skkn Các biện pháp tăng cường phối hợp giữa GVCN và BCS lớp trong công tác quản lí lớp học bậc THPT - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Chu Văn An
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP
GIỮA GVCN VÀ BAN CÁN SỰ LỚP
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÍ LỚP HỌC BẬC THPT

Người thực hiện: Lê Thị Cẩm
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: .............................

(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

Năm học: 2014 - 2015



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. Giáo viên chủ nhiệm: GVCN
2. Trung học phổ thông: THPT
3. Ban cán sự: BCS
4. Điện thoại di động: ĐTDĐ
5. Kiểm tra tập trung: KTTT
6. Hạnh kiểm: HK
7. Giáo viên: GV
8. Công nhân viên: CNV
9. Trung bình: TB
10. Học sinh: HS
11. Học sinh giỏi: HSG
12. Xếp loại: XL

3


CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP
GIỮA GVCN VÀ BAN CÁN SỰ LỚP
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÍ LỚP HỌC BẬC THPT

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT nói riêng và ở tất cả các
đơn vị trường học nói chung là rất quan trọng. Một phần trách nhiệm nặng nề ấy
được giao phó cho người GVCN của từng lớp học. Nếu công tác trên được thực
hiện có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy học sinh không ngừng học tập và rèn luyện,
trang bị đủ đức và tài để bước vào một tương lai mới, trở thành những nhân tố tích
cực cho xã hội sau này. Vì thế, việc quản lí chặt chẽ và giáo dục học sinh kịp thời

hoạt động sư phạm cho cá nhân và tập thể học sinh. Người thầy vừa là nhân tố gắn
kết các học sinh thành một tập thể vừa là người huy động và phối hợp các lực
lượng để giáo dục học sinh. Cho nên, năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm giáo
dục là tất yếu cần có đối với mỗi giáo viên. Năng lực này thể hiện ở chỗ tổ chức và
cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau của công tác dạy học và giáo dục
ở trên lớp cũng như ngoài trường, bao gồm cả các hoạt động ngoại khóa. Năng lực
này còn thể hiện ở chỗ biết đoàn kết học sinh thành một tập thể thống nhất, lành
mạnh, có kỉ luật, có nề nếp, đảm bảo cho mọi hoạt động của tập thể lớp diễn ra một
cách thuận lợi, biến tập thể học sinh thành một “thầy giáo thường trực” mà trong
đó cốt cán phải là dàn cán sự lớp.
Bên cạnh đó, học sinh ở cấp THPT có thể nói là đã có sự phát triển khác biệt
hơn hẳn so với các cấp học trước đó. Các em bắt đầu có sự tự ý thức cao hơn, tinh
thần trách nhiệm hơn, hình thành những quan điểm nhận thức riêng, có nhu cầu tự
khẳng định bản thân trong một tập thể, có khả năng hợp tác và hoàn thành các
nhiệm vụ được giao. Đối với những học sinh tích cực, năng động, các em còn
mong muốn được hoạt động đóng góp công sức vào việc chung của lớp của
trường, được thầy cô giao cho những nhiệm vụ vừa sức và phù hợp với cá tính hay
nguyện vọng của bản thân. Vì thế giáo viên có thể mạnh dạn phân công công việc
cho học sinh của mình. GVCN hoàn toàn có thể chọn ra cho lớp một đội ngũ cán
sự để điều hành quản lí quá trình rèn luyện của lớp dưới sự hướng dẫn của giáo
5


viên. Đây sẽ là những em học sinh hỗ trợ đắc lực cho GVCN, vừa chia sẻ một phần
công việc với giáo viên vừa có cơ hội phát huy những năng lực của bản thân. Thêm
vào đó, một điều không thể phủ nhận: so với GVCN, chính cán sự lớp là những
người tiếp xúc thường xuyên hàng ngày hàng giờ với các học sinh trong lớp cho
nên nắm rõ mọi diễn biến trong tình hình lớp. Các học sinh ấy chính là “đôi mắt
quan sát” tinh nhạy nhất đối với lớp từ đó báo cáo với GVCN những điều cần thiết,
thảo luận và cùng tìm ra những biện pháp hợp lí để khắc phục hạn chế, phát huy

