Đề cương ôn tập môn đường lối văn hoá văn nghệ của ĐCS - Pdf 37

Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

Đề cương ôn tập môn đường lối VHVN của ĐCS
Câu 1: Nêu hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử của bản Đề cương văn hóa Việt Nam
1943?
* Chính sách văn hóa của Phát xít Nhật:
- Tuyên truyền thuyết Đại đông Á: “ Đuổi người da trắng về Châu Âu và trả đất châu
Á cho người da Vàng”.
- Chương trình hợp tác Nhật –Việt: tuyển thanh niên đi học ở Nhật, tổ chức những
đoàn tham quan và những hoạt động nghệ thuật tuyên truyền cho “ Văn hóa phù tang”.
Viện Văn hóa Nhật được thành lập, thường xuyên tổ chức triển lãm, diễn thuyết, xuất
bản, báo chí, biểu diễn ca nhạc, diễn kịch, chiếu phim, du lịch, phục hồi những quan
điểm đạo đức cổ hủ và giả dối của giai cấp địa chủ phong kiến, lại vừa tuyên truyền lối
sống dâm ô, đồi trụy của giai cấp tư sản. Chúng vừa khuyến khích mê tín dị đoan, hủ tục,
vừa du nhập các trào lưu văn hóa phản động mệnh danh là “mới”. Chúng tung tiền ra để
sử dụng bè lũ tay sai, tổ chức các cơ quan và đoàn thể văn hóa nhằm nhồi sọ, ru ngủ và
lừa bịp đồng bào chúng ta
- Mục đích đánh lạc hướng được người dân Việt Nam khỏi con đường cứu nước của
Đảng
- Ảnh hưởng: một số văn nghệ sĩ Việt Nam đã ca tụng phong tục, tập quán và tinh
thần “Võ sĩ đạo” của Nhật. Một số người trong bọn họ đã làm tay sai cho Nhật
* Tư tưởng Tờ-rốt-kít : chủ nghĩa duy vật thô thiển, thực chất là duy tâm chủ quan. Bọn
Tờ-rốt-kít phủ nhận những di sản của quá khứ trong lúc cách mạng đang phát huy truyền
thống anh hùng và yêu nước của dân tộc Việt Nam. Vu khống Đảng ta là đi theo con
đường dân tộc chủ nghĩa và cải lương,
- Để giúp các tầng lớp thanh niên và trí thức khỏi ảnh hưởng nguy hại của bè lũ phát
xít và tay sai, hướng họ vào mục tiêu cứu nước. Đảng cần phải vạch trần những thủ
đoạn lừa bịp và quan điểm phản động của bè lũ thống trị và tay sai.

1


2


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

* Tổ chức các đoàn thể văn hóa cách mạng, Đảng đề ra: cần thành lập và phát triển Hội
văn học cứu quốc Việt Nam, kết nạp những người làm công tác văn hóa, giáo dục, khoa
học và văn học, nghệ thuật.
* Đề cương văn hóa thể hiện tinh thần cách mạng triệt để của Đảng cộng sản Đông
Dương và của giai cấp công nhân Việt Nam. Đề cương phục vụ đắc lực cho chính sách
mặt trận dân tộc thống nhất, chính sách đại đoàn kết dân tộc, tập trung lực lượng yêu
nước và tiến bộ, cô lập kẻ thù để đánh đổ chúng, nhằm đạt mục đích của cách mạng.
* Đề cương đề ra cho giới trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam, ngoài nhiệm vụ chung là giải
phóng dân tộc giành độc lập, tự do còn có sứ mệnh thiêng liêng là giải phóng văn hóa và
xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam.
Câu 3: Nêu những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc?
- Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ to lớn, khó khăn,
lâu dài đòi hỏi phải phát triển nền văn hoá dân tộc lên một trình độ mới.
- Việc mở cửa hội nhập quốc tế để tiếp thu, tiếp biến các thành tựu văn hoá - văn
minh nhân loại để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra yêu cầu phát triển văn
hoá dân tộc.
- Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm thực
hiện mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta hướng tới và khắc phục sự suy
thoái của tư tưởng, đạo đức, lối sống hiện nay.
- Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm khắc
phục mặt tiêu cực của xu thế toàn cầu hoá hiện nay.
Câu 4: Phân tích phương hướng xây dựng nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản

hàm nội dung và mục tiêu văn hóa. Văn hóa có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con
người, nguồn nhân lực quyết đinh cho sự phát triển của xã hội.
b. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
(Quan điểm về tính chất của nền văn hoá)
Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa có nội dung yêu nước và tiến bộ. Nền văn hóa nước
ta thể hiện sức phát triển sáng tạo của dân tộc, các lĩnh vực của nền văn hóa VN có trình độ phát
triển ngang tầm với các nước có trình độ tiên tiến trên thế giới, Những giá trị văn hóa truyền
thống được kết tinh và tập hợp các tinh hoa văn hóa cộng đồng các dân tộc, tiếp thu và hòa
quyện với các giá trị tiến bộ của văn hóa nhân loại, để đạt tới các giá trị cao cả, chân thiện mỹ.
4


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

c. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam (Quan điểm về mối quan hệ văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người ở nước ta)
Nét đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất mà đa dạng, trên cơ sở hòa
quyện bình đẳng sự phát triển của văn hóa dân tộc anh em cùng sống trên lãnh thổ Việt nam. Mỗi
thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam có nền
văn hóa chung thống nhất. Sự thống nhất bao hàm cả tính đa dạng; đa dạng trong sự thống nhất.
Không có sự đồng hóa hặc thôn tính, kỳ thị.
d. Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo trong đó
đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng (Quan điểm chủ thể của nền văn hoá nước ta)
Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiêp của toàn dân. Giai cấp công nhân, nông dân
trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc; đồng thời là lực lượng chủ lực, nòng cốt xây
dựng và phát triển văn hóa. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ gắn bó với nhân dân lao động được
Đảng, Nhà nước và nhân dân tôn trọng, tạo điều kiện phát huy tài năng phục vụ nhân dân, cống
hiến cho sự phát triển văn hóa của nước nhà do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của nền văn hóa Việt Nam.

Nhiệm vụ cụ thể đầu tiên cũng là nhiệm vụ trung tâm của công cuộc xây dựng và phát
triển văn hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam với 5
đức tính sau:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế
giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng
kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì
lợi ích của bản than, gia đình, tập thể, xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.
Năm cụm đức tính con người nêu lên trong Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII, vừa có kế
thừa những đức tính truyền thống, vừa đáp ứng những yêu cầu xây dựng con người Việt Nam
trong giai đoạn mới.

Câu 7: Văn hóa đạo đức là gì? Nêu những thành tố tạo nên nền văn hóa đạo đức?
Nêu khái niệm “văn hóa đạo đức” được các nhà lý luận văn hóa Xôviết dùng đầu tiên để
chí “văn hóa đạo đức của hành vi con người”. Họ cho rằng: “Nói văn hóa đạo đức là phải nói tới
hành vi con người. Bởi vì văn hóa đạo đức không thể tồn tại ngoài những hình thức cụ thể của
hành vi, không chỉ dừng lại ở đạo đức. Cho nên, ở đây nói đến văn hóa đạo đức giới khoa học

6


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

Việt Nam sử dụng và dần dần xác định rõ hơn nội dung của khái niệm: Thuật ngữ “văn hóa đạo
đức” dùng để chỉ một bộ phận của văn hóa tinh thần xã hội. Bộ phận ấy không chỉ là “văn hóa


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

Chúng đáp ứng tối ưu các nhu cầu của cá nhân và cộng đồng trong quan hệ với người khác và
với cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc, giai cấp, tổ quốc,..). Các giá trị đạo đức có vị trí quan
trọng trong đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng, người ta cần đến chúng như một nhu
cầu (cân bằng nội tâm), một lẽ sống (lý tưởng sống), một sức mạnh(động lực tinh thần) của cá
nhân và cộng đồng.
Hệ thống giá trị đạo đức là toàn bộ các giá trị đã được trải nghiệm, được sắp xếp theo
một trật tự, thứ bậc: cao – thấp, phổ biến – cục bộ, lâu dài – trước mặt, phố quát – phát sinh
v.v.. để định hướng hành động, cố kết cộng đồng và đánh giá hành vi đạo đức của mỗi cá nhân,
mỗi cộng đồng.
-Hệ thống chuẩn mức và khuôn mẫu đạo đức
Hệ thống chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, các cách thức cụ thể, định rõ con
người nên ứng xử như thế nào trong các tình huống, hoàn cảnh cụ thể cho phù hợp với các giá
trị đạo đức của cộng đồng. Chúng chính là sự cụ thể hóa, là sự vận dụng giá trị đạo đức vào
hành vi thực tiễn của con người, cấm đoán, chúng dẫn dắt hành vi của con người. Chúng lặp đi
lặp lại trở thành khuôn mẫu hành động, thành phong tục tập quán, nếp sống cá nhân và cộng
đồng.
Khuôn mẫu mang một ý nghĩa biểu trưng cho một chuẩn mực nào đó. Dần dần chúng trở
thành thói quen trong đời sống của các cá nhân và cộng đồng, ăn sâu vào tâm thức của họ.
-Hệ thống thiết chế xã hội – văn hóa đạo đức
Để đảm bảo cho sự trao truyền, giáo hóa đạo đức diễn ra liên tục và bảo đảm cho các giá
trị, chuẩn mực, hành vi đạo đức được vận thông, mỗi cộng đồng cần đến hệ thống thiết chế xã
hội – văn hóa thực hiện các chức năng trên. Hệ thống thiết chế xã hội – văn hóa về đạo đức bao
gồm các thiết chế gia đình, nhà trường, nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tôn giáo… Chúng
được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa các thành viên trong nhóm, cộng đồng với các quy chế,
quy định, quy ước, thể lệ, điều lệ, giới luật của nhóm, cộng đồng ấy.Chúng có sức mạnh vật chất
và tinh thần để thực hiện các chức năng mà xã hội đòi hỏi.

Đã xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm và hết sức phức tạp trong thực tiễn của văn hóa đạo
đức và lối sống hiện nay. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1998)
đánh giá: “Tệ sung bái nước ngoài, coi thường giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực
dụng, cá nhân vị kỷ,.. đang gây hại đến thuấn phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì
đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng
nghiệp. Buôn lậu, tham nhũng phát triển. Mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng. Nạn mê
tín dị đoan phổ biến. Nhiều hủ tục cũ, mới lan tràn, nhất là việc cưới, việc tang và lễ hội”.
Những hiện tượng tiêu cực trong lực lượng lãnh đạo xã hội là điều đáng báo động, từ đầu những
năm 1990 đến nay càng “phổ biến hơn”, “tinh vi hơn”, “nghiêm trọng hơn”, trở thành căn bệnh

9


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

trầm trọng của đời sống xã hội như Hội nghị Trưng ương năm khóa VII đã cảnh báo: “ Nghiêm
trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong
đó có cả cán bộ có chức, có quyền. Nạn tham nhũng dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí,
ăn chơi sa đọa không được ngăn chặn có hiệu quả. Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu
nhân dân, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến”.
3.3.3. Nguyên nhân của những biến đổi tích cực
Là do đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước phù hợp với yêu cầu khách quan
của đời sống xã hội, trở thành định hướng đúng đắn cho sự phát triển đất nước. Nhờ đó chúng ta
đã có những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống. Nhân dân ta có
truyền thống đạo đức và lối sống tốt đẹp nên đã tham gia tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa và lối sống mới vì hạnh phúc của cá nhân và cộng đồng.
3.3.4. Nguyên nhân dẫn đến những biến đổi tiêu cực
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII nêu lên, với các nguyên
nhân khách quan là:

chủ trương về kinh tế - xã hội ( mô hình kinh tế - xã hội, cải tạo công thương nghiệp…),
về giáo dục phiến diện mấy chục năm qua.
Câu 9: Phân tích các giải pháp cơ bản để xây dựng nền văn hóa đạo đức ở Việt Nam?
3.3.1. Phát triển kinh tế - xã hội lấy con người làm mục tiêu và quan tâm tới lợi ích của
nhân dân lao động
Đạo đức không sinh ra từ đạo đức, mà do những điều kiện kinh tế, sản xuất của xã hội
quyết định. Muốn tạo ra nền văn hóa đạo đức và lối sống mới phải xây dựng cơ sở kinh tế cho
chúng hình thành và phát triển. Hơn nữa, đối với nước ta là một nước nghèo, chậm phát triển lại
đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, vấn đề phát triển kinh tế là vấn đề mang ý nghĩa sống còn.
Giải pháp phát triển kinh tế là giải pháp có tính nguyên tắc trên cơ sở lý luận duy vật của chủ
nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội. C.Mác chỉ ra rằng: người ta trước hết phải ăn,
mặc, ở, đi lại sau mới bàn đến chính trị, khoa học, nghệ thuật và đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhấn mạnh: “Người dân lấy cái ăn bằng trời, nếu không có ăn là không có trời”. Vậy, muốn
có một nền văn hóa đạo đức tốt đẹp phải có một điều kiện vật chất, kinh tế tương xứng. Muốn
có một lối sống đẹp phải có một mức sống vật chất nhất định.
Quan tâm đến lợi ích của con người, trước hết là lợi ích kinh tế, là một nguyên tắc của
nền văn hóa đạo đức và lối sống mới. “Lợi ích được hiểu một cách đúng đắn là cơ sở của toàn
bộ đạo đức”.(C.Mác).
Phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, xã hội một cách hiện thực, trực tiếp
ở từng cơ sở, từng địa phương, từng người như quan điểm mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu

11


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

“ Mọi kế hoạch đầu tư xây dựng và phát triển gắn với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về
nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm tin, hạnh phúc của mỗi người dân, mỗi gia đình ngay ngày
hôm nay”.


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

hướng chính trị của Đảng và Nhà nước vừa bảo đảm quyền tự do sáng tạo và tính đặc thù
của văn hóa nghệ thuật.
Câu 11: Phân tích nhiệm vụ phát triển văn học nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay?
* Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ
thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng
xây dựng con người… Hướng văn nghệ nước ta phản ánh hiện thực sinh động, chân thực và sâu
sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc. Đặc biệt khuyến
khích các tác phẩm về công cuộc đổi mới thể hiện nổi bật những nhân tố tích cực trong xã hội,
những nhân vật tiêu biểu của thời đại. Cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa người
với người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái
ác, cái thấp hèn. Sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật cho thiếu niên, nhi đồng với hình
thức, nội dung thích hợp, nghiêm cấm xuất bản loại sách kích thích bạo lực ở trẻ em”.
Văn học nghệ thuật tiếp tục phát triển theo kịp với những đòi hỏi ngày càng cao của công
cuộc đổi mới, theo kịp đòi hỏi của công chúng có trình độ văn hóa và năng lực thẩm mỹ ngày
càng cao.
Đảng “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì
mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh
hướng sáng tác suy đòi, phi nhân tính. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác đi đôi với nêu cao
trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa”
- Quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ quốc, nhân dân và chủ
nghĩa xã hội.
- Tư do sáng tác trong văn học nghệ thuật là tự do phục vụ nhân dân, Tổ quốc và chủ
nghĩa xã hội, Tự do sáng tác gắn liền với việc nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội
của người nghệ sĩ trước Tổ quốc

cách mạng. Củng cố hoàn thiện thể chế của văn hóa, văn nghệ bảo đảm tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước, vai trò làm chủ của nhân
dân và lực lượng những người hoạt động văn học nghệ thuật. Phát triển đi đôi với quản lý
tốt các hoạt động dịch vụ nghệ thuật và công tác xuất nhập khẩu văn hóa nghệ thuật,
chống xu hướng thương mại hóa và đề phòng xu hướng phi chính trị hóa trong lĩnh vực
hoạt động nghệ thuật. Không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn
học nghệ thuật theo hướng: phát huy dân chủ, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, bảo đảm
điều kiện vật chất và tinh thần cho văn nghệ sĩ đi đôi với bảo đảm định hướng chính trị

14


Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

của Đảng và Nhà nước. Kiên quyết khắc phục các “biểu hiện giản đơn, thô thiển, thiếu
dân chủ” trong lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật. Làm rõ hơn tính chất chính trị - xã
hội, nghề nghiệp của các tổ chức sáng tạo nghệ thuật ở Trung ướng và địa phương để có
cơ chế lãnh đạo, quản lý và đầu tư phát triển tốt.
Câu 12: Phân tích vai trò của thông tin đại chúng đối với sự phát triển văn hóa- xã hội
trong giai đoạn hiện nay?
-

Thông tin đại chúng có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển văn hóa, xã hội

-

Tác động của thông tin đại chúng không chỉ đối với mỗi cộng đồng mà còn có thể
vượt qua khuôn khổ các quốc gia dân tộc, ảnh hưởng đến cả khu vực hoặc toàn cầu.



Đề cương ôn tập đường lối VHVN của ĐCS
Trịnh Mai

Thông tin đại chúng ở nước ta góp phần vào việc hướng dẫn và hình thành dư luận xã
hội tích cực, đúng đắn, lành mạnh trên cơ sở thông tin nhanh chóng, đầy đủ, phong phú và chân
thật về các sự kiện, hiện tượng, những vấn đề nảy sinh trong đời sống xẫ hội… Hơn thế, thông
tin đại chúng còn phân tích, lí giải, chỉ ra bản chất, tính quy luật của các sự kiện, biến cố, giúp
nhân dân nhận thức và hành động hợp lý, tích cực. Các phương tiện thông tin đại chúng tiến
hành truyền bá, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước, trang bị những tri thức cần thiết làm cơ sở, điều kiện cho việc hình thành
quan điểm, lập trường, thái độ chính trị, xã hội đúng đắn, tiến bộ và tích cực, tạo lập trong cán
bộ, đảng viên và nhân dân thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và cách mạng, từ đó có ý thức
tự giác cách mạng cao đối với chế độ, với đất nước và dân tộc.
- Thông tin đại chúng còn có chức năng giám sát, kiểm soát và quản lý xã hội. Đối
với xã hội hiện đại, các phương tiện thông tin đại chúng phát hