BM 01-Bia SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG
GIẢNG MÔN CHẠY BỀN ĐỐI VỚI HS TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI
TRÚ TỈNH VÀ HS LỚP 10 NÓI RIÊNG
Người thực hiện: NGUYỄN TRUNG HẬU
Lĩnh vực nghiên cứu: Thể dục Thể thao
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Chạy bền lớp 10
- Lĩnh vực khác: .......................................................
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2014 - 2015
-1-
BM02-LLKHSKKN
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG GIẢNG MÔN CHẠY BỀN ĐỐI VỚI
HS TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH VÀ HS LỚP 10 NÓI RIÊNG
ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ Lời nói đầu
Hiện nay phong trào TDTT trong đời sống xã hội nói chung và trong trường học
nói riêng với mục đích rèn luyện thể chất và trí tuệ trong đời sống hiện đại của thế
kỷ XXI…con người không ngừng vận động và phát triển về tư duy cao nên rèn
luyện thể lực, phát triển thể chất là một trong những yếu tố quan trọng, không thể
thiếu được.
Như trong câu nói của đ/c Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Chữ Thể dục rất hay,
đó là sự giáo dục và rèn luyện cải tạo cơ thể con người. Là một cơ thể sống, người
ta có thể “dạy nó, rèn luyện nó, cải tạo nó từ khi còn nhỏ đến bất cứ tuổi nào nếu
biết cách làm!...” “Chữ Thể dục hay lắm: giáo dục cơ thể, đào tạo cơ thể, rèn luyện
cơ thể”.
Như Bác Hồ có nói “Phải đào tạo con người vừa hồng vừa chuyên, tức là người
có đầy đủ đức tính “Đức, Trí, Văn thể, Mỹ”. Đối với môn thể dục cũng góp phần
quan trọng tạo nên những phẩm chất cần thiết cho con người toàn diện.
Cùng với xu thế đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học.
Trong bộ môn thể dục của tôi, tôi cùng muốn xin đóng góp thêm phần kinh nghiệm
của mình sau những năm giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn và
nâng cao sức khoẻ HS và đào tạo ra con người mới XHCN phải có đầu óc thông
minh, nhanh nhẹn và mạnh khoẻ để phục vụ trong công cuộc XD phát triển và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
II/ Lý do chọn đề tài
Hiện nay trong giảng dạy TDTT gồm nhiều hoạt động giáo dục khác nhau.
Nhưng nói riêng với môn chạy bền là 1 môn rất là khô cứng, đơn điệu, là 1 môn
đặc trưng để rèn luyện thể lực, ý chí nên việc giảng dạy và huấn luyện môn này đã
khó, càng khó dạy cho hấp dẫn, cho hay. Nhiều lúc trong khi dạy HS có phản ánh
với tôi như “Thưa thầy học gì mà cứ phải chạy mãi thế này”. Tôi cũng trả lời 1 câu
vừa có ý hài hước vừa có ý sự thật là: “Học chạy bền mà không chạy thì làm gì
góp ý kiến để bộ môn này được hoàn thiện, nâng cao chất lượng giảng dạy hơn
nữa. Tạo cho HS coi như môn này trở thành nhip đập trong trái tim của mỗi HS nói
riêng và con người chúng ta nói chung không thể thiếu được.
III/ Đặc điểm tình hình của trường và đối tượng nghiên cứu
1. Đặc điềm tình hình của trường
- Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh là một trong những trường chuyên biệt của
tỉnh Đồng Nai. Tổng số học sinh của trưởng hàng năm khoảng 390 em nhập học từ
đầu năm ,với tổng số lớp là 12 lớp trong đó mỗi khối 4 lớp. Riêng đối với khối lớp
10 theo chỉ tiêu của cấp trên cho tiếp nhận là 140 học sinh.
- Đối tượng học sinh vào học là hầu như là dân tộc thiểu số trên địa bàn trong
tỉnh Đồng Nai và đa số các em học sinh gia đình thuộc diện hộ gia đình nghèo khó
trong tỉnh. Với điều kiện gia đình nghèo khó nên chế độ ăn uống của các em ở nhà
hầu là thiếu thốn vì vậy sức khoẻ của các em đa số là yếu, không được khoẻ mạnh
như học sinh trường ngoài.
- Tất cả các em học sinh lên trường học là sống tập thể, ở nội trú tại trường nên
điều kiện ăn ở, học tập và sinh hoạt điều diễn ra tại trường.
- Vì vậy trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường các em học sinh có
những thuận lợi và khó khăn như sau:
1.1 Thuận lợi
- Do tất cả các em học sinh được ở tại khu ký túc xá của trường với điều kiện cơ
sở vật chất, sân bãi dụng cụ của trường khá đầy đủ nên việc luyện tập ngoại khoá
của các em tại trường thuận lợi hoàn toàn.
- Được sự quan tâm và tạo điều kiện kịp thời của ban giám hiệu nhà trường đã
tạo điều kiện tốt cho tôi để tiếp cận và kiểm tra theo dỏi, nhắc nhở và động viên kịp
thời cho các em luyện tập ngoại khoá thường xuyên, liên tục để tạo nên thói quen
rèn luyện thể thao nói chung, luyện tập chạy bền nói riêng.
-4-
- Tôi được sắp xếp ở tại khu tập thể của trường nên việc vào trường theo dỏi
sức khỏe, thể chất, trí tuệ cho các em là một trong những vấn đề cần phải được
quan tâm và phát triển nâng cao. Hôm nay chọn chuyên đề nghiên cứu là:“Một số
kinh nghiệm trong giảng dạy môn Chạy bền đối với học sinh trường PT Dân tộc
Nội trú tỉnh và học sinh lớp 10 nói riêng”
2. Đối tượng nghiên cứu
- Là học sinh khối lớp 10 của trường PT Dân tộc Nội trú tỉnh Đồng Nai
- Với cụ thể là học sinh khối lớp 10 và hàng năm theo chỉ tiêu quy định của tỉnh
số lượng học sinh được tuyển vào trên địa bàn toàn tỉnh là 140 em học sinh. Theo
chỉ tiêu hàng năm thống kề của khối lớp 10 thì số lượng học sinh nữ hơn gấp đôi số
học sinh nam.
-5-
- Với số học sinh nữ được tuyển vào hầu như sức khoẻ của các em yếu hơn học
sinh nam.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Soạn thảo bài tập ứng dụng
1. Nhận định tình hình chung
Theo tôi nhận thấy khi huấn luyện một số vận động viên học sinh hay học sinh
của 1 khối lớp với môn Điền kinh nói chung trước hết chúng ta phải tìm hiểu về
tình hình sức khoẻ chung, gốc gát về tố chất thể lực, điều kiện sống cũng như chế
độ ăn uống, dinh dưỡng của các em, thời gian huấn luyện, tập luyện của các em từ
đó mới đưa ra bài tập phù hợp với các em để không ảnh hưởng về lâu về dài đến
sức khoẻ của các em sau này.
Vì vây đối với đặc điểm đối tượng là học sinh của trường PT Dân tộc Nội trú
tỉnh Đồng Nai và khi các em bước vào luyện tập môn Chạy bền thì trước hết cần
chú ý có 2 đặc điểm sau:
* Thứ nhất: Về thuận lợi là các em ở tại trường nên có điều kiện tốt trong luyện
tập và giáo viên ở khu tập thể của trường nên dễ dàng theo dỏi nhắc nhở, động viên
các em luyện tập như vậy có thời gian tổ chức cho các em thường xuyên, liên tục
chung, đó là các bài tập với khối lượng vừa đến lớn, có cường độ từ 40% - 85%
sức, quãng nghỉ không có hoặc ngắn (Nghỉ tích cực bằng đi bộ hoặc chạy nhẹ
nhàng), các dạng bài tập ứng dụng:
+ Bài tập 1: Chạy đạp sau liên tục 60 – 100m.
+ Bài tập 2: Chạy nâng cao đùi 20m chuyển sang chạy tốc độ 100m.
+ Bài tập 3: Chạy gót chạm mông 20m chuyển sang chạy 200 – 300m (70%
sức).
+ Bài tập 4: Chạy theo đường díc dắc 20m chuyển sang chạy tốc độ 50m.
+ Bài tập 5: Chạy biến tốc cự ly 100m + 100m hoặc 200m + 200m.
+ Bài tập 6: Chạy lặp lại cự ly chạy từ 100 – 200m.
+ Bài tập 7: Quay dây tại chổ tần số nhanh 30’ – 1 phút.
+ Bài tập 8: Chạy trên địa hình tự nhiên, vòng số 8 từ 2 đến 3 phút.
+ Bài tập 9: Chạy tuỳ sức 5 – 7 phút.
+ Bài tập 10: Chạy biến tốc cự ly 300 – 500m.
+ Bài tập 11: Chạy Việt dã biến tốc 1000 – 1500m tối đa ở giai đoạn đầu sau đó
tăng dần từ 3000 – 4000m.
2.2 Phương pháp huấn luyện sức bền chuyên môn
2.2.1 Phương pháp kéo dài
+ Phương pháp liên tục: Duy trì tốc độ vận động trong một thời gian dài, cường
độ vận động có thể xác định rõ ràng thông qua mạch đập. Cường độ vận động tuỳ
theo yêu cầu của từng môn thể thao, có thể dao động trong khoảng 140 – 150 l/ph.
Nếu sử dụng mạch đập để xác định cường độ vận động của học sinh, cần chú ý các
đặc điểm là những học sinh ở lứa tuổi 16, 17 khi thực hiện các lượng vận động
thường có mạch đập cao hơn những học sinh lứa tuổi 18, 19.
+ Phương pháp thay đổi: Thay đổi tốc độ vận động có kế hoạch trong quá trình
thực hiện lượng vận động, khi tăng tốc độ vận động làm cho các hoạt động của các
cơ quan cung cấp năng lượng bị căng thẳng, tạo nên quá trình trao đổi thiếu ôxy
trong khoảng thời gian nhất định.
+ Phương pháp ngẫu hứng; Tốc độ vận động thay đổi theo hứng thú của học
sinh. Phương pháp này sử dụng trong môi trường tự nhiên.
1 số trường hợp không mạnh dạn, lười tập luyện. Hướng dẫn học sinh biết cách
kiểm tra sức khoẻ, thể lực của mình. Nói chung giáo viên phải hoà nhập với học
sinh về sự diễn biến thể lực của các em để đề ra bài tập phù hợp vớiv từng buổi tập.
- Đề ra các bài tập ứng dụng trong tập luyện ngoại khoá, về cuối môn tăng dần
khối lượng vận động, sau đó xen kẽ các bài tập nhẹ nhàng để điều chỉnh thể lực của
các em học sinh cho phù hợp với thời kỳ kết thức và kiểm tra.
- Cuối mỗi buổi tập nên để dành ít phút rút kinh nghiệm luyện tập hoặc nêu
những gương luyện tập, thi đấu của học sinh trong trường… để làm động lực cho
các em học cố gắng luyện tập.
-8-
2. Một số hình ảnh tư liệu về việc tổ chức tập luyện và thi đấu của học sinh
trường
Ảnh: Học sinh tập luyện chạy bền vào buổi sáng
Ảnh: Tổ chức Hội Khoẻ Phù Đổng cấp trường môn Chạy bền nam
-9-
Ảnh: Tổ chức Hội Khoẻ Phù Đổng cấp trường môn Chạy bền nữ
Ảnh: Đội học sinh tham gia giải Việt dã tỉnh Đồng Nai năm 2014
Ảnh: Học sinh nhận giải Việt dã tỉnh Đồng Nai năm 2014
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
I. Kết quả thực tế đạt được
69 (51,88%)
133 (100%)
+ Phần thống kê thành tích học sinh của trường thi đấu môn Chạy bền đạt được
trong những năm gần đây như sau:
Năm
2012-2013
Cấp độ giải
Thành tích đạt được
+ 2 huy chương cá nhân (1 vàng,
Hội thi Văn hoá - Thể thao các 1 bạc)
Dân tộc Thiểu số tỉnh
+ 2 huy chương đồng đội(1 vàng,
1 bạc)
+ Đại hội TDTT lần thứ 3 + 1 huy chương vàng .
huyện Trảng Bom.
2013-2014
+ Hội thi Văn hoá - Thể thao + 1 huy chương bạc cá nhân nữ và
các Dân tộc Thiểu số tỉnh.
huy chương bạc đồng đội nữ
+ Giải Việt dã truyền thống + 1 huy chương bạc cá nhân nữ
tỉnh.
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Trường PT Dân tộc Nội trú tỉnh
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trảng Bom, ngày
tháng
năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 – 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm trong giảng dạy môn Chạy bền đối với HS
trường PT Dân tộc Nội trú và HS lớp 10 nói riêng
Họ và tên tác giả: Nguyễn Trung Hậu
Chức vụ: Giáo viên Thể dục, Trưởng ban PT TDTT
Đơn vị: Trường PT Dân tộc Nội trú tỉnh
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Chạy bền
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác: ........................................................
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Trong Ngành
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh nghiệm này
đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường xem xét, đánh giá; tác
giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ
của chính tác giả.
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của tác giả và người
có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN
XÁC NHẬN CỦA TỔ
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CHUYÊN MÔN
- 13 -