đóng góp không nhỏ vào công tác của lớp, của trường;…
- Khó khăn: Một số học sinh tinh thần ý thức tự giác trong rèn luyện chưa
cao; chưa chủ động và tích cực tham gia các hoạt động tập thể; thiếu trách nhiệm
với bản thân và tập thể hoặc vi phạm với mức độ thường xuyên nội quy lớp,
trường;…
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Để tăng cường quá trình trao đổi, hợp tác phối hợp giữa GVCN và ban cán
sự lớp, GVCN cần chủ động tạo ra nhiều kênh thông tin khác nhau. Vì thế ngoài
việc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp, GVCN có thể thiết kế những mẫu phiếu để giúp các
tổ trưởng, lớp trưởng hay bí thư đoàn theo sát và nắm rõ tình hình rèn luyện của
các thành viên trong lớp. Sau đây, người viết xin được triển khai một số mẫu phiếu
như sau:
1. Phiếu theo dõi dành cho các tổ trưởng
GVCN thiết kế phiếu theo dõi quá trình học tập và rèn luyện cho các học
sinh. Phiếu này do tổ trưởng mỗi tổ quản lí, thống kê và xếp loại dựa trên sự xác
nhận của từng thành viên. Các tổ trưởng sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua
các tài liệu liên quan như: sổ đầu bài, sổ kỉ luật của lớp, sổ theo dõi của lớp trưởng,
sổ trực của quản sinh (người thống kê là lớp trưởng), sổ theo dõi của chính các tổ
trưởng.
Vào cuối mỗi tuần trong tiết sinh hoạt, tổ trưởng sẽ báo cáo tình hình của tổ
và kết quả rèn luyện của từng thành viên để GVCN nắm và xác nhận làm căn cứ
báo về cho gia đình học sinh qua hệ thống sổ liên lạc điện tử mà hầu hết các đơn vị
trường học hiện nay đều sử dụng. Và đây cũng chính là một trong những căn cứ để
GVCN tiến hành tổng hợp, xếp loại hạnh kiểm học sinh theo từng tháng, nắm được
7


quá trình học tập rèn luyện của từng học sinh, kịp thời nhắc nhở những học sinh
kém ngoan, còn vi phạm và khen ngợi những học sinh tiến bộ và có những thành
tích nổi bật trong học tập cũng như các phong trào ở trường lớp phát động.

trừ
(3)

Thành
tích
(4)

Điểm Điểm Kí
cộng
đạt
xác
(5)
được nhận
(6)
(7)

Tổng
điểm


Tổ trưởng nhận xét:
+Ưu điểm
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………….
+ Khuyết điểm:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………….
+ Sự việc bất thường:
8


lí: ví dụ không học bài một lần -1; đi học trễ một lần -1; nghỉ học không phép một
lần -2; ...Điểm trừ theo đúng quy định và cũng cần có sự linh hoạt trong từng
trường hợp cụ thể nhất là những trường hợp đặc biệt thì GVCN cần xem xét kĩ
lưỡng để hướng dẫn học sinh hoặc yêu cầu các tổ trưởng chỉ ghi lỗi vi phạm còn
trừ điểm như thế nào GVCN sẽ cân nhắc. Sau đây là tiêu chuẩn đánh giá xếp loại
9


hạnh kiểm học sinh trong năm học của trường THPT Chu Văn An. GVCN căn cứ
vào các quy định chung này để làm việc tại lớp. Trường THPT Chu Văn An căn cứ
vào những quy định về đánh giá xếp loại hạnh kiểm của Bộ, của Sở GD – ĐT, và
căn cứ vào tình hình thực tế tại đơn vị trường, thống nhất tiêu chuẩn đánh giá xếp
loại hạnh kiểm như sau:
Mỗi tháng học sinh được 10 điểm hạnh kiểm.
Những lỗi bị trừ điểm:
Lỗi vi phạm
Số điểm bị trừ
Đi học trễ (kể cả vào lớp trễ trong giờ chuyển tiết hoặc giờ - 1 điểm /lần
ra chơi)
Nghỉ học không phép
Cúp tiết
Không thuộc bài
Mất trật tự trong giờ học
Làm việc riêng trong giờ học (sử dụng ĐTDĐ, học bài

- 2 điểm/lần
- 2 điểm/lần
- 1 điểm /lần
- 1 điểm /lần
- 2 điểm/lần

- Cả năm: Lấy điểm HK học kì 2 nhân hai, cộng điểm HK học kì 1 chia cho 3
Ở cột số (4), (5): Đây là một phần GVCN nên quan tâm và lưu ý vì khi
giảng dạy học sinh chúng ta thường có điểm thưởng, điểm cộng nhưng khi quản
lí học sinh, xếp loại hạnh kiểm cho các em chúng ta thường bỏ quên việc này.
Đó sẽ là một thiếu sót không nhỏ trong công tác chủ nhiệm. Như vậy những học
sinh nào có ý thức phấn đấu sẽ có cơ hội khắc phục những lỗi vi phạm bị trừ
điểm bằng cách nỗ lực đạt những thành tích trong quá trình học tập và rèn
luyện. Sau đây là một số gợi ý về việc cộng điểm cho học sinh khi các em đạt
các thành tích:
+ Đạt điểm 9, 10 ở bất cứ bộ môn và bất cứ thành phần điểm nào trong một tuần sẽ
cộng 0.25 điểm cho điểm hạnh kiểm của tháng
+ Đạt điểm 9, 10 ở các kì kiểm tra tập trung của cả trường cộng 0.5 điểm cho điểm
hạnh kiểm của tháng
+ Đạt giải trong các cuộc thi nhà trường phát động như: thể thao, ẩm thực, văn
nghệ,…cộng 0.5 điểm cho điểm hạnh kiểm của tháng
+ Được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi của trường, cộng 0.5 điểm cho điểm hạnh
kiểm của tháng đó
+ Thi học sinh giỏi cấp tỉnh đạt giải cộng 1 điểm vào hạnh kiểm của tháng thấp
điểm nhất
Trên đây là những hình thức khích lệ các em học sinh mà người viết thiết
nghĩ mỗi GVCN nên chăng cần quan tâm đến nhiều hơn, sâu sát hơn để học sinh
nhận thấy khi đến lớp các em không chỉ có những nhiệm vụ phải hoàn thành mà
còn được hưởng những quyền lợi, được khích lệ và công nhận một cách xứng đáng
khi đạt được thành tích trong mọi lĩnh vực từ học tập cho đến các phong trào thi
đua. Sau đây là một số thành tích tiêu biểu học sinh lớp 10A1 đạt được và GVCN
đã cộng điểm HK cho các em:
Họ tên HS

Thành tích


7. Nguyễn Minh Đức
8. Trương Thành Nhân
9. Nguyễn Thọ Tuấn
10. Hoàng Nhật Trà
11. Nguyễn Hoàng Anh
12. Lương Minh Gia Bảo
13. Nguyễn Ngọc Mai Hương
14. Nguyễn Ngọc Hoàng Hoa
15. Nguyễn Thành Cao Phát

Được vào đội tuyển HSG môn Văn
Được vào đội tuyển HSG môn Văn
Được vào đội tuyển HSG môn Văn
Được vào đội tuyển HSG môn Sinh
Được vào đội tuyển HSG môn Sinh
Được vào đội tuyển HSG môn Anh
Được vào đội tuyển HSG môn Anh
Được vào đội tuyển HSG môn Anh
Được vào đội tuyển HSG môn Anh
Được vào đội tuyển HSG môn Anh

0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm

được (2)

Điểm bình quân
(3)

Xếp hạng
(4)

Tổ 1 (6)
Tổ 2 (7)
Tổ 3 (8)
Tổ 4 (6)
Tổ 5 (7)
Tổ 6 (8)
Lớp trưởng xác nhận
GVCN xác nhận
Một số điểm lưu ý khi triển khai mẫu phiếu này cho các lớp trưởng và học
sinh trong lớp:
Ở cột (1): GVCN cần lưu ý lớp trưởng phải ghi chú tổng số thành viên của
từng tổ để làm căn cứ tính điểm xếp hạng cho cả tổ. Một số lí do khiến chúng ta
phải ghi rõ số thành viên: thứ nhất có thể số thành viên của các tổ không được chia
bằng nhau do đặc điểm vị trí của học sinh trong lớp, thứ hai do trong năm học
GVCN có thể đổi chỗ cho học sinh vì thế số thành viên trong tổ có thể tăng hoặc
giảm.

13


Ở cột số (2): Đây là cột ghi tổng điểm đạt được của các tổ nhưng cột này
không dùng làm căn cứ để xếp thứ hạng cho các tổ tham gia thi đua. Lí do như đã


Lớp trưởng là người trực tiếp tổng kết điểm số của các tổ qua mỗi tuần, sau
đó bàn giao lại cho Bí thư Đoàn của lớp. Bí thư sẽ là người tổng kết công tác rèn
luyện thi đua của lớp theo từng tháng.
Mẫu phiếu cụ thể như sau:

PHIẾU TỔNG KẾT RÈN LUYỆN
Lớp:
Tháng:
Bí thư:
Đơn
vị tổ

Điểm thi đua theo tuần
Tuần 1

Tuần 2

Tuần 3

Tuần 4

Điểm

Xếp

tháng

hạng


trù kinh phí cho phần thưởng cũng như cân nhắc phần thưởng là gì cho phù hợp.
Về kinh phí có thể trích từ nguồn quỹ lớp, quỹ đóng góp của phụ huynh, quỹ tài trợ
của các mạnh thường quân hay quỹ do chính GVCN chủ động. Tùy theo điều kiện
và hoàn cảnh GVCN có thể linh hoạt ở khâu này, cốt là để động viên, cổ vũ tinh
thần học tập, rèn luyện và thi đua cho lớp mình. Về phần thưởng, có thể là những
chiếc móc khóa xinh xắn, là những đồ kẹp giấy dễ thương, là một cuốn truyện ý
nghĩa hấp dẫn, một tuần không trực nhật cho cả tổ, một bài hát cả tổ yêu thích,…
4.2. Biện pháp giáo dục học sinh
Có thể nói hiện nay trên báo chí và các kênh thông tin đại chúng, việc giáo
viên đánh học sinh, học sinh đánh trả giáo viên là một vấn đề nhức nhối và đáng để
chúng ta trăn trở. Trăn trở để làm sao hạn chế tối đa những tình trạng ấy, trăn trở
làm sao để bản thân một người giáo viên đừng bao giờ trượt vào vết xe lầy ấy.
Điều người viết muốn nói ở đây là biện pháp giáo dục học sinh. Học sinh mắc lỗi,
thậm chí là vi phạm liên tục những lỗi nặng đương nhiên là chúng ta phải giáo dục,
phải có biện pháp nhưng đừng bao giờ biến biện pháp giáo dục của mình thành nỗi
khiếp sợ của học sinh. Trong mọi trường hợp nên chăng chúng ta luôn cần sự mềm
mỏng, khéo léo, thực hiện chiến thuật “đánh vào lòng người”. Tuy nhiên, trước hết
vẫn là những biện pháp nền căn bản, có tính truyền thống, quen thuộc, phù hợp
trong môi trường học đường: trực nhật vệ sinh lớp học, chuẩn bị cơ sở vật chất cho
giờ chào cờ đầu tuần kết hợp viết kiểm điểm, cam kết,…Bên cạnh đó, người viết
mạnh dạn đề xuất một số hình thức giáo dục có tính gắn kết tập thể với một số hình
thức như sau:

16


+ Viết kịch bản và diễn lại một tiểu phẩm có liên quan đến học tập, trường
lớp, bạn bè .
+ Hoàn thành một bức biếm họa về những thói hư tật xấu của giới trẻ ngày
nay hay những vấn đề nóng bỏng dư luận quan tâm tới.

Việc áp dụng một số biện pháp như đã trình bày ở trên mang lại những lợi
ích thiết thực đối với công việc của GVCN, nhìn từ hai góc độ:
Đối với GVCN: GVCN có một đội ngũ cán bộ lớp có khả năng theo sát tình
hình các học sinh khác trong lớp, hợp tác với GVCN để đẩy mạnh phong trào học
tập thi đua trong lớp nói riêng và trong trường nói chung; GVCN nắm rõ và kịp
thời thông báo với phụ huynh học sinh những trường hợp vi phạm đặc biệt; GVCN
dễ dàng và thuận lợi hơn trong công tác xếp hạnh kiểm từng tháng cho từng học
sinh trong lớp vì đã có các phiếu thống kê lỗi vi phạm và thành tích đạt được.
Đối với cán bộ lớp và học sinh trong lớp: Cán bộ lớp được tạo điều kiện làm
việc một cách nghiêm túc, khoa học và nâng cao tinh thần hợp tác, tinh thần trách
nhiệm với công việc được giao cũng như với tập thể lớp; Phát huy tiềm năng quản
lí, lãnh đạo ở một số học sinh tích cực, năng động; Học sinh có ý thức hơn trong
việc rèn luyện và học tập, nâng cao phong trào thi đua trong lớp,…
Kết quả rèn luyện của tập thể lớp 10A1 trong năm học 2014 – 2015:
Học sinh không có những vi phạm nghiêm trọng như vi phạm an toàn giao
thông, bạo lực học đường, các tệ nạn xã hội,…
Không xảy ra tình trạng cúp tiếp, cúp học.
Kết quả thi đua trong học kì 1 và từ đầu học kì 2 tính đến hết tháng 03/2015
được quản sinh thống kê số liệu cụ thể như sau:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

XL Khối XL Trường
1
3
4
2
1
2
5
4
3
6
1

4
14
16
9
1
2
12
11
8
13
3

HỌC KÌ 2 (Tháng 1 → 3)
Điểm XL Khối XL
9.79
9.40
9.43

9
11
5
18


12
13
14
15
16

12A2
12A3
12A4
12A5
12A6

9.63
9.37
9.51
9.70
9.62

3
6
5
2
4


quá trình tìm tòi, đổi mới trong cách quản lí cũng như trong cách phối hợp với học
trò. Người viết đã tin tưởng áp dụng một số biện pháp nhỏ từ sự trăn trở và kinh
nghiệm của bản thân, nhận thấy bản thân đã thu được một số kết quả nhất định
trong công tác chủ nhiệm được nhà trường giao phó.

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Văn Dũng – Xây dựng tiết sinh hoạt lớp sinh động gắn với giáo dục đạo
đức của học sinh và nâng cao chất lượng học tập.
2. Trịnh Đình Hoài – Biện pháp xây dựng nề nếp lớp chủ nhiệm. Năm 2010.
3. Lê Văn Hồng (Chủ biên) – Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội. Năm 2007.
4. Lê Thị Kim Hương – Biện pháp quản lí học sinh trong công tác chủ nhiệm. Năm
2011.
5. Nguyễn Xuân Nghĩa – Xã hội học. Năm 2003.

20


6. Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Tâm lí học đại cương. Nxb Đại học Sư phạm.
năm 2006.

MỤC LỤC
I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………….4
II. Cơ sở lí luận và thực tiễn……………………………………………..................5
1. Cơ sở lí luận…………………………………………………...………….5
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status