SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG
DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở
TRƯỜNG THCS
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
“Văn học là nhân học”.Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống và trong
sự phát triển tư duy của con người.
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng
trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời là môn
học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học
khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khácvà ngược lại các
môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Điều đó đạt ra yêu cầu tăng cường
tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức
phong phú, sinh động của cuộc sống.
Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chương trình
biên soạn lại SGK các môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của
học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp dạy học.
Đặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theo tinh thần
tích hợp. Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản và tương ứng với
kiểu văn bản là thể loại tác phẩm chứ không phải là sự lựa chọn theo lịch sử văn
học về nội dung. Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng, phù hợp với tâm lý lứa tuổi
THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại
những vấn đề quen thuộc, gần gũi hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều
quân tâm đến.
Văn bản Nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS mang nội dung “gần
kinh nghiệm trong giảng dạy văn bản Nhật dụng ở trường THCS” để góp phần
nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản Nhật dụng và để học sinh yêu thích giờ học
văn.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra hướng giải quyết một số khuất mắc về kiến thức và phương pháp dạy
học, từ đó có thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần văn bản Nhật dụng, đáp ứng nhu
cầu đổi mới chương trình Ngữ văn THCS hiện nay.
1. Thời gian-địa điểm:
a/ Thời gian:
Bắt đầu nghiên cứu tháng 9/2009
Hoàn thành tháng 3/2010
b/ Địa điểm: Trường THCS Thị Trấn Ba Tơ.
2. Những đóng góp về mặt lý luận, về mặt thực tiễn
- Về lí luận: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi góp phần tìm hiểu, nghiên cứu
sâu hơn và bổ sung thêm lí luận về phương pháp dạy học văn bản Nhật dụng.
-Về thực tiễn: Ngoài ra nó có thể là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho
việc giảng dạy trong trường THCS.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CHƯƠNG 1: NHẬN XÉT CHUNG
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề này đó là cuốn : “Dạy học văn bản Ngữ văn THCS
theo đặc trưng phương thức biểu đạt” của tác giả Trần Đình Chung. Ngoài ra còn
có một số định hướng dạy học trong SGV Ngữ văn 6,7,8,9.
Qua những tài liệu này tôi nhận thấy rằng người biên soạn sách đã đưa ra
những hướng dẫn về phương pháp dạy. Tuy nhiên đó mới chỉ là phương pháp
chung không thể áp dụng đối với tất cả các vùng miền khác nhau.Vì vậy khi chọn
học thuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê)... Từ các hình thức đó,
những vấn đề thời sự cập nhật của cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ
đánh thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người
học giúp các em dễ hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống.
II. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ về lý luận: Nghiên cứu tài liệu, chương trình SGK, nghiên cứu về
phương pháp dạy văn bản Nhật dụng
- Nhiệm vụ thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng của việc dạy văn bản nhật dụng
trong trường THCS .
2. Các nội dung cụ thể trong đề tài.
a/ Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS
Đề tài nhật dụng của
Lớp
Tên văn bản
văn bản
- Cầu Long Biên-chứng nhân - Di tích lịch sử
lịch sử
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
- Quan hệ giữa thiên
6
nhiên và con người
Ngữ văn 6
- Động Phong Nha
- Danh lam thắng cảnh
- Cổng trường mở ra
- Mẹ tôi
7
- Cuộc chia tay của những con
triển của trẻ em.
Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản nhật dụng được phân phối dạy học
đều khắp ở các khối lớp, bình quân mỗi khối lớp được học đọc – hiểu 3 văn bản. ý
nghĩa nội dung các văn bản này đều là những vấn đề gần gũi, quen thuộc, bức thiết
đối với con người và cộng đồng xã hội hiện đại. Cùng với sự phát triển về tâm lý và
nhận thức của học sinh, các vấn đề đựơc đề cập trong các văn bản Nhật dụng ngày
một phức tạp hơn.
b/ Đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản nhật dụng
* Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 6.
1. “Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử” là văn bản mở đầu cho cụm bài văn
bản Nhật dụng được dạy học ở lớp 6. Đây là bài viết giới thiệu cây cầu Long Biên,
một di tích lịch sử nổi tiếng và quen thuộc ở thủ đô Hà Nội với vai trò là nhân
chứng đau thương của việc thực dân Pháp xây dựng cây cầu sắt với quy mô lớn,
nhằm phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của chúng, nhất là nhân
chứng lịch sử gian lao và hào hùng của dân tộc ta trong suốt hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ. Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác về cây cầu, lồng
trong các hình ảnh nhuần thấm cảm xúc suy tư của tác giả, cầu Long Biên đã hiện
lên như một hình tượng sống động và chân thực, vừa gần gũi vừa thiêng liêng trong
cảm nhận của mỗi người đọc Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, bồi
đắp thêm không chỉ tình yêu đối với câu Long Biên của thủ đô đất nước mà còn
khơi dậy ở họ lòng tự hào cùng ý thức giữ gìn và quảng bá đối với các di tích lịch
sử trên đất nước yêu quý của chúng ta.
Nội dung ấy toát lên từ lối văn thuyết minh đan cài tư liệu với hình ảnh và
cảm xúc của người viết, mà nếu nhìn từ góc độ phương thức biểu đạt thì đó sẽ là
kiểu thuyết minh có kết hợp miêu tả và biểu cảm, nếu quan niệm về thể loại văn
học thì đây là bài bút kí.
2. “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là bức thư của thủ lĩnh Xi–at-tơn trả lời tổng
thống thứ 14 của nước Mĩ, đựơc xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên
khổ bất hạnh để cho con đỡ đau đớn, để cho con sông hạnh phúc... Vì thế “ ngày
buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ, và tình cảm thiêng liêng cao quý hơn
cả là tình cảm yêu thương kính trọng đối với cha mẹ”. Đó cũng là nội dung cập
nhật của văn bản này.
3. “Cuộc chia tay của những con búp bê” là truyện ngắn. Thành công của văn
bản này là sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả và
biểu cảm. Truyện viết về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ.
Nhưng chính từ bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng vị tha,
tình cảm anh em càng thêm gắn bó. Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó
trong sự tan vỡ của gia đình, truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” toát lên
vấn đề quyền sống của trẻ em đang bị đe doạ trong một xã hội hiện đại đang cần
đến sự quan tâm của mọi người.
4. “Ca Huế trên sông Hương”là văn bản thuyết minh giới thiệu một nét đẹp
trong văn hoá cổ truyền xứ Huế, đó là dân ca Huế. Đặc sắc của dân ca Huế không
chỉ là sự phong phú của các điệu hò, điệu lí , không chỉ là sự hoà nhập của hai dòng
nhạc dân gian và nhạc cung đình mà còn là cách sinh hoạt đọc đáo của nó: thời gian
ban đêm, không gian trên sông Hương, người đàn, người hát và nghe cùng ngồi
trên thuyền.
Đọc bài văn này, HS hiểu thêm rằng cố đô Huế không chỉ có các danh lam
thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân ca và
âm nhạc cung đình. Ca Huế là một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng cần được
bảo tồn và phát triển. Từ đó HS có nhu cầu mở rộng hiểu biết dân ca các vùng miền
đất nước và củng cô thêm tình yêu đối với truyền thống văn hoá dân tộc.
* Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 8.
1. “Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000” là văn bản thuyết minh trình bày
về tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khoẻ con người. Đã đến lúc
chúng ta phải nhìn nhận lại thói quen dùng bao bì ni lông để có hành động thiết
thực bảo vệ môi trường sống của chúng ta bằng cách hưởng ứng lời kêu gọi: “Một
nghĩa thời sự đối với các nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.
Về hình thức, “Bài toán dân số” là một văn bản nghị luận sử dụng phương
thức lập luận bằng hình thức luận cứ. Nhưng bài nghị luận xã hội này dễ hiểu bởi
sự đan cài rất tự nhiên của phương thức tự sự.
* Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 9:
1. “Phong cách Hồ Chí Minh” là bài viết nhằm trình bày cho bạn đọc hiểu và
quý trọng vẻ đẹp của phong cách Bác Hồ. Bài văn có hai phần nội dung. Phần thứ
nhất nói về vẻ đẹp trong phong cách văn hoá của Bác, đó là sự kết hợp hài hoà giữa
phâm chất dân tộc và tính nhân loại trong tiếp nhận văn hoá. Phần thứ hai nói về vẻ
đẹp trong phong cách sinh hoạt của Bác, đó là sự kết hợp hài hoà giữa bình dị và
hiện đại trong nếp sống.
Nội dung trên được thể hiện trong hình thức thuyết minh kết hợp nghị luận
khiến cho sự trình bày các biểu hiện vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh trở nên sáng
rõ cùng tình cảm ngưỡng vọng không che giấu của tác giả.
Từ nội dung trên, chủ đề nhật dụng cần được khai thác đó là: vấn đề quan hệ
giữa hội nhập thế giới và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, một vấn đề không chỉ có
ý nghĩa cập nhật mà còn có ý nghĩa lâu dài thường xuyên của các thế hệ, nhất là lớp
trẻ nước ta trong học tập rèn luyện theo phong cách Bác Hồ.
2. “Đấu tranh cho một thế giới hoà bình” là bài viết của nhà văn đã từng
đoạt giải Nô-ben văn học (G.Mác-két).ở đây, phương thức lập luận với hệ thống lập
luận sắc sảo, chứng cớ xác thực, cách so sánh tương phản đã giúp tác giả luận giải
một cách thuyết phục và rõ ràng về hiểm hoạ hạt nhân đối với nhân loại. Sự tốn
kém và tính phi lý của cuộc chạy đua chiến tranh hạt nhân, từ đó kêu gọi hành động
để ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới hoà bình.
Chủ đề nhật dụng của văn bản này chính là đấu tranh cho hoà bình, chống
chiến tranh để bảo vệ hoà bình. Ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân.
Đó là những vấn đề cấp thiết và nóng hổi trong đời sống chính trị của nhân loại và
của mỗi dân tộc, mỗi con người.
3. “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của
trẻ em” được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em của tổ chức
huyện, cấp tỉnh thuộc loại nhất nhì huyện. Tổ THXH có 3 giáo viên Ngữ văn đều
trẻ, khoẻ, yêu nghề, có năng lực.
Tuy số lượng học sinh tương đối đông (gần 400 học sinh), nhưng chất lượng
giáo dục và học tập của trường khá cao và có uy tín đối với nhân dân trong huyện.
Mục tiêu hiện nay của nhà trường là đào tạo toàn diện nhằm giúp học sinh có
chất lượng cao về cả văn hoá và đạo đức.
Hàng năm số lượng học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh của trường luôn đứng
đầu trong toàn huyện. Đặc biệt môn Ngữ văn có nhiều em dự thi cấp tỉnh và đều
đạt giải .
Hầu hết các em ở trong thị trấn, việc học của các em được gia đình quan tâm
rất chu đáo.
Song bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều học sinh chưa có ý thức tự giác trong
học tập, mải chơi, bị lôi cuốn vào các trò chơi điện tử làm ảnh hưởng đến chất
lượng học tập của các em.
b/ Thực trạng