BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO HỌC SINH
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
ThS. Bùi Thị Thanh Thủy
Trường CĐSP Nam Định
Tóm tắt: Trong một xã hội hiện đại với một nhịp sống nhanh như vũ bão, thế
hệ trẻ ngày nay gặp khó khăn về mặt cảm xúc hơn các thế hệ trước. Vì vậy, ngoài các
năng lực chung, năng lực chuyên biệt hay phẩm chất cần hình thành và phát triển cho
học sinh trong suốt giai đoạn giáo dục phổ thông, có một vấn đề hiện nay được rất
nhiều nhà giáo dục quan tâm đó là việc hình thành và phát triển trí tuệ cảm xúc cho
học sinh. Đây là một điều cần thiết cho học sinh ngay từ những bậc học đầu tiên để
hướng tới việc hình thành và phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần theo đúng định
hướng của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Bài viết xin phép được chia sẻ
một số suy nghĩ về việc phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh trong quá trình dạy học
ở Tiểu học.
Từ khóa: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, trí tuệ cảm xúc, dạy học,
phẩm chất, năng lực, học sinh tiểu học.
Abstract: Nowadays, in such society of faster lifestyle, young people seem to
have much more emotional issues than prior generations did. Hence, many teachers
pay attention on nourishing students with not only general knowledge, specific
abilities and good personality but also emotional intelligence. This is very necessary
for kids to grow up physically and mentally in harmony right from the 1 st grade, as the
orientation of General Education Program. In this writing, we would like to share
some of our ideas about emotional intelligence feeding for students in Primary
schools.
Keyword: General Education Program, emotional intelligence, teach, abilities,
personality, students in Primary schools.
không để mình trở nên quá giận dữ, không có những quyết định bốc đồng, thiếu suy
nghĩ. Họ suy xét trước khi hành động. Đặc điểm của sự kiểm soát bản thân là tính thận
trọng, thích ứng với thay đổi và biết nói “không” khi cần thiết.
- Giàu nhiệt huyết: Những người có trí tuệ cảm xúc thường tràn đầy nhiệt
huyết. Họ sẵn sàng hi sinh lợi ích trước mắt để đổi lấy thành công lâu dài. Họ thích sự
thách thức và luôn làm việc có hiệu quả cao.
- Biết cảm thông: Đây có lẽ là yếu tố quan trọng thứ hai của trí tuệ cảm xúc.
Cảm thông là khả năng nhận biết và hiểu được mong muốn, nhu cầu và quan điểm của
những người xung quanh ngay cả khi những điều đó không rõ ràng. Người biết cảm
thông luôn quản lí tốt các mối quan hệ, biết lắng nghe, không “chụp mũ”, phán xét vội
vàng, sống cởi mở và trung thực.
- Kĩ năng giao tiếp: Đây là đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cao. Những người có
kĩ năng giao tiếp tốt thường giúp đỡ người khác phát triển và tỏa sáng thay vì tập trung
545
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
vào thành công của mình trước tiên. Họ có thể xử lí các tranh chấp, giao tiếp tốt và là
bậc thầy trong xây dựng và duy tŕ các mối quan hệ.
2. Việc tạo hứng thú học tập và việc hình thành, phát triển trí tuệ cảm xúc
cho HS Tiểu học
Khái niệm “dạy học phát triển phẩm chất và năng lực của HS” với nhiều giáo
viên (GV) Tiểu học cũng như SV (SV) ngành Giáo dục tiểu học còn khá nhiều mới
mẻ. Vì vậy, khái niệm “phát triển trí tuệ cảm xúc”, đương nhiên là còn rất mới thậm
chí là chưa từng nghe nói với nhiều GV và SV. Tuy nhiên, thực chất trong quá trình
dạy học, quá trình nghiên cứu về giáo dục, nhiều GV và SV rất quan tâm đến vấn đề
thấy thích môn học nào đó là vì môn học đó tạo được hứng thú với HS, đáp ứng được
nhu cầu, mong muốn, sở thích nào đó của HS.
Kết quả điều tra với HS Tiểu học ở trên cũng phù hợp với thuyết đa trí tuệ của
Howard Gardner. Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng
của Đại học Harvard - đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm
dịch “Cơ cấu của trí tuệ”), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình
về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences). Có 8 loại trí
thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó là: Trí thông minh logic - toán học,
Trí thông minh không gian, Trí thông minh vận động, Trí thông minh tương tác giao
tiếp, Trí thông minh nội tâm, Trí thông minh thiên nhiên, Trí thông minh ngôn ngữ,
Trí thông minh âm nhạc [5]. Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong
chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh
trội hơn trong mỗi người. Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông
thường chỉ đánh giá một HS thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn
ngữ và trí thông minh về logic/toán học - điều này là không chính xác. Trường học đã
bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao
tiếp,… đồng thời lèo lái tất cả mọi HS đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung
một sự đánh giá và phán xét. Nhiều HS đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp
thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng.
Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cũng đã công nhận sự đúng đắn
của lý thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner. Gắn với lí thuyết về trí tuệ cảm xúc, theo
chúng tôi, điều quan trọng nhất khi GV Tiểu học tổ chức dạy học một môn học cho HS
ở Tiểu học là tạo được hứng thú học tập của HS. Bởi khơi gợi được hứng thú học tập
của HS là giúp HS hiểu rõ bản thân mình muốn gì, thích gì để từ đó sẵn sàng hành
động. Đó chính là một yếu tố quan trọng nhất của trí tuệ cảm xúc. Và như vậy, chúng
tôi mạnh dạn khẳng định rằng GV tạo được hứng thú học tập cho HS là góp phần hình
thành, phát triển trí tuệ cảm xúc của HS.
3. Phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh trong quá trình dạy học ở Tiểu học
3.1. Một số nét chính về đổi mới ở các trường Tiểu học trong những năm
gần đây
chơi được SGK thiết kế sẵn, theo chúng tôi, chỉ mang tính chất gợi ý. GV có thể thay
đổi để tạo sự bất ngờ và hứng thú cho HS trước khi bước vào một giờ học mới. Nhưng
các trò chơi gợi ý đều là các trò chơi để dẫn nhập vào bài mới. Nếu chơi một số trò
chơi quen thuộc chẳng liên quan gì đến bài học thì chắc chắn đến một lúc HS sẽ thấy
nhàm chán và việc tổ chức hoạt động nhóm sẽ thiếu hiệu quả. Như vậy, công việc của
người GV phải luôn luôn duy trì được hứng thú học tập của HS. Ngoài trò chơi khởi
động trong hoạt động cơ bản, hoạt động ứng dụng cũng là một hoạt động khiến cho
HS luôn hứng thú, tò mò. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tế, chúng tôi nhận thấy
nhiều GV vẫn chú trọng nhiều ở hoạt động thực hành và lượng bài tập giao cho HS
vẫn phần nhiều hướng tới hoạt động này. Như vậy, GV vẫn “rụt rè” trong quá trình đổi
mới. Điều này là dễ hiểu bởi hai lí do chính sau đây:
548
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
- Một là, ảnh hưởng của một quá trình rất lâu theo chương trình tiếp cận nội
dung.
- Hai là, mô hình dạy học VNEN chưa áp dụng với tất cả các trường Tiểu học
trong toàn quốc. Vì thế, các kì thi đang có sự chuyển đổi dần theo hướng tiếp cận năng
lực nhưng chậm và mật độ trong mỗi bài thi chưa nhiều.
3.2. Một số ý kiến về việc dạy học phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh
trong quá trình dạy học ở Tiểu học
Tâm lí trẻ em rất thích được người lớn tôn trọng, tin tưởng và giao việc. Trên
cơ sở đó, để duy trì hứng thú học tập lâu dài, tạo điều kiện tốt nhất để kích thích trẻ em
tự khám phá bản thân mình, GV cần linh hoạt trong việc tổ chức dạy học. Hiện tại, dù
bộ sách giáo khoa VNEN có những đổi mới khá rõ nét nhưng theo chúng tôi, vẫn là bộ
sách mang tính chất hướng dẫn, định hướng. Bởi rõ ràng, các trò chơi mà HS biết
trước thì sẽ không còn hứng thú. Hơn nữa, nếu HS mang “một tờ giấy trắng” về bài
học, là môn có thể phát huy sự sáng tạo nhiều nhất ở HS. Thực tế, GV đôi khi vẫn lấy
giờ này để dạy các môn Toán, Tiếng Việt – coi đó là các “môn chính”. Điều quan
trọng là GV phải loại bỏ tư tưởng đây là “môn phụ”. Khi đó, sự chuẩn bị chắc chắn sẽ
có sự công phu hơn. Tuy nhiên, việc chuẩn bị cần có thời gian. GV nên giao nhiệm vụ
cho HS trước một tuần vì có những vật liệu khá dễ tìm, dễ kiếm như đèn pin, tấm kính
(bài Ánh sáng và bóng tối – Khoa học
4), nhiệt kế (bài Nóng, lạnh và nhiệt độ –
Khoa học 4), ... nhưng không phải lúc nào
cũng vậy. Ví dụ, với đồ dùng thí nghiệm ở
hình trên (bài Âm thanh – Khoa học 4),
không phải lúc nào cũng tìm và làm được
ngay. Và nếu có tìm được ngay ở bên ngoài
gia đình để sử dụng cũng không phải là cách
Một dụng cụ thí nghiệm môn
thú vị. Để chuẩn bị, các con đề nghị bố mẹ Khoa học do HS lớp 4A1 trường TH
mua sữa về để sử dụng: có thể cho con ăn Chu Văn An chuẩn bị (bài Âm
kèm với bánh mỳ, làm bánh mỳ hoặc có thể thanh)
cùng con
làm sữa chua. Và khi sử dụng vỏ hộp sữa làm dụng cụ thí nghiệm, HS sẽ có
nhận thức: mỗi sản phẩm trong cuộc sống có rất nhiều công dụng, các vật liệu chứa
sản phẩm đó đôi khi không phải bỏ đi mà có thể tái sử dụng khi cần thiết, … Như vậy,
một công việc chuẩn bị nho nhỏ cho một bài học sẽ giúp cho HS có thêm nhiều hiểu
biết mới. Đó là một động lực để HS không ngừng học tập, khám phá.
Các hoạt động chuẩn bị như trên GV có thể giao cho cá nhân hoặc nhóm. Việc
HS đến nhà nhau để cùng chuẩn bị một công việc phục vụ học tập không chỉ đơn
thuần là việc học. Điều đó, còn giúp HS hiểu về cuộc sống gia đình của nhau – điều rất
bình thường với các thế hệ trước, nhưng khá xa lạ trong giai đoạn hiện tại. Từ đó, các
con sẽ có cách ứng xử với nhau đẹp hơn, biết cảm thông với nhau hơn – đó chính là
những đặc điểm của trí tuệ cảm xúc. Tất nhiên, việc làm này không thể thường xuyên
và chắc chắn sẽ gặp không ít sự phản đối từ các bậc phụ huynh. Vì vậy, GV cần nhiều
thay vào là câu “Các con ơi, khẩn trương lên nhé!” kèm với câu “Chúng ta không có
nhiều thời gian đâu các con ạ!” sẽ khiến các con thấy trách nhiệm của mình hơn. Muốn
tư vấn cho các con, không nên nói “Con không được ...” mà hãy nói “Con không nên
...” hoặc “Con thử làm thế này xem sao...”, “Cô nghĩ là thế này chắc có lẽ tốt hơn”,...
Với cách làm như vậy, không chỉ động viên, khuyến khích các con học tập mà còn
từng bước giúp các con học được cách ứng xử, giao tiếp với nhau nhẹ nhàng, thân ái.
Và đó chính là một đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cao.
---------------------------------Với cách định nghĩa và những đặc điểm của trí tuệ cảm xúc như phần đầu bài
viết, chúng ta có thể thấy trí tuệ cảm xúc không phải là thứ bất biến. Nó có thể được
nuôi dưỡng, phát triển trong mỗi con người. Trong một thế giới đầy biến chuyển, trong
một xã hội hiện đại với một nhịp sống nhanh như vũ bão, thế hệ trẻ ngày nay gặp khó
khăn về mặt cảm xúc hơn các thế hệ trước. Những câu chuyện về bạo lực học đường,
những câu chuyện về sự vô cảm của con người trong xã hội diễn ra ngày một nhiều –
551
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
đó là dấu hiệu của việc kiểm soát bản thân, kĩ năng giao tiếp yếu kém – là một hồi
chuông cảnh tỉnh với những người làm giáo dục chúng ta. Vì vậy, gia đình, nhà trường
và xã hội cần có sự chuẩn bị hành trang vào cuộc sống cho giới trẻ ngay từ những
bước đầu tiên trong cuộc đời. Trong môi trường giáo dục của nhà trường, ngay từ
những bậc học đầu tiên, mỗi thầy cô giáo phải là hình mẫu về trí tuệ cảm xúc qua sự
yêu thương chăm sóc và tương tác với trẻ một cách tôn trọng. Và đó là nền tảng để xây
dựng nên những năng lực, phẩm chất của người học mà ngành Giáo dục của chúng ta
đang hướng tới trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO