skkn vận DỤNG PHƯƠNG PHÁP nêu vấn đề TRONG VIỆC GIẢNG dạy tác PHẨM tự sự để PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực của học SINH - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT KIỆM TÂN

Mã số:……………………….

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: ĐINH THỊ THÚY VUI

Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:

Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Năm học: 2011- 2012

Hiện vật khác



: Trường THPT Kiệm Tân-Thống Nhất-Đồng Nai.

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
1. Học vị

: Cử nhân Ngữ văn

2. Năm nhận bằng

: 2008.

3. Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn.
III. KINH NGHIỆM GIÁO DỤC
1. Lĩnh vực chuyên môn: giảng dạy môn Ngữ văn.
2. Số năm giảng dạy kinh nghiệm 4 năm.

GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

1


MỤC LỤC
TRANG
A.PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 3
I.ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................ 3
II.MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN
ĐỀ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH ........................... 4
III.GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................... 4
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................. 5
B.PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................... 5


VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục mang một vị trí quan trọng trong việc xây dựng một xã hôi
phát triển vì vậy việc đổi mới phương pháp giáo dục để không ngừng nâng
cao đổi mới về mọi mặt.
Những năm gần đây, ngành giáo dục đã trải qua sự thay đổi quan trọng.
Từ đó nhiều phương pháp giáo dục cũng phải đổi mới. Chương trình giáo dục
phổ thông hiện hành đã nêu rõ: “phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự
giác, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh phương pháp
tự học khả năng hợp tác rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn”. Tài liệu
hướng dẫn thực hiện chương trình, SGK môn Ngữ Văn lớp 12 đã giới thiệu
một số phương pháp dạy học theo định hướng tích cực như: thuyết trình, vấn
đáp, đàm thoại, phát hiện và giải quyết vấn đề………
Ngữ Văn là một trong những môn học chính trong nhà trường, được coi
là một môn nghệ thuật mang tính khoa học. Đó là một loại hình nghệ thuật
phản ánh chân thực cuộc sống bằng hình tượng thông qua ngôn ngữ, góp phần
bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, hình thành kĩ năng giao tiếp,
ứng xử làm phong phú tâm hồn và vẻ đẹp nhân cách. Những năm qua, ngành
giáo dục đã chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các
môn học trong đó có môn Ngữ Văn. Giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung
không chỉ đơn thuần dạy cho học sinh biết về cái hay cái đẹp của tác phẩm,
mà còn giúp cho học sinh hiểu, cảm thụ sâu sắc hơn, cũng như biết cách khám
phá, phát hiện ra những cái hay cái đẹp trong tác phẩm văn chương. Vì vậy,
việc đổi mới dạy học bắt đầu từ việc thay đổi phương pháp giảng dạy nhằm

cũng như trữ tình. Nhưng trong phạm vi tìm hiểu và thực tế giảng dạy.
Chuyên đề sáng kiến giới hạn trong việc “vận dụng phương pháp nêu vấn đề
trong việc giảng dạy tác phẩm tự sự” trong chương trình Ngữ Văn 12 để phát
huy tính tính cực chủ động của học sinh trong việc học tác phẩm tự sự nói
riêng và học bộ môn Ngữ Văn nói chung.

GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

4


- Do nội dung khuôn khổ của sáng kiến, bản thân tôi không đi sâu vào việc
trình bày chi tiết lí thuyết về phương pháp nêu vấn đề, mà chuyên đề đi vào
nội dung cụ thể của một số tác phẩm, một số cách thức vận dụng phương
pháp nêu vấn đề - câu hỏi nêu vấn đề sao cho hiệu quả trong một số tác phẩm
cụ thể, nhằm mục đích phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong
việc học môn Ngữ Văn. Qua đó hình thành cho các em biết nhận thức vấn đề,
giải quyết vấn đề từ trong những tác phẩm tự sự, hình thành kỹ năng đọc hiểu
văn bản văn học theo đặc trưng thể loại cho các em học sinh, góp phần nâng
cao chất lượng trong việc dạy học tác phẩm tự sự.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thực hiện đề tài: từ việc thực hiện tìm hiểu đặc điểm chung về
phương pháp dạy học nêu vấn đề, giáo viên áp dụng vào một số tác phẩm tự
sự cụ thể trong chương trình Ngữ Văn 12 cơ bản.Từ đó thiết kế bài dạy và kết
quả áp dụng đề tài tại các lớp mà giáo viên phụ trách.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Dạy học nêu vấn đề là một phương thức dạy học trong đó giáo viên nêu
lên nghi vấn để hướng sự suy nghĩ tích cực của học sinh nhằm tạo nên tính
huống có vấn đề. Phương pháp nêu vấn đề có tác dụng gợi nên suy nghĩ, tập

đề”. Thực tế giảng dạy văn cho thấy “vấn đề” chính là điều mà tác giả phản
ánh, lí giải trong tác phẩm.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Việc giảng dạy môn Ngữ Văn là giúp học sinh tìm hiểu về cái hay, cái
đẹp của một tác phẩm văn chương. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật,
là một sản phẩm của nhà văn, được lựa chọn để đưa đến với người đọc là giáo
viên và học sinh. Vì vậy mỗi ý kiến của người đọc học sinh đưa ra về tác
phẩm đều đáng quý và đáng trân trọng. Để phát huy tính tích cực của học
sinh trong giờ học tác phẩm tự sự, giáo viên không nên phủ định những vấn
đề học sinh đưa ra mà cần định hướng cho học sinh cách suy nghĩ nhận xét
đúng đắn với mỗi tác phẩm văn chương. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn
học sinh tìm hiểu vào tác phẩm, tự khám phá ra những vẻ đẹp tiềm ẩn của tác
phẩm. Giáo viên bằng những câu hỏi đặt vấn đề, câu hỏi gợi mở, câu hỏi định
hướng khám phá, tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh tự cảm nhận về tác
phẩm, tự nhận định về giá trị đích thực của tác phẩm.Việc dạy văn, mà đặc
biệt là việc phân tích tác phẩm văn học, để tạo sự hấp dẫn và hứng thú với học
sinh nhất định phải là việc biến học sinh thành người trong cuộc - để các em

GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

6


tự phát huy năng lực tư duy của mình, tự khám phá ra những giá trị đích thực
của tác phẩm.
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới nội dung dạy học, vấn
đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm
cũng được đặt ra. Bản chất của sự đổi mới đó là chuyển từ phương pháp
thông báo tái hiện sang việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập
của học sinh nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của

hứng thú cho học sinh.
- Một trong những nguyên nhân khiến một giờ học văn nhàm chán, học sinh
không hứng thú là do câu hỏi chưa gây được sự tò mò đối với học sinh, chưa
hướng vào vấn đề chính mà chỉ đi tản mạn vào một số vấn đề nhỏ, tất cả
những yếu tố đó làm giảm sự chủ động và tích cực của việc học văn trong nhà
trường phổ thông hiện nay.
+ Loại câu hỏi thiên về tái hiện kiến thức, ít có câu hỏi có khả năng luyện trí
thông minh và tư duy sáng tạo của học sinh
+ Một số câu hỏi nêu vấn đề ở mức độ khó nhưng chưa có sự gợi ý chi tiết
+ Khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên chỉ hỏi mà chưa tổ chức cho học
sinh giải quyết vấn đề
2. Về phía học sinh
Trường THPT Kiệm Tân đa số học sinh có tỉ lệ đầu vào chưa cao, ý
thức trong học tập chưa tốt. Khả năng tự học còn nhiều hạn chế
+ Các em còn thụ động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Học sinh chỉ tái hiện
kiến thức một cách thụ động, chưa biết cách trả lời, hay thậm chí còn lúng
túng trong những câu hỏi khó, chưa biết cách vận dụng vào sáng tạo trong các
tình huống của bài học
+ Học sinh vẫn còn dừng lại ở mức độ nghe và ghi chép, chưa tham gia vào
việc xây dựng bài. Khả năng khái quát , khả năng cảm nhận tác phẩm văn học
của học sinh còn nhiều hạn chế.
+ Học sinh lười xây dựng bài, chưa có ý thức tham gia vào các hoạt động dạy
và học. Như thế giờ văn của thầy và trò sẽ trở nên mệt mỏi dẫn đến kết quả
học tập bộ môn Ngữ Văn chưa đạt hiệu quả cao.
IV. ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

trên cơ sở lý thuyết nhận thức. Theo quan điểm của tâm lý học nhận thức, giải
quyết vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và
nhận thức của con người, tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn
đề. Dạy học giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng
lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

9


đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp
học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức.
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là phương pháp dựa
trên quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng
tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học. Bản chất của nó là tạo nên
một chuỗi những tình huống vấn đề và điều khiển học sinh giải quyết những
vấn đề đó. Vì vậy mà nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ
sở khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới
quan khoa học cho học sinh. Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong
những PPDH mà ở đó GV là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều
khiển học sinh phát hiện vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải
quyết vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt
được mục tiêu dạy học.
2. Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề.
2.1 Nhận biết vấn đề: trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm
nhận biết được vấn đề. Trong dạy học đó là cần đặt học sinh vào tình huống
có vấn đề. Vấn đề cần được trình bày rõ ràng.
2.2 Tìm các phương án giải quyết: Nhiệm vụ của bước này là tìm các
phương án khác nhau để giải quyết vấn đề. Để tìm các phương án giải quyết
vấn đề cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết vấn đề tương tự đã biết

mức
1

Đặt vấn
đề
GV

Nêu giả
thuyết
GV

Lập kế
hoạch
GV

Giải quyết
vấn đề
HS

Kết luận,
đánh giá
GV

2

GV

GV

HS

nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát
triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời
sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
2.6 Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ dạy Ngữ
Văn
- Câu hỏi nêu vấn đề phải tạo ra tình huống có vấn đề - kích thích sự tích cực
nhận thức của học sinh
- Câu hỏi nêu vấn đề phải có sự sáng tạo
- Câu hỏi nêu vấn đề phải có tính hệ thống
- Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát vào văn bản nghệ thuật
- Câu hỏi nêu vấn đề phải căn cứ vào đạc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

11


- Câu hỏi nêu vấn đề phải có mối tương quan giữa các phương pháp khác
trong một giờ dạy văn
VI. PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VỚI VIỆC XÂY DỰNG HỆ
THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU TÁC
PHẨM TỰ SỰ
1. Một số yêu cầu khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề
- Câu hỏi nêu vấn đề phải được đặt ra từ vấn đề của tác phẩm. Để đặt
được câu hỏi phát hiện trúng vấn đề cần triển khai. Giáo viên phải tìm hiểu
thật thấu đáo tác phẩm và chỉ có hiểu tác phẩm. Giáo viên mới có thể phát
hiện được những chi tiết có khả năng trở thành vấn đề và đó là những vấn đề
thích đáng nhất. Ở tác phẩm văn xuôi, vấn đề hay tình huống tiếp nhận
thường là những nội dung khái quát về tư tưởng, chủ đề, ý nghĩa tác phẩm
hay nghệ thuật của tác phẩm…………
- Giáo viên phải hiểu được đối tượng học sinh mình giảng dạy, hiểu được

câu hỏi phụ để học sinh chuẩn bị bài ở nhà bên cạnh hệ thống câu hỏi hướng
dẫn học bài trong sách giáo khoa. Từ những câu hỏi cụ thể đó, giúp học sinh
có thể tìm hiểu những kiến thức có liên quan đến câu hỏi nêu vấn đề, tránh
việc học sinh bị động lúng túng.
2. Một số cách thức vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng
dạy tác phẩm tự sự
2.1 Tình huống và tính cách nhân vật trong tác phẩm tự sự tạo điều kiện
cho việc xây dựng tính nêu vấn đề của câu hỏi giảng văn giúp học sinh
khám phá vai trò của tình huống còn kích thích tâm lý học sinh, giúp các em
tự đặt mình vào giải quyết một tình huống mới. Cốt truyện, nhân vật và
phương thức kể chuyện là ba yếu tố tạo nên đặc trưng của tác phẩm tự sự.
Nói đến cốt truyện là nói đến nhân vật, không thể không nói đến vai trò của
tình huống, tính cách. Để tính cách vận động và phát triển, nhà văn đặt tính
cách nhân vật trong tình huống bởi qua tình huống nhân vật sẽ được thử
thách, từ đó nhân vật bộc lộ lên những tính cách của mình.
Trên thực tế, khi phân tích một truyện ngắn, nhiều bài phân tích không
đề cập đến tình huống hoặc không nhận thức được vai trò của tình huống đối
với tính cách, vì vậy nhiều tình huống có giá trị đã bị bỏ qua. Nếu như hỏi học
sinh tình huống Tràng nhặt được vợ có tác động gì đến tâm trạng bà cụ Tứ thì
không thiếu học sinh sẽ lúng lúng trong việc trả lời. Vì vậy khi giảng dạy tác
phẩm, giáo viên cần chú ý vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ giảng văn,
để học sinh có thể tiếp nhận tác phẩm .Tình huống của tác phẩm trở thành vấn
đề tiếp nhận của học sinh.
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

13


VD: Khi đặt câu hỏi nêu ra tình huống trong truyện ngắn Vợ Nhặt (Kim Lân),
học sinh sẽ thấy được vẻ đẹp của nhân vật Tràng, từ đó cũng thấy được phẩm


14


đùm bọc nhau, vẫn biết vui với cái gì mình đang có và cứ lấp lánh niềm tin
vào tương lai.


Đặt ra câu hỏi nêu vấn đề là một biện pháp để dẫn dắt học sinh suy

ngẫm, từ đó học sinh sẽ phát hiện được vấn đề sâu sa của tác phẩm. Tình
huống hàm chứa được ý đồ nghệ thuật của các nhà văn và từ đó nó trở thành
vấn đề tiếp nhận của học sinh. Bởi vậy khi gặp phải những tình huống lạ,
phần lớn học sinh chưa phát hiện được ý đồ nghệ thuật của tình huống
truyện. Học sinh thường trình bày lan man vì chưa thực sự nhận thức được.
Từ thực tế đó,để giúp học sinh tìm tòi và khám phá về tác phẩm, giáo viên có
thể sử dụng những câu hỏi nêu vấn đề trong giờ đọc hiểu văn bản là việc làm
cần thiết.
2.2 Kết cấu và nghệ thuật sử dụng chi tiết tác phẩm tự sự là một khía
cạnh để giáo viên nêu vấn đề trong giờ đọc hiểu văn bản
Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác
phẩm, là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của
tác phẩm trên cơ sở khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định
Kết cấu làm nhiệm vụ sắp xếp các sự kiện, nhân vật, tình tiết, chi tiết các lớp
cảnh, chương hồi một cách lôgíc để cốt truyện bộc lộ được nội dung ý nghĩa
tác phẩm, thể hiện ý nghĩa tư tưởng của tác giả
VD 1: Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” để định hướng cho học sinh phát
hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm từ hình thức nghệ thuật. Giáo viên
có thể đặt ra câu hỏi nêu vấn đề:
+ Mở đầu truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành là

chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước trong những năm chống Mĩ
VD 2: Khi dạy truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) giáo viên có thể
triển khai phương pháp nêu vấn đề với những câu hỏi nêu vấn đề để học
sinh tìm hiểu kết cấu của tác phẩm:
+ Em có nhận xét gì về cách giới thiệu nhân vật Mị?
+ Cách giới thiệu trên đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Từ sự gợi nhắc của giáo viên, học sinh thảo luận trả lời. HS sẽ nhận
biết được cách vào truyện gợi nên ấn tượng với những đối nghịch:
+ Một cô gái lẻ loi âm thầm gần như lẫn vào các đồ vật vô tri trong khung
cảnh tấp nập của nhà thống lý PáTra.
+ Cô gái ấy là con dâu trong một gia đình quyền thế giàu có “nhiều nương,
nhiều bạc, nhiều thuốc phiện” nhưng sao lúc nào cũng cúi mặt nhẫn nhục và
lúc nào mặt cũng “buồn rười rượi”. Tư thế “cúi mặt, mặt buồn rười rượi” với
nhịp điệu mòn mỏi, thường xuyên, lặp lại vô hồn “lúc nào cũng vậy”.
Từ cách đặt câu hỏi trên. Học sinh sẽ phần nào hiểu được cách phác
hoạ hình ảnh người con gái câm lặng như chìm lẫn vào thế giới đồ vật vô tri,
không cảm giác. Từ cách giới thiệu đó như hé lộ cuộc sống tủi cực, cảnh ngộ
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

16


éo le của nhân vật. Nhà văn đã chọn cách dẫn dắt khéo léo điểm nhìn từ xa,
bên ngoài tiến gần hơn vào bên trong để thâm nhập nhân vật; tạo ra mâu
thuẫn ở lời kể để vén bức màn bí mật về một phận người (hỏi ra mới rõ… cô
ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra). Đây là thủ pháp tạo tình huống có vấn
đề từ trong lối kể chuyện truyền thống, giúp tác giả mở lỗi dẫn người đọc
cùng tham gia hành trình tìm hiểu những bí ẩn của số phận nhân vật.




của nhân vật…Cách tác giả không tham gia kể mà để cho vai kể và nhân vật
kể lại câu chuyện là một hình thức nghệ thuật nhằm thu hẹp lại lời kể, mở
rộng tính khách quan và tăng tính thuyết phục của đối tượng được miêu tả.
Lắm khi, nhà văn “trao bút” cho nhân vật, để nhân vật tự kể, tự nói về mình.
Ở đây, nội dung nghệ thuật không chỉ được truyền đạt duy nhất từ người kể
chuyện mà còn bởi các nhân vật khác, bằng cả những tiếng nói bên trong
mang nhận thức, tình cảm của nhân vật.
VD 1: Trong truyện “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) thể hiện nghệ thuật trần
thuật uyển chuyển linh họat mang phong cách truyền thống nhưng cũng đầy
sáng tạo. Nhà văn vẫn tuân theo lối trần thuật sự kiện theo trình tự thời gian,
tạo nên một dòng chảy liền mạch nhưng có lúc đan xen các hồi ức một cách
tự nhiên, có lúc pha trộn giữa quá khứ và hiện tại. Có những đoạn nhà văn Tô
Hoài không kể mà để cho nhân vật tự ý thức. “Mị thấy phơi phới trở lại, trong
lòng đột nhiên vui sướng ….Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ”.
Lời nhà văn hay lời nhân vật? Không thể phân định rạch ròi. Tô Hoài
không đứng bên ngoài mà tả, mà kể nữa, lại nhập thân vào Mị, thổn thức cùng
Mị ở thời khắc ấy để từ trong đó viết ra. Như thế nhà văn đã trao ngòi bút của
mình để cho nhân vật tự viết ra những dòng tâm tư là một biện pháp để khai
thác chiều sâu nội tâm tính cách đồng thời giảm bớt phần miêu tả, nhận xét,
đánh giá từ người trần thuật. Ngoài ra hình thức để nhân vật tự bộc lộ còn mở
rộng ý nghĩa khách quan cho tác phẩm.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm từ chính câu hỏi
về điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật.
VD 2: Trong truyện ngắn “Rừng xà nu”, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã
không đóng vai người kể chuyện mà dựng lại lịch sử bi hùng của làng Xô
Man. Nếu làm thế, giữa người kể và câu chuyện được kể sẽ có một khoảng
cách. Nhà văn đã trao quyền kể cho nhân vật cụ Mết – một già làng, một
người trong cuộc. Cụ Mết là người từng chứng kiến bao biến cố trọng đại của
làng Xô Man, là người phát động, tổ chức cuộc khởi nghĩa bất khuất đầu tiên

thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cài của những câu chuyện kể
không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng
nhiều chiều. Tạo tình huống này, chọn điểm nhìn trần thuật này, Nguyễn Thi
có thể tổ chức kết cấu tác phẩm khá thoải mái, linh hoạt theo ý đồ của mình.
Câu chuyện không cần kể, cần nhớ theo trình tự thời gian. Những hồi tưởng
của Việt cứ đứt nối, tưởng chừng rời rạc, nhưng kì thực lại được chọn lọc, sắp
xếp theo ý đồ của nhà văn. Từ cách trần thuật đó giáo viên vận dụng câu
hỏi nêu vấn đề từ chính lời kể, cách kể (phương thức trần thuật)
Giáo viên hỏi học sinh: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”
được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật nào? Hãy nêu tác dụng của
cách trần thuật đó đối với kết cấu truyện và khắc họa tính cách nhân vật?
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

19


GV có thể gợi ý:
- Có ba phương thức trần thuật trong nghệ thuật viết truyện:
+ Phương thức thứ nhất: Nhân vật truyện là đối tượng thuật, kể nên thuộc
ngôi thứ ba.
+ Phương thức thứ hai: Nhân vật tự kể chuyện mình nên thuộc ngôi thứ nhất.
+ Phương thức thứ ba: Người trần thuật thuộc ngôi thứ ba nhưng lời kể lại
phỏng theo quan điểm, ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật
HS thảo luận trả lời.
Gv định hướng: Truyện “Những đứa con trong gia đình” được trần thuật theo
phương thức thứ ba. Nghĩa là của người trần thuật tự giấu mình nhưng cách
nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật. Truyện được trần thuật chủ
yếu qua dòng hồi tưởng miên man đứt nối của nhân vật Việt khi bị trọng
thương nằm ở chiến trường. Nhà văn phải thành thạo tâm lí và ngôn ngữ nhân
vật mới có thể trần thuật theo phương thức này.

thâm nhập vào nhau để thể hiện tác động giữa giáo viên và học sinh. Giáo
viên không chỉ sử dụng một phương pháp dạy học mà còn phải kết hợp với
các phương pháp dạy học khác.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề sử dụng trong sự phối hợp đa dạng các
phương pháp khác như diễn giảng, đọc diễn cảm, trực quan…… Các câu hỏi
nêu vấn đề được đặt trong một hệ thống và thống nhất với mục tiêu bài học.
Trong quá trình học sinh tư duy đôi khi giáo viên phải dẫn dắt gợi ý cho học
sinh suy nghĩ tìm tòi để nhận ra những điều cần làm sáng tỏ.
- Việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong thực tế giảng dạy, hình thức
diễn đạt hay nội dung câu trả lời có thể khác đi vì vậy giáo viên phải chú ý
lắng nghe và phân tích câu trả lời của học sinh để có hành động cho phù hợp.
Câu hỏi được nêu ra ở từng mức độ hướng tới số đông học sinh.
- Giáo viên sử dụng linh họat các hình thức tổ chức cho học sinh nắm bắt vấn
đề như: thảo luận nhóm, thuyết trình, đóng vai.........Đối với giờ dạy học vận
dung theo phương pháp nêu vấn đề không khí lớp học nhẹ nhàng thoải mái.
Câu hỏi đa dạng theo từng mức độ khiến học sinh hào hứng trước vấn đề đưa
ra, như thế mục tiêu và kiến thức của bài học học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn rất
nhiều.
VII.

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀO VIỆC THIẾT

KẾ GIÁO ÁN VÀ GIẢNG DẠY BÀI “CHIẾC THUYỀN NGOÀI
XA” (Nguyễn Minh Châu)
Vận dụng cấu trúc tình huống có vấn đề để hướng dẫn học sinh tìm
hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Cấu trúc của tình huống có
vấn đề được biểu hiện qua hai họat động: tạo lập bối cảnh vấn đề chính là đưa
ra những điều mới chưa được biết (họat động nêu vấn đề của giáo viên) và

GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

“Chiếc thuyền ngoài xa” để học sinh chuẩn bị bài ở nhà bên cạnh hệ thống
câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa.
Thiết kế giáo án:
Tiết: 70 – 71
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui

22


(Nguyễn Minh Châu)
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống;
- Thấy được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm và bắt đầu nhận diện
được một số đặc trưng cơ bản của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
1/ TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải
nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính
luôn gắn liền với cuộc đời, vì cuộc đời.
- Tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa khám phá phát hiện về đời sống.
Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị mà sâu sắc.
2/ TRỌNG TÂM KĨ NĂNG: Đọc hiểu truyện ngắn hiện đại.
B/ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Sách giáo khoa Ngữ Văn 12- HKII; sách giáo viên Ngữ Văn 12 HKII;
sách tham khảo, bảng phụ, tranh ảnh ……..
C/ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Giáo viên tổ chức giờ học bằng cách sử dụng phương pháp nêu vấn đề
phối kết hợp với các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học khác


Đọc mục tiểu dẫn và tóm tắt những nét chính về - Nguyễn Minh Châu
tác giả và tác phẩm.

(1930-1989)
- Ông "thuộc trong những

Học sinh làm việc cá nhân và trình bày trước nhà văn mở đường tinh
lớp?

anh và tài năng nhất của
văn học ta hiện nay"

GV định hướng.

-Trước 1975, Nguyễn
Minh Châu là ngòi bút sử
thi có thiên hướng trữ tình
lãng mạn.
- Từ sau thập kỉ 80, đi sâu

HS chuẩn bị ở nhà. Tóm tắt truyện trên lớp.

khám phá sự thật đời sống
ở bình diện đạo đức thế sự

Gv hỏi học sinh:

và triết lí nhân sinh, khám


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status