu này đã
kiềm giá thì cũng chẳng có đơn vị nào tăng giá. Bởi lẽ, nếu giá thế giới mà tăng
cao, doanh nghiệp khác bán bằng giá của Petrolimex cũng đã là khó khăn.
Có thể nói, xăng dầu là mặt hàng chiến lược, khá nhạy cảm và chủ trương
tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp để thị trường xăng dầu vận hành theo cơ chế
thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên ngay lập tức nhận được sự đồng tình,
ủng hộ của nhiều người. Tuy nhiên, một số ý kiến khác vẫn băn khoăn về việc liệu
quyền lợi của người tiêu dùng có được đảm bảo khi doanh nghiệp được tự quyết
định giá theo ý mình, cũng như cần làm gì để tránh tình trạng chuyển từ độc quyền
Nhà nước sang độc quyền doanh nghiệp.
Nguyên nhân chính của những tranh cãi trên là do Petrolimex đang chiếm
với khoảng 60% thị phần chi phối thị trường. Vì các sản phẩm xăng dầu gần như
đồng nhất và dịch vụ tương đối đơn giản nên các nhà phân phối xăng dầu khác đều
chạy theo giá bán của Petrolimex, vì nếu họ bán với giá cao hơn sẽ mất khách, còn
bán thấp hơn thì bị giảm lợi nhuận. Đối với Petrolimex, một khi có khả năng chi
phối thị trường thì công ty này có thể “nâng giá nhanh, hạ giá chậm” và đương
nhiên là các đơn vị khác sẽ được “ăn theo”. Kết quả là sức mạnh độc quyền (hay
tựa-độc-quyền) của Petrolimex đã triệt tiêu cơ chế thị trường cạnh tranh và làm
giảm phúc lợi của người tiêu dùng.
Khi kỷ luật của cạnh tranh không phát huy tác dụng thì Nhà nước có cơ sở để
can thiệp thông qua các biện pháp điều tiết nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và bảo
vệ phúc lợi của người tiêu dùng. Cụ thể, Nhà nước có thể điều tiết về mức giá, về
chất lượng dịch vụ và về quy định gia nhập - rút lui khỏi hoạt động kinh doanh
xăng dầu.
Bản chất của việc điều tiết mức giá là điều chỉnh mối quan hệ lợi ích giữa
bình. Một lần nữa, việc xác định mức lợi nhuận trung bình của ngành kinh doanh,
đồng thời so sánh với các công ty cạnh tranh trong và ngoài nước có thể giúp cơ
quan điều tiết khắc phục phần nào khó khăn này.
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 12
Bên cạnh hai khó khăn trên, cơ quan điều tiết cũng phải quan tâm đến một số
vấn đề kỹ thuật quan trọng như xác định giá cơ sở và khi nào thay đổi giá cơ sở.
Như đã thảo luận ở trên, trong cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp xăng dầu có
một số khoản mục có tính chủ quan, không quan sát được, vì vậy không nên đưa
các khoản mục chi phí này vào trong giá cơ sở. Tốt nhất là dùng ngay giá xăng dầu
thế giới - là mức giá hoàn toàn khách quan và minh bạch làm giá cơ sở. Về tần suất
thay đổi giá cơ sở, nếu Nhà nước muốn bình ổn giá thì chỉ nên điều chỉnh giá hay
thuế suất khi giá cơ sở biến động đủ lớn (trên 5% chẳng hạn).
Ngoài giá bán còn có hai công cụ điều tiết khác, đó là điều tiết chất lượng
dịch vụ và quy định việc gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh. Về chất lượng
dịch vụ, quan trọng nhất là các tiêu chuẩn bảo đảm an toàn và bán đúng bán đủ cho
khách hàng. Về quy định gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh, Nhà nước cần
tăng cường tính cạnh tranh cho thị trường bằng cách cho phép sự tham gia của
nhiều đầu mối nhập khẩu, đồng thời cần giảm bớt tính độc quyền trong hoạt động
phân phối xăng dầu.
Không nên hi vọng rằng cơ chế thị trường trong điều kiện tồn tại độc quyền
sẽ nâng cao phúc lợi cho người tiêu dùng và cải thiện hiệu quả cho nền kinh tế. Nói
cách khác, một khi còn độc quyền và thiếu cạnh tranh thì cơ chế thị trường sẽ
không thể vận hành hiệu quả. Khi ấy, cần đến hoạt động điều tiết một cách công
bình và có hiệu lực của Nhà nước, mà điều này lại phụ thuộc khả năng tách bạch
mục tiêu kinh doanh ra khỏi các mục tiêu chính trị - xã hội và khả năng minh bạch
hóa cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nhất là những doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
3.2. Vấn đề định giá của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp sẽ định giá như sau: Giá cơ sở sẽ được xác lập để hình
tranh về giá đều không có khả năng thắng.
Cơ chế điều hành giá xăng dầu hiện nay căn cứ vào lỗ, lãi từng lít của Doanh
nghiệp là chưa phù hợp. Thứ nhất, doanh nghiệp có quá trình nhập khẩu, dự trữ dài,
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 14
hạch toán sau một thời gian. Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng
khác nhau; lỗ, lãi của các mặt hàng bù chéo cho nhau. Do đó, mức lỗ, lãi của mỗi
doanh nghiệp phải tính trên tổng thể, không phải căn cứ lỗ, lãi từng lít để cho tăng
hoặc giảm giá bán. Mức lỗ, lãi được tính từ giá bán đến chi phí đầu vào. Gần đây,
sự thiếu ổn định về thuế nhập khẩu, trả nợ ngân sách làm vênh giữa chi phí đầu
vào của doanh nghiệp trong những thời điểm khác nhau. Nếu lách được lỗ hổng
này, doanh nghiệp có thể thu lợi nhuận lớn.
Liên quan đến chi phí của doanh nghiệp như định mức hao hụt, chi phí đại
lý , lâu nay chúng ta không rà soát chặt chẽ, kể cả khi có kết quả kiểm toán để làm
rõ lỗ, lãi là do giá bán lẻ chậm điều chỉnh hay chi phí bất cập. Trong đó có cả chi
phí lương, vốn, rủi ro tỉ giá hối đoái và các chi phí sản xuất khác. Tóm lại, hệ thống
xuất nhập khẩu xăng dầu chưa được hạch toán và đối xử giống một doanh nghiệp
đang kinh doanh trên thị trường với một mặt hàng chiến lược đặc biệt. Thay vào
đó, doanh nghiệp xăng dầu gần như là một bộ phận nối dài của cơ quan quản lý
Nhà nước.
Tuy nhiên, việc doanh nghiệp khi muốn tăng giá phải đăng ký trước 3 tháng:
tại sao chúng ta vẫn lúng túng trong điều hành giá xăng dầu? Nguyên nhân sâu xa
vì trong cơ cấu giá xăng dầu, khoảng 50% là thu về ngân sách Nhà nước (thuế xuất
nhập khẩu và các khoản thu khác). Tỉ lệ thu về ngân sách khá lớn nên việc lấy giá
xăng trong nước so sánh với giá của nước khác không hẳn đã hợp lý do mức thu về
ngân sách của mỗi nước khác nhau nên tác động trực tiếp đến giá bán lẻ khác nhau.
Hơn nữa, Việt Nam lại có dầu thô. Thông qua mức thu ngân sách, Nhà nước điều
chỉnh được giá xăng dầu vì lợi ích của cả ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và người
dân. Vì vậy, “thả” giá xăng về cơ chế thị trường không có nghĩa là để Doanh
nghiệp được hoàn toàn quyết định giá bán thế nào cũng được.
các hàng hóa khác).
Thứ hai, sự gia tăng này tác động đến nền kinh tế theo các cách thức mà rất
khó để các nhà hoạch định chính sách có thể quản lý được: một mặt, sự gia tăng giá
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 16
xăng dầu tạo áp lực gây ra lạm phát thông qua hiện tượng giá cánh kéo. Do xăng
dầu là yếu tố đầu vào của hầu như tất cả các ngành kinh tế khác, nên giá đầu vào
tăng, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, sẽ kéo theo giá đầu ra sản
phẩm tăng lên dẫn đến chỉ số giá cả nói chung gia tăng, ảnh hưởng đến sức mua
của xã hội và gây ra áp lực lạm phát. Chi phí sản xuất tăng sẽ tác động đến năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, còn không ít những chiêu thức mà đại lý sử dụng móc túi người
tiêu dùng trong lĩnh vực xăng dầu như; gian lận trong đo lường và kinh doanh sản
phẩm xăng dầu. Đây là thực trạng mà nhiều năm qua người tiêu dùng Việt Nam đã
phải gánh chịu. Năm 2008, giá xăng trong nước gặp nhiều biến động do tình hình
thế giới càng khiến nhiều gian thương gia tăng hành vi “ móc túi ” khách hàng bằng
nhiều thủ đoạn tinh vi hơn.
Theo một số thống kê chưa chính thức, những kiểu đong thiếu xăng, gắn chíp
điện tử, pha xăng dỏm… đã khiến người tiêu dùng thiệt hại với giá trị ước tính lên
đến vài trăm tỷ đồng. Cũng trong năm nay, các cơ quan thông tấn báo chí đã đồng
loạt lên tiếng phê phán các hành vi gian lận trong đo lường xăng dầu, đồng thời Hội
Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam kiến nghị truy tìm và xử lý hình sự đối với
những tổ chức, cá nhân buôn bán, cung cấp những thiết bị, phụ kiện tiếp tay cho
việc thực hiện gian lận thương mại.
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1. Kết luận:
Có thể nói độc quyền trong việc kinh doanh xăng dầu là một cấu trúc thị
trường không tối ưu đối với xã hội, sự xuất hiện và tồn tại của độc quyền làm cho
thị trường vận hành kém hiệu quả, nguồi tài nguyên xã hội không được phân bổ tối
thất đối với nền kinh tế.
- Nhà nước cần xác định rõ và bóc tách giữa 2 nhiệm vụ về bản chất khác
hẳn nhau là: Kinh doanh xăng dầu như mục đích tự thân của các doanh nghiệp kinh
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 18
doanh xăng dầu, với việc dự trữ xăng dầu bảo đảm an ninh năng lượng như một
mục tiêu chính trị quốc gia.
- Nhà nước cần xác định được giá sàn và giá trần trên cơ sở phân nhóm đúng
vai trò của từng nhân tố cấu thành giá bán lẻ xăng dầu.
- Nhà nước cần cho phép tự động điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo xu
hướng và cạnh tranh thị trường, đồng thời tăng cường các chế tài của Nhà nước và
giám sát xã hội.
- Thúc đẩy quá trình tự do hoá kinh doanh xăng dầu, tạo cạnh tranh lành
mạnh đầy đủ trên thị trường bán buôn và bán lẻ xăng dầu Việt Nam. Khi đó, Nhà
nước vẫn thu được thuế, các doanh nghiệp có thêm động lực và cơ hội đầu tư phát
triển, còn người tiêu dùng thì được lợi cả về chất lượng dịch vụ và giá cả do các
“nhà xăng’ cung cấp.
- Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm toán toàn diện và
khách quan các chi phí kinh doanh hiện hành và chuẩn mực của các hoạt động kinh
doanh xăng dầu, lập và công khai hoá cơ sở dữ liệu có liên quan (giá mua, chi phí
vận tải, duy trì hệ thống dự trữ và phân phối xăng, lợi nhuận định mức và các nghĩa
vụ tài chính của kinh doanh xăng dầu…), để các cơ quan chức năng và giới tiêu
dùng có cơ sở khoa học minh bạch cho việc tính và kiểm tra “giá chuẩn” trên thị
trường kinh doanh xăng dầu trong nước.
- Các cơ quan chức năng nên thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp
hành chính sách pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu đối với
các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự công bằng cho doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
- Pháp quy hoá các quy định và yêu cầu quản lý nhà nước có liên quan đến
chất lượng, định giá và quản lý giá xăng dầu, bảo đảm cạnh tranh tự do và minh
1.4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………… …………2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN…………………………………………….3
2.1. Mô hình độc quyền…………………………………………………… 3
2.2. Xu hướng dẫn đến độc quyền………………………………………… 3
2.2.1. Chi phí sản xuất……………………………………………………….3
2.2.2. Độc quyền từ nguyên nhân pháp lý………………………………… 4
2.2.3. Độc quyền từ xu hướng sáp nhập của các công ty lớn……………… 4
2.3. Yếu tố xác định loại hàng hóa………………………………………… 4
2.4. Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của nhà độc quyền…………………….5
2.5. Chính sách phân biệt giá….…………………………………………… 7
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN TRONG KINH
DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM………………………………………… 9
3.1. Thực trạng vấn đề kinh doanh xăng dầu……………………………… 9
3.2. Vấn đề định giá của các Doanh nghiệp……………………………… 12
3.3. Ảnh hưởng của giá xăng dầu đến người dân và các Doanh nghiệp……15
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT…………………………………17
4.1. Kết luận……………………………………………………………… 17
4.2. Giải pháp……………………………………………………………….18
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 22
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN