ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHẠM THỊ TRÂM
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY ĐỊNH
VỀ CHẾ ĐỘ GIAO TIẾP CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỚI
NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI
BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn luận văn:
ThS.BS. DƯƠNG THỊ NGỌC LAN
Huế, 2016
Lời Cảm Ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Huế, Phòng Đào
tạo Đại học, Phòng Giáo vụ công tác sinh viên, Phòng Kế
hoạch Tổng hợp, Ban Chủ nhiệm Khoa Điều dưỡng, Ban Chủ
nhiệm khoa Nội Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
cùng quý thầy cô trong khoa Điều dưỡng Trường Đại học Y
Dược Huế đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS.BS.
Dương Thị Ngọc Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và
luôn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn tất cả các bác sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân và người
nhà tại khoa Nội Tổng hợp - Nội tiết Bệnh viện Trường Đại
học Y Dược Huế đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận
CĐ
: Cao đẳng
ĐD
: Điều dưỡng
ĐH
: Đại học
NB
: Người bệnh
NTH - NT
: Nội Tổng hợp - Nội tiết
NVYT
: Nhân viên y tế
n
: Số lượng người bệnh
QĐ - BYT
1.3. Các yếu tố liên quan đến giao tiếp của điều dưỡng ......................................... 9
1.4. Sự hài lòng của người bệnh ............................................................................. 9
1.5. Quy định về chế độ giao tiếp trong các cơ sở khám chữa bệnh .................... 10
1.6. Một số nghiên cứu về giao tiếp của điều dưỡng với người bệnh và sự hài
lòng của người bệnh.............................................................................................. 12
Chƣơng 2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 16
2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 16
2.3. Công cụ nghiên cứu ....................................................................................... 17
2.4. Phân loại và định nghĩa các biến số ............................................................... 19
2.5. Nội dung nghiên cứu...................................................................................... 22
2.6. Xử lý số liệu ................................................................................................... 23
2.7. Đạo đức nghiên cứu ....................................................................................... 23
2.8. Một số quy ước .............................................................................................. 24
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................... 25
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng ...................................................................... 25
3.2. Thực trạng giao tiếp của điều dưỡng khoa NTH - NT với người bệnh ......... 29
3.3. Đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với điều dưỡng trong quá trình nằm
viện........................................................................................................................ 33
3.4. Yếu tố liên quan đến sự hài lòng về giao tiếp của điều dưỡng ...................... 36
Chƣơng 4 BÀN LUẬN ............................................................................................ 39
4.1. Thực trạng giao tiếp của điều dưỡng với người bệnh .................................... 39
4.2. Sự hài lòng của người bệnh đối với điều dưỡng trong quá trình nằm viện ... 42
4.3. Yếu tố liên quan đến sự hài lòng về giao tiếp của điều dưỡng ...................... 44
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 46
KIẾN NGHỊ............................................................................................................. 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Biểu đồ 3.4. Phân bố đối tượng theo điều kiện kinh tế............................................. 27
Biểu đồ 3.5. Phân bố đối tượng theo địa dư ............................................................. 28
Biểu đồ 3.6. Tình trạng người bệnh làm thủ thuật .................................................... 29
Biểu đồ 3.7. Mức độ hài lòng chung về giao tiếp của điều dưỡng ........................... 35
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao tiếp là một kĩ năng, là nhu cầu của con người trong xã hội, giao tiếp đóng
vai trò quan trọng trong đời sống. Đối với ngành y, điều dưỡng là người đầu tiên
tiếp xúc với người bệnh trong quá trình người bệnh nằm điều trị tại bệnh viện. Với
điều dưỡng, đối tượng giao tiếp rất đặc biệt và phức tạp nên việc trang bị kỹ năng
giao tiếp hàng ngày, hàng giờ là rất cần thiết. Giao tiếp là một phần rất quan trọng,
thể hiện y đức của nhân viên y tế, nhất là đội ngũ làm công tác điều dưỡng, bởi đây
là lực lượng chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số nhân viên toàn bệnh viện và ngày đêm
gần gũi với người bệnh. Theo thống kê cho thấy trung bình mỗi ngày người bệnh
nhận được sự tiếp xúc 15 - 20 phút với bác sĩ, nhưng nhận 6 - 8 lần sự tiếp xúc với
điều dưỡng, tức là thời gian tiếp xúc với điều dưỡng khoảng 2 - 2,5 giờ [22]. Giao
tiếp là một hoạt động thực hành chăm sóc của điều dưỡng, là chỉ số đánh giá chất
lượng bệnh viện, vì vậy giao tiếp cần được quan tâm, chú trọng hơn để hướng đến
hiệu quả trong công tác chăm sóc và điều trị.
Nhằm thay đổi phong cách phục vụ người bệnh của nhân viên y tế, rèn luyện
kĩ năng giao tiếp, ứng xử, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ, cũng cố niềm tin và
sự hài lòng của người bệnh, đồng thời xây xựng hình ảnh đẹp của người y tế Việt
Nam. Tại Việt Nam, trong những năm qua Bộ y tế đã đưa ra nhiều quy định về giao
tiếp ứng xử như tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế (12 điều y đức),
quy định về chế độ giao tiếp trong các cơ sở khám chữa bệnh, quy tắc ứng xử của
cán bộ viên chức trong sự nghiệp y tế.
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn tình trạng cáu gắt với người bệnh và người nhà
Với mục tiêu:
1. Khảo sát thực trạng giao tiếp của điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Nội tiết
với người bệnh.
2. Đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với điều dưỡng trong quá trình
nằm viện.
3. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến sự hài lòng về giao tiếp của điều dưỡng.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. KHÁI NIỆM VỀ GIAO TIẾP
Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Để có thể sống, lao động, học
tập, công tác, con người không thể không dành thời gian để giao tiếp với các cá
nhân khác [8].
Giao tiếp là một nghệ thuật, là một kĩ năng, là sự tiếp xúc tâm lí giữa những
người nhất định trong xã hội nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, lối sống...
tạo nên những ảnh hưởng, những tác động qua lại để con người đánh giá, điều chỉnh
và phối hợp với nhau trong công việc. Trong xã hội, con người phải sử dụng giao
tiếp với mục đích:
- Giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần.
- Từ giao tiếp mà hình thành các mối quan hệ giữa con người với nhau, qua đó
tình cảm giữa cá nhân được thiết lập.
- Để trao đổi thông tin: thông tin mà con người trao đổi với nhau không chỉ là
những kiến thức được thể hiện trong các khái niệm, ngôn từ mà nó còn bao gồm cả
những ý nghĩ, cảm xúc, hứng thú, thái độ…
- Để hiểu biết lẫn nhau: giao tiếp của con người là quá trình trao đổi thông tin
giữa hai (hoặc nhiều) chủ thể chứ không phải là hai thiết bị khác nhau. Trong giao
tiếp nên thể hiện những tán đồng hoặc thể hiện sự lắng nghe với biểu hiện cụ thể
như: gật đầu, tán thành hay có ý kiến trao đổi... [8], [15].
1.2. VAI TRÒ CỦA ĐIỀU DƢỠNG TRONG BỆNH VIỆN
Trong công tác chăm sóc người bệnh (NB) phải kể đến vai trò của các ĐD
trong bệnh viện, họ là nhân tố hết sức quan trọng cộng tác với BS trong việc chăm
sóc và điều trị cho NB. Ngày nay, vai trò của ĐD ngày càng được nâng cao.
Công việc hằng ngày của ĐD chính là tiêm truyền, thực hiện y lệnh và giáo
dục sức khỏe cho NB. Mỗi ĐD đều có mỗi trách nhiệm khác nhau và ĐD là người
đầu tiên tiếp xúc và là người luôn theo sát NB trong quá trình điều trị. Vì thế đòi hỏi
cần phải có kiến thức và kĩ năng không những về chuyên môn mà còn phải có thái
độ kĩ năng giao tiếp tốt [10].
5
1.2.1. Vai trò của điều dƣỡng trong công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời bệnh tại
bệnh viện
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa : sức khỏe là trạng thái thoải
mái về thể chất, tinh thần và xã hội. Nó không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật,
ốm yếu [14]
Ở Việt nam 50% nguồn nhân lực trong hệ thống chăm sóc sức khỏe là ĐD, họ
có mặt ở khắp mọi nơi từ các bệnh viện trung ương đến cộng đồng, từ cơ sở thực
hành chăm sóc đến các cơ sở quản lý, đào tạo và nghiên cứu. Chức năng của ĐD là
chăm sóc nhằm duy trì, phục hồi và nâng cao sức khỏe cho con người, kể cả NB và
những người có nguy cơ mắc bệnh.
Để có thể thực hiện tốt nhất chức năng của mình, người ĐD phải thể hiện năng
lực ở nhiều lĩnh vực: là người chăm sóc cho NB 24/24 giờ, theo dõi xử trí mọi tình
huống kịp thời, linh hoạt, chính xác, hỗ trợ NB về vệ sinh, ăn uống và các hoạt động
hàng ngày khác, theo dõi những diễn biến trên NB để có kế hoạch chăm sóc phù
hợp nhất, thực hiện các kỹ thuật chăm sóc và y lệnh của BS đảm bảo an toàn giúp
NB mau chóng hồi phục, chia sẻ, tư vấn cho NB cả trong lĩnh vực tâm lý, tình cảm,
theo quy định và vận hành bảo quản các thiết bị y tế, là người chăm sóc cả về thể
chất và tinh thần cho NB. Đồng thời bảo vệ NB bằng cách phòng chống nhiễm
khuẩn, đảm bảo môi trường an toàn khi nằm viện, đề phòng tránh lây chéo từ người
này sang người khác.
Phút cuối đời tại bệnh viện chính cũng là người ĐD, công việc của người ĐD
mang đậm nét công việc của người mẹ. Sự tận tâm, tận lực của những ĐD giàu lòng
nhân ái luôn mang lại niềm tin, nghị lực giúp NB vượt qua sự hành hạ của bệnh tật
và nếu như bệnh nặng không cứu chữa được thì giúp đỡ NB có một cái chết trong
trạng thái nhẹ nhàng và thanh thản.
Trong nhiều năm qua, với sự nỗ lực và quyết tâm của cán bộ, viên chức của
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế nói chung và Khoa Nội Tổng hợp - Nội tiết
(NTH – NT) nói riêng, công tác khám chữa bệnh đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, hệ thống bệnh viện đã từng bước hiện đại hoá về trang thiết bị, trình độ
chuyên môn, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ ngày được nâng lên. Tuy nhiên,
hiện nay hệ thống y tế đang đứng trước những thách thức rất lớn về chất lượng dịch
vụ, chi phí, y đức, sự công bằng và sự hài lòng của NB, đây là các vấn đề mà người
dân và xã hội đang quan tâm.
7
Để đáp ứng được các yêu cầu nói trên, bên cạnh việc nâng cao chất lượng
chẩn đoán, điều trị của BS thì việc nâng cao chất luợng chăm sóc đội ngũ ĐD được
coi là một chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo với các
dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo công bằng xã hội trong y tế và sự hài lòng của
người dân [4].
1.2.2. Vai trò giao tiếp của điều dƣỡng trong công tác chăm sóc
Giao tiếp là vấn đề quan trọng trong công tác ĐD, giao tiếp là công cụ để ĐD
có thể trao đổi thông tin với NB cũng như thân nhân một cách có hiệu quả. “Lời nói
là liều thuốc tinh thần” [15]. Chính vì vậy, khi giao tiếp với NB, người ĐD cần đảm
bảo vai trò sau:
điều trị tại bệnh viện. Ngày nay, ĐD không chỉ đơn giản chỉ là thực hiện y lệnh mà
họ còn trực tiếp thăm khám, nhận định, đưa ra kế hoạch chăm sóc và tư vấn giáo
dục sức khỏe cho NB [11]. Chính vì thế ĐD phải trang bị cho mình không chỉ kiến
thức chuyên môn mà còn phải có kĩ năng giao tiếp tốt với người bệnh. Thái độ, cách
ứng xử tốt chính là “liều thuốc tinh thần” quan trọng với mỗi NB. ĐD có vai trò
quan trọng đối với việc chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng, phòng ngừa
bệnh tật. Nhận định về vai trò của công tác ĐD, WHO đã khẳng định: “Điều dưỡng
là một mắt xích quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe. Dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ do người điều dưỡng cung cấp tác động lớn tới sự hài lòng của người bệnh”
và đưa ra khuyến cáo “Ở bất cứ quốc gia nào, muốn nâng cao chất lượng chăm sóc
sức khỏe thì phải chú ý phát triển công tác điều dưỡng” [13].
Để làm tốt công tác, người ĐD cần có những kĩ năng: có kiến thức chuyên
môn tốt, cập nhật kiến thức mới; kĩ năng giao tiếp tốt, có khả năng đào tạo, diễn đạt,
thuyết phục; có lòng nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp. Nâng cao kĩ năng giao tiếp
cho người ĐD cũng chính là nâng cao chất lượng nguồn lực ĐD, hoàn thiện công
tác chăm sóc NB toàn diện. Đây cũng là một nhu cầu cấp thiết của ngành Y tế để
đáp ứng được mục tiêu chiến lược trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân
[4]. Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta, cứ một BS thì có 1,5 ĐD, trong khi tỷ lệ tối thiểu
mà WHO khuyến cáo là 1 BS/4 ĐD. Tỷ lệ này ở Việt Nam thấp nhất trong khu vực
Đông Nam Á [16]. Thiếu người, trình độ chưa cao, áp lực công việc lớn cũng là yếu
tố làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NB trong bệnh viện hiện nay.
9
1.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIAO TIẾP CỦA ĐIỀU DƢỠNG
Song song với sự phát triển xã hội, giao tiếp ngày càng trở nên quan trọng.
Giao tiếp tốt sẽ giúp con người có mối quan hệ tốt, giải quyết công việc một cách
gọn nhẹ, hiệu quả, tạo tâm lí thoải mái, hưng phấn và tạo dựng được các mối quan
hệ gắn bó trong cuộc sống. Đối với ngành y, đây là một nghề nghiệp, đồng thời là
nghệ thuật. Giao tiếp tốt sẽ giúp ĐD hiểu được tâm tư nguyện vọng của NB, tạo tâm
NB [37].
1.4.1. Thang đo đánh giá sự hài lòng của ngƣời bệnh
Có nhiều phương pháp để đánh giá mức độ hài lòng, tuy nhiên việc đánh giá
mức độ hài lòng là vấn đề khá phức tạp, và việc lựa chọn phương pháp đo phù hợp
cũng không hề đơn giản. Trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn thang đo Likert
để đánh giá mức độ hài lòng của NB [42].
Đây là một thang đo được xây dựng trên cách xác định và lựa chọn vấn đề sức
khỏe ưu tiên bằng cách cho điểm vấn đề. Dựa vào đó, mức độ hài lòng càng cao thì
điểm càng cao.
- Thang đo gồm 1 câu hỏi có 5 mức độ lựa chọn:
+ Mức I: rất không hài lòng, rất không tốt, rất không đồng ý.
+ Mức II: không hài lòng, không tốt, không đồng ý.
+ Mức III: chấp nhận được.
+ Mức IV: hài lòng, tốt, đồng ý.
+ Mức V: rất hài lòng, rất tốt, rất đồng ý.
- Đánh giá sự hài lòng thành 2 mức độ:
+ Hài lòng bao gồm: rất hài lòng, hài lòng; điểm trung bình ≥ 3,41 điểm.
+ Không hài lòng bao gồm: chấp nhận được, không hài lòng, rất không hài
lòng; điểm trung bình
12
- Thầy thuốc và nhân viên y tế phải bình tĩnh trong các tình huống tiếp xúc với
người bệnh và người nhà người bệnh.
1.5.2.3. Khi cho người bệnh dùng thuốc
- Bác sĩ giải thích rõ lý do, tác dụng của thuốc và công khai tên thuốc ghi
trong đơn cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh.
- Y tá - điều dưỡng, nữ hộ sinh hướng dẫn cách dùng thuốc, những vấn đề cần
theo dõi và chú ý trong quá trình dùng thuốc.
- Y tá - điều dưỡng, nữ hộ sinh công khai số lượng, loại thuốc dùng cho người
bệnh mỗi lần và hàng ngày.
1.5.2.4. Khi phẫu thuật và làm các thủ thuật thầy thuốc và nhân viên y tế phải
- Thông báo trước và hướng dẫn cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh
những chuẩn bị cần thiết.
- Giải thích cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh khả năng rủi ro có thể
xảy ra.
- Bảo đảm sự kín đáo và tôn trọng người bệnh khi làm thủ thuật.
- Thể hiện thái độ thông cảm, động viên khi người bệnh lo sợ và đau đớn.
- Nếu hoãn hoặc tạm ngừng phẫu thuật, thủ thuật phải giải thích rõ lý do cho
người bệnh hoặc người nhà người bệnh [7].
1.6. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ GIAO TIẾP CỦA ĐIỀU DƢỠNG VỚI
NGƢỜI BỆNH VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƢỜI BỆNH
Giao tiếp là hoạt động vô cùng quan trọng đối với mỗi ĐD vì qua giao tiếp con
người có thể đánh giá chất lượng chăm sóc cũng như chất lượng bệnh viện. Để đánh
giá thực trạng giao tiếp của ĐD hoặc NVYT, người ta thực hiện các nghiên cứu
đánh giá sự hài lòng của NB đối với ĐD, tìm các yếu tố liên quan đến mức độ hài
lòng với công tác chăm sóc khám chữa bệnh.
1.6.1. Nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Chapman ông đã chỉ ra rằng: do khối lượng công việc
kết quả thu được 94,23% NB đánh giá là chu đáo niềm nở; 99,04% NB trả lời ĐD
có giải thích về bệnh tật; 97,6% NB hài lòng về thái độ, ứng xử của ĐD; 98,7% NB
thấy không phiền hà gì khi nằm điều trị tại bệnh viện [19].
14
Nghiên cứu của Phạm Thị Nhuyên (2013), khảo sát sự hài lòng của người nhà
NB với giao tiếp của ĐD tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, kết quả thu được: tỷ
lệ hài lòng và rất hài lòng chiếm 95%; 5% chưa hài lòng. Trong đó chưa hài lòng về
giải thích nội quy khoa phòng và chế độ ăn uống chiếm 18,3%; tỷ lệ NB được
hướng dẫn và thông báo cách sử dụng thuốc 26,7% [25].
Theo nghiên cứu của cử nhân Phạm Thanh Hải và Đinh Thị Thanh Thúy
(2015) nghiên cứu trên 250 NB điều trị nội trú từ 3 ngày trở lên. Kết quả tỷ lệ NB
cho rằng ĐD có kĩ năng giao tiếp tốt là 66,4%; tỷ lệ rất hài lòng là 35,6%; hơi hài
lòng là 50,8%; không hài lòng là 3,2%; rất không hài lòng là 1,2% [18]. Nghiên cứu
của Nguyễn Văn Chung nghiên cứu khảo sát sự hài lòng của 447 NB và thân nhân
NB đến khám và điều trị nội trú tại Bệnh viên Quân y 110, chúng tôi thấy: tỷ lệ NB
đến khám và nằm điều trị nội trú có độ tuổi từ 50 trở lên là 62,19%, chủ yếu thuộc
diện BHYT là 71,59%. Sự hài lòng tiếp cận dịch vụ từ 72,04% - 90,16%, đặc biệt
hướng dẫn thủ tục hành chính đạt 90,16%. Hài lòng về công tác ĐD đạt từ 66,44% 94,85% trong đó về công khai thuốc đạt 94,85% [14].
Qua nghiên cứu của Đinh Ngọc Toàn và Trần Thị Nhung tiến hành nghiên cứu
trên 460 NB từ tháng 3/2012 đến tháng 12/2012 nghiên cứu trên 15 Khoa lâm sàng
tại Bệnh viện Đa khoa Tỷnh Ninh Bình, phần lớn NB đánh giá tốt và cảm thấy hài
lòng với việc thực hiện quy chế giao tiếp của ĐD. Tuy nhiên tỷ lệ không hài lòng
vẫn còn cao 2,4% và tập trung vào các vấn đề như: thái độ khi trả lời câu hỏi, không
giới thiệu đầy đủ nội quy khoa phòng... Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ĐD
không giới thiệu tên, chức danh khi NB vào khoa chiếm tỷ lệ cao (22,4%). Tỷ lệ NB
đang điều trị tại khoa đánh giá ĐD xưng hô tốt và rất tốt ở mức cao (95,2%); 1,7%
NB cho rằng ĐD có những cử chỉ, lời nói thể hiện sự gợi ý nhận tiền, quà biếu của
NB. Kết quả phân tích cho thấy, có mối liên quan giữa tuổi, nghề nghiệp với sự hài
- NB không đồng ý tham gia phỏng vấn.
- NB mắc một số bệnh như: tâm thần, hôn mê, câm điếc, bệnh nặng... không
có khả năng trả lời phỏng vấn.
- NB mới vào viện điều trị chưa được 3 ngày.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Khoa Nội Tổng hợp – Nội tiết Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
2.2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2015 đến 3 năm 2016.
2.2.4. Phƣơng pháp thu thập số liệu
- Gặp trực tiếp NB để phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế (phần
phụ lục).
- Do điều kiện về thời gian, chúng tôi không thể lấy hết ý kiến của tất cả NB vào
viện, để đảm bảo tính ngẫu nhiên chúng tôi tiến hành chọn những NB có ngày vào viện
là ngày chẵn (mồng 2,4,6...) sau đó 3 ngày tiến hành điều tra trên những NB đó.
17
- Lấy ý kiến thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế dựa trên quy định của Bộ y
tế, mỗi người chỉ tham gia phỏng vấn một lần duy nhất.
2.2.5. Cách tính cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một Tỷ lệ
n = Z2 (1-
)
, trong đó: