skkn vận DỤNG PHƯƠNG PHÁP nêu vấn đề TRONG dạy học PHẦN “ CÔNG dân với đạo đức” NHẰM GIÁO dục đạo đức, lối SỐNG CHO học SINH - Pdf 37

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số……

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “
CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” NHẰM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO
HỌC SINH

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THU VÂN
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp giảng dạy môn GDCD

Năm học: 2012- 2013


2

SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 . Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Vân
2. Sinh ngày 18 tháng 01 năm 1982
3. Giới tính: Nữ
4. Địa chỉ: 7/57- KP3 - Biên Hoà – Đồng Nai
5. Điện thoại: 0977250460
6. Chức vụ: Giáo viên
7. Đơn vị công tác : Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân

KẾT LUẬN……………………………………………………………..........52
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................... ………….53
PHỤ LỤC…………………………………………………………………….53


4

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang ở trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh
CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế là nguồn lực của người Việt Nam với sự phát triển toàn diện. Hơn
bao giờ hết, ngành giáo dục và đào tạo giữ vị trí quan trọng, là một quốc sách
hàng đầu có nhiệm vụ tạo ra những con người mới với đầy đủ những phẩm chất
và năng lực, có đức và tài, tích cực và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Đứng trước yêu cầu của xã hội, luật giáo dục (2005) đã chỉ rõ: “ Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [16, 23]
Trong những năm gần đây, giáo dục phổ thông có những chuyển biến tích
cực, đặt biệt là những đổi mới về phương pháp dạy học. Trên cơ sở phương
pháp dạy học truyền thống, chúng ta đã và đang áp dụng các phương pháp dạy
học tích cực, trong đó có phương pháp nêu vấn đề. Phương pháp nêu vấn đề
thực tế đã khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học cũ, đồng thời
khơi dậy, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện cho học sinh
năng lực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, kích thích tư duy và
tinh thần hợp tác xây dựng bài của các em.

nghiên cứu về phương pháp dạy học nêu vấn đề.Trong cuốn Những cơ sở của
dạy học nêu vấn đề, V.Ôkôn đã nghiên cứu vấn đề các điều kiện để xuất hiện
các tình huống có vấn đề trong dạy học. I.I.Lecne đã phân tích bản chất dạy học
nêu vấn đề, cơ sở, tác dụng và phạm vi áp dụng phương pháp nêu vấn đề trong
cuốn Dạy học nêu vấn đề.
Các nhà giáo dục tên tuổi như M.I.Makhơnutốp, M.A.Đanhilốp hay
B.P.Exicpốp đã phân tích các tình huống có vấn đề trong dạy học và xây dựng
quy trình dạy học nêu vấn đề.


6

nc ta, vn dy hc nờu vn cng c cỏc nh khoa hc, cỏc
nh giỏo dc quan tõm nghiờn cu nh: Nguyn Cnh Ton, hc v cỏch dy
hc, Nxb i hc S phm, H Ni, 2004; V Vn To, Dy hc gii quyt
vn , mt hng i mi phng phỏp giỏo dc, o to, hun luyn, Trng
qun lý giỏo dc v o to, H Ni, 1996. Cỏc cụng trỡnh ny ó cp cỏc
khớa cnh khỏc nhau ca phng phỏp dy hc nờu vn .
Cỏc cụng trỡnh trờn ó cp n bn cht, vai trũ, quy trỡnh, gii phỏp
vn dng phng phỏp dy hc nờu vn trong dy mt s phn ca mụn
GDCD trng THPT.
Vn giỏo dc o c, li sng cho hc sinh c cỏc tỏc gi quan
tõm nghiờn cu nh: Nguyễn Nghĩa Dân, Đổi mới phương pháp dạy học môn
đạo đức và Giáo dục công dân; Lê Thị Lan, Quan hệ giữa các giá trị truyền
thống và hiện đại trong xây dựng đạo đức. Nh giỏo dc Phm Minh Hc, trong
nhiu cụng trỡnh nghiờn cu ca mỡnh v o c ó nhn mnh n vn cu
trỳc ca nhõn cỏch, cng nh nhn mnh vai trũ ca giỏo dc o c trong quỏ
trỡnh v phỏt trin nhõn cỏch. Phm Tt Dong ó i sõu nghiờn cu mi quan h
gia hot ng giỏo dc hng nghip giỏo dc lao ng, dy ngh vi mc tiờu
giỏo dc o c li sng cho th h tr. H Th Ng chỳ trng n vn t

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp nêu vấn đề vận dụng trong dạy
học phần “Công dân với đạo đức” chương trình GDCD lớp 10.
- Đề cập một phần ở một số bài cụ thể trong phần “Công dân với đạo đức”
thuộc chương trình GDCD lớp 10.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục; dựa trên cơ sở
nội dung chương trình SGK môn GDCD, SGV môn GDCD, những tài liệu
hướng dẫn, bồi dưỡng GV giảng dạy môn GDCD và các văn bản chỉ đạo quá
trình dạy - học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


8

- Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp lôgíc và
phương pháp lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thực
nghiệm sư phạm; phương pháp thống kê xã hội học, v.v..
6. Ý nghĩa đề tài
Sáng kiến kinh nghiệm sẽ góp phần sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
công tác nghiên cứu và giảng dạy môn GDCD, giúp cho quá trình giảng dạy
môn học này ngày càng đạt hiệu quả cao hơn; đồng thời góp phần vào công tác
giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh các trường THPT.


9

B. NỘI DUNG

Chương 1

10

họa mà còn giúp tìm hiểu cả logic, đôi khi nó chứa đựng mâu thuẫn của sự tìm
tòi những cách giải quyết này” [15; 17]
I.La.Lecne quan niệm bản chất của dạy học nêu vấn đề chính là bởi ý
nghĩa đã đưa lại kết quả tốt đẹp cho người học. Đó là sự biến đổi trong tư duy,
trong nhận thức của người học, trong cách suy nghĩ, lập luận logic để tìm ra
cách giải quyết vấn đề.
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Bảo quan niệm: “Dạy học nêu vấn đề là hình thức
dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách hoạt động một
cách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương pháp dạy và học có những nét cơ
bản của sự tìm tòi khoa học. Nhờ vậy nó bảo đảm cho sự lĩnh hội vững chắc
những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng tạo
và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho họ” [2; 11]
Tác giả đã nêu lên bản chất của dạy học nêu vấn đề chính là sự lĩnh hội
kiến thức một cách sáng tạo ở người học bằng cách người giáo viên hướng dẫn
cho học sinh đi lại con đường tìm tòi nghiên cứu mà các nhà khoa học đã đi, từ
đó hình thành cho học sinh tính tích cực độc lập, tìm tòi, phát hiện, hình thành
những phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về phương pháp dạy học nêu
vấn đề, nhưng tất cả các tác giả đều coi phương pháp dạy học nêu vấn đề là việc
tổ chức quá trình dạy học bằng cách tạo ra các tình huống có vấn đề, đặt học
sinh vào một môi trường tích cực, tạo nhu cầu phát hiện và giải quyết vấn đề nảy
sinh, khơi dậy khả năng suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo để xây dựng nên những hiểu
biết mới cho bản thân.
Từ các quan niệm về dạy học nêu vấn đề ở trên, có thể nêu ra những dấu
hiệu bản chất của dạy học nêu vấn đề như sau:
Thứ nhất, dạy học nêu vấn đề là toàn bộ quá trình tổ chức hoạt động dạy
và học theo hướng tạo ra tình huống có vấn đề để kích thích tính tích cực tư duy
của người học.

Bản chất của vấn đề học tập là một nhiệm vụ học tập mà để thực hiện nó,
học sinh phải tư duy ở mức độ nhất định. Vấn đề học tập có thể là một câu hỏi,
những thắc mắc, là bản thân hoạt động tìm kiếm các câu trả lời của người học.
Tuy nhiên, không phải bất cứ câu hỏi nào cũng được xem là vấn đề học tập và


12

làm xuất hiện tình huống có vấn đề, bởi vì có những câu hỏi không đòi hỏi học
sinh phải tư duy, các em chỉ đọc trong SGK là có thể trả lời được. Tình huống
có vấn đề không chỉ thể hiện dưới dạng câu hỏi mà còn thể hiện dưới dạng tình
huống. Theo nhà giáo dục Ba Lan U.Ôkon thì tình huống có vấn đề do giáo viên
đưa ra trong quá trình dạy học phải đạt được ba điều kiện:
- Làm xuất hiện mâu thuẫn trước học sinh, giúp họ xác định rõ nhiệm vụ
nhận thức và tiếp nhận nó, nghĩa là tạo ra nhu cầu nhận thức của học sinh.
- Kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh, đồng thời làm cho họ
tự giác, tích cực trong hoạt động nhận thức.
- Phải phù hợp với khả năng, trình độ của học sinh, nghĩa là người học có
thể giải quyết hoặc biết cách giải quyết bằng hoạt động tư duy, dựa vào vốn kiến
thức nhất định đã có về vấn đề đó.
Ví dụ ở bài 10: “Quan niệm về đạo đức” môn GDCD 10, để học sinh hiểu
được thế nào là hành vi đạo đức, giáo viên có thể đưa ra vấn đề như sau: Trong
giờ kiểm tra, bạn A đã mở tài liệu và đã giúp bạn khác làm bài đạt điểm cao. A
tự cho rằng hành vi mở tài liệu của mình là không vi phạm đạo đức vì đã giúp
cho các bạn khác làm được bài. Theo em, đó có phải là hành vi đạo đức không?
Tại sao?
Hoặc khi đề cập đến điểm khác nhau giữa đạo đức và pháp luật, giáo viên
đặt ra câu hỏi kích thích khả năng tư duy của học sinh như sau: Tại sao nói sự
điều chỉnh hành vi của pháp luật là sự điều chỉnh thông qua những yêu cầu tối
thiểu. Trong khi sự điều chỉnh hành vi của đạo đức lại thường là những yêu cầu

Giải quyết vấn đề phụ thuộc vào vấn đề đã được nêu ra. Nhiệm vụ học tập
này có thể là trả lời câu hỏi, chứng minh hoặc bác bỏ một luận điểm, lí giải một
tình huống cụ thể.
Cơ sở để giải quyết vấn đề là nội dung kiến thức trong sách giáo khoa.
Đây là tài liệu quan trọng vì nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học
cơ bản, đã được khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm. Ngoài ra cơ sở giải quyết
vấn đề còn là vốn hiểu biết của giáo viên và học sinh. Muốn giải quyết vấn đề có
hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị một cách chu đáo, chia những vấn đề lớn thành
những vấn đề nhỏ phù hợp với trình độ của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến
thức từ đơn giản đến phức tạp.


14

Giai đoạn này đòi hỏi học sinh phải huy động tri thức, vốn sống để giải
quyết vấn đề. Giáo viên cần khéo léo gợi ý để học sinh tự giải quyết, tạo ra sự
hứng thú cho học sinh bằng cách nêu những câu hỏi gợi mở, giải quyết từng vấn
đề. Giáo viên cũng cần nêu ra những câu hỏi giả định, nhằm khắc sâu trí nhớ,
phát triển trí tuệ cho học sinh. Làm tốt điều này sẽ khiến học sinh không ngừng
tìm tòi để nhận thức, hăng say trong học tập.
Bước này là hết sức quan trọng. Nó vừa là kết quả của sự suy nghĩ, tìm
tòi, nỗ lực hết mình của học sinh vừa thể hiện tính hiệu quả từ những gợi ý của
giáo viên. Nhìn nhận vào những gì mà học sinh phát biểu được, giáo viên có thể
biết được học sinh nắm bài đến đâu, đang khúc mắc chỗ nào để tiếp tục có
những gợi ý nhỏ, giúp các em tiếp tục suy nghĩ để đi đến kết luận đúng đắn cuối
cùng.
Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề học tập là việc làm phải được
chuẩn bị công phu, chu đáo. Giờ học dạy theo phương pháp này có thành công
hay không, thành công nhiều hay ít là phụ thuộc rất nhiều vào sự hướng dẫn của
giáo viên.

có số lượng học sinh, thiếu niên khiến cho đạo đức của học sinh hiện nay đang
trên đà suy giảm. Một bộ phận thế hệ trẻ lười biếng trong học tập; có những
hành vi không tôn trọng thầy cô, cha mẹ; trộm cắp, cờ bạc, sống không có lý
tưởng, mục đích; chạy theo những nhu cầu tầm thường, thích hưởng thụ, sùng
bái đồng tiền, coi thường pháp luật, quay lưng lại với các giá trị văn hóa truyền
thống, đạo đức truyền thống. Tình trạng sống buông thả thể hiện trong việc quan
hệ tình dục bừa bãi của đối tượng khá lớn học sinh đang ở mức báo động gây lo
ngại cho gia đình và xã hội. Trái với truyền thống coi trọng tình nhân ái của dân
tộc ta, một bộ phận trong nhân dân, chủ yếu là lớp trẻ, vị thành niên đang sa vào
cuộc sống bạo lực, phi nhân tính, trái đạo lý làm người như: học sinh đánh thầy,
học sinh kết bè cánh để đánh nhau, giải quyết mâu thuẫn theo kiểu “xã hội
đen”... Báo chí gần đây hay đề cập đến bạo lực chốn học đường, do bị ảnh
hưởng từ trò chơi điện tử, phim ảnh nhan nhản trên mạng đã khiến các em hành
xử với bạn mình quá tàn nhẫn, việc trò vô lễ với thầy cô trong cách xưng hô,
chửi thầy, thậm chí đánh cả thầy, tạt axit vào mặt thầy ngay trên bục giảng đã


16

xảy ra. Trong gia đình, con cái ngược đãi cha mẹ, thậm chí đánh, giết cả người
sinh thành ra mình hết sức dã man khiến cho dư luận bức xúc. Theo thống kê
của ngành công an, mỗi năm xảy ra khoảng 100.000 vụ án hình sự, trong đó có
hơn 70% đối tượng phạm pháp là thanh thiếu niên. Chỉ tính riêng năm 2010,
trên địa bàn cả nước có 13572 đối tượng phạm tội là thanh thiếu niên, trong đó
có 1.600 vụ học sinh đánh nhau. Con số phạm tội cho thấy sự yếu kém về tư
cách đạo đức của một bộ phận không nhỏ của học sinh, gây búc xúc cho xã hội,
làm xấu đi hình ảnh học sinh đáng ra phải trong sáng, tốt đẹp, có tri thức văn
hóa, đạo đức tốt, đáng được yêu mến và hy vọng.
Thực trạng đạo đức, lối sống của học sinh trong nền kinh tế thị trường đã
nêu là vấn đề đáng lo ngại cần phải được quan tâm và kịp thời ngăn chặn bởi lẽ

tích cực của học sinh
Một trong những mục tiêu của giáo dục đào tạo là đảm bảo cho con người
có khả năng thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại. Luật giáo dục 28.2
đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”[16; 23]
Phương pháp dạy học nêu vấn đề đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH hiện
nay trong nhà trường theo hướng tích cực hóa hoạt động người học. Phương
pháp này luôn phát triển cho học sinh năng lực phát hiện tình huống, giải quyết
vấn đề trong quá trình nhận thức và thực tiễn cuộc sống. Khác hẳn với cách
giảng dạy nhồi nhét, học sinh chỉ biết nghe, ghi nhớ, mà lười suy nghĩ. Dạy học
nêu vấn đề phát huy được tính tích cực tự nhận thức của học sinh. Thông qua
thảo luận, nêu ý kiến cách giải quyết của mình trong tập thể, qua đó kiến thức
người học được tiếp thu lên một trình độ mới. Đặc biệt khi học sinh biết đặt câu
hỏi nêu ra điều mình chưa biết và tìm cách giải quyết vấn đề nêu ra là một yếu tố
quan trọng để học tập thông minh, chủ động. Phương pháp này giúp học sinh tự
mình nắm kiến thức, tự mình rút ra những kết luận sau khi đã suy nghĩ kỹ.
Những kết luận này là sự phản ánh những quan điểm riêng, có căn cứ khoa học,
do các em nhận thức được và như thế các em sẽ nắm chắc kiến thức, nhớ bài học


18

sâu sắc hơn. Điều này mang tính độc lập, tự giác học tập chứ không thụ động
chờ vào kết luận của giáo viên. Do đó, hình thành trong bản thân người học sự
hứng thú, ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người. Học sinh chỉ
học tập tốt, có kết quả khi các em tiếp nhận lý thuyết bằng cách giải quyết
những vấn đề thực tế.

môn học đóng vai trò quan trọng. Đặc điểm tri thức phần “Công dân với đạo
đức” mang tính khái quát hóa và trừu tượng cao nhưng lại gắn liền với thực tiễn
cuộc sống, liên quan đến cách cư xử trong các mối quan hệ đa dạng của HS
khiến các em đặc biệt quan tâm thậm chí đôi khi cảm thấy hoang mang khó xử
hoặc sai lầm trong nhiều trường hợp gặp phải. Do đó nếu trong bài học, giáo
viên sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, đặt ra các tình huống thực tế vừa
lý thú, vừa phù hợp với môn học xuất phát từ cuộc sống hàng ngày hoặc từ hoạt
động nhận thức mà người học chưa biết giải đáp để học sinh tự giải quyết và tự
do nói ra suy nghĩ của mình thì hiệu quả giáo dục của các tiết học sẽ nâng cao.
Thứ nhất, sẽ giúp giảm lối học thụ động, sách vở, học sinh sẽ học tập đầy say
mê, sôi nổi, hứng thú; thứ hai, khi trao đổi với thầy cô, bạn bè về những vấn đề
đang diễn ra trong cuộc sống sẽ giúp cho người học được trải nghiệm, hóa giải
vấn đề mà họ đang gặp bế tắt, đồng thời học sinh biết rút ra được bài học cho
chính bản thân mình từ đó đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của mình
theo hướng tích cực.
Thứ ba, xuất phát từ đối tượng người học.
Có thể nói, học sinh lớp 10 đang ở vào lứa tuổi ham học hỏi, ham hiểu
biết, năng động, sáng tạo, thích cái mới mẻ và luôn thích thể hiện mình. Vì vậy,
phương pháp giáo dục phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi cũng như là sở thích và
nguyện vọng của các em. Trong việc sử dụng phương pháp dạy học cũng vậy,
nếu giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống sẽ tạo cho học sinh
tâm lý chán nản, tẻ nhạt trong giờ học, không phát huy được tính sáng tạo của
học sinh và như vậy hiệu quả giáo dục của tiết học sẽ hạn chế. Đặc biệt là môn
học GDCD, các em từng xem đó là môn bổ trợ, việc học và dạy tốt môn này phụ
thuộc nhiều yếu tố trong đó có sự nỗ lực, đầu tư tiết dạy của giáo viên và học tập
tự giác, tích cực của học sinh. Tuy nhiên, việc học tốt môn GDCD là rất khó đối


20



21

quan tâm và tìm hiểu phương pháp dạy học nêu vấn đề. Nhiều giáo viên cho
rằng giảng dạy theo phương pháp này giảm bớt phần khô khan, cứng nhắc, thu
hút sự chú ý và tham gia đóng góp ý kiến của học sinh. Mặc dù, đôi lúc tiến
hành theo phương pháp này gặp phải những trở ngại nhưng thực tế giờ học lại
sôi nổi hơn, học sinh tham gia tích cực hơn, kết quả đem lại sau tiết học cũng đạt
hiệu quả cao hơn so với sử dụng phương pháp khác. Tuy nhiên cũng một số giáo
viên cho rằng thực hiện phương pháp này chỉ có một số học sinh tích cực, chủ
yếu là những học sinh học khá, giỏi tham gia.
Bên cạnh những ưu điểm mang lại của phương pháp dạy học nêu vấn đề,
giảng dạy nêu vấn đề trong phần “Công dân với đạo đức” còn đặt ra nhiều vấn
đề và việc dạy - học còn có những hạn chế nhất định như:
Thứ nhất, hầu hết giáo viên cho rằng sử dụng phương pháp nêu vấn đề là
cần thiết trong dạy phần “Công dân với đạo đức”, tuy nhiên trong quá trình
giảng dạy lại ít sử dụng phương pháp này. Trong số giáo viên tác giả tiến hành
điều tra thì có rất ít giáo viên thường xuyên sử dụng (15%), phần lớn giáo viên
thỉnh thoảng sử dụng (55%), thậm chí có đến 30% giáo viên chưa bao giờ sử
dụng phương pháp nêu vấn đề. Phương pháp giáo viên sử dụng chủ yếu vẫn là
phương pháp truyền thống, đặc biệt là phương pháp giảng giải mà ít đặt ra câu
hỏi kích thích tư duy cho học sinh, tổ chức cho học sinh được nêu và giải quyết
vấn đề liên quan đến bài học, nhiều giáo viên tổ chức thảo luận nhóm nhưng câu
hỏi đơn giản, học sinh dễ dàng trả lời mà chưa phát huy được tính năng động,
sáng tạo của học sinh. Có những giáo viên sử dụng phương pháp nêu vấn đề
trong giảng dạy nhưng chưa thực sự đạt hiệu quả vì khi tổ chức cho học sinh
giải quyết vấn đề thì giáo viên ít liên hệ thực tiễn, cách đặt câu hỏi cũng chưa cụ
thể, rõ ràng, khả năng gợi ý cho học sinh trả lời đúng hướng còn hạn chế.
Nguyên nhân của tình trạng này là do giáo viên cũng chưa nắm chắc về bản chất
của phương pháp dạy học nêu vấn đề, kỹ năng đặt câu hỏi.

chí có em lơ là trong học tập, còn làm việc riêng, không chú ý đến vấn đề giáo
viên nêu ra. Khi giáo viên đưa ra vấn đề cần hợp tác, thảo luận của các nhóm, thì
chỉ có một vài em tích cực, một số em còn lại không chịu hợp tác thảo luận với
bạn để giải quyết vấn đề, một số em khác thì độc lập làm việc một mình, khi
giáo viên gọi trình bày thì các em thường hay đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.


23

Thực trạng trên xuất phát từ trình độ nhận thức của học sinh chưa đồng đều, thụ
động, lười suy nghĩ và có tư tưởng học đối phó. Mặt khác, có phần xuất phát từ
giáo viên đó là chưa phát huy hết vai trò của mình trong quá trình giảng dạy,
thiếu hấp dẫn, lôi cuốn học sinh khi nêu vấn đề.
Thứ năm, phương pháp nêu vấn đề không phải là phương pháp vạn năng
nó cần phải được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình
giảng dạy một bài học. Nếu giáo viên quá lạm dụng phương pháp này trong một
bài dạy và nhiều nội dung thì sẽ dẫn đến hiệu quả ngược lại, nó tạo ra trạng thái
mệt mỏi cho học sinh và dẫn đến chệch hướng với vấn đề ban đầu mà giáo viên
đưa ra. Ngoài ra, phương pháp nêu vấn đề phù hợp với các lớp học sinh khá
giỏi. Đối với các lớp học trung bình chỉ nên sử dụng trong mức độ nhất định.
Tóm lại, để việc học tập của học sinh đạt kết quả cao thì phải khắc phục
những hạn chế trên, giáo viên cần phải nhận thức sâu sắc vai trò của phương
pháp đối với môn học nói chung, phần “Công dân với đạo đức” nói riêng, đồng
thời biết vận dụng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và hợp lý giữa phương pháp
nêu vấn đề với PPDH khác nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh,
giúp các em tự tin và trưởng thành hơn khi lĩnh hội và hành động trong thực tế.


24



25

trao đổi trong phạm vi cả lớp sau đó cá nhân sẽ phát biểu giải quyết vấn đề, HS
khác lắng nghe bổ sung ý kiến hoặc đưa ra ý kiến khác nếu không đồng tình.
Ngoài ra GV cũng có thể tổ chức cho HS giải quyết vấn đề dưới hình thức thảo
luận nhóm, đóng vai.
- Đối với việc tổ chức thảo luận nhóm giải quyết vấn đề:
+ GV tiến hành chia lớp thành những nhóm nhỏ. Mỗi nhóm cần cử nhóm
trưởng để điều khiển nhóm.
+ GV giao câu hỏi cho nhóm, quy định thời gian thảo luận và bố trí vị trí
ngồi thảo luận của các nhóm.
+ Các nhóm tiến hành thảo luận để giải quyết câu hỏi GV giao cho, sau đó
đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận như dùng lời nói, viết ra giấy…, các
nhóm khác lắng nghe, bổ sung ý kiến, tranh luận đúng sai.
- Đối với việc giải quyết vấn đề dưới hình thức đóng vai. Tình huống GV
nêu ra là tình huống giả định nhằm mục đích để học sinh được tìm hiểu, suy
nghĩ và đóng vai ứng xử. Vì vậy mấu chốt của việc đóng vai là để giải quyết vấn
đề được nêu ra.
+ Sau khi nêu tình huống, trước hết GV cho các nhóm tìm hiểu, thảo luận
để lựa chọn cách ứng xử đúng đắn.
+ Nhóm thống nhất ý kiến và phân công thành viên trong nhóm đóng vai
giải quyết. Các nhóm khác chú ý theo dõi và đưa ra nhận xét sau cách giải quyết
ấy.
Đây là bước vô cùng quan trọng quyết định đến việc tiếp nhận kiến thức
cần chuyển tải đến HS. Trong khi giải quyết tình huống, HS lĩnh hội được nội
dung và cách thức giải quyết một cách tích cực, tự giác, sáng tạo.
Bước ba, GV nhận xét, kết luận và chốt lại kiến thức liên quan đến nội
dung bài học. Trên cơ sở thảo luận và giải quyết vấn đề của các nhóm, GV nhận
xét và đánh giá mức độ đúng đắn của kết quả đạt được, đánh giá các hành vi của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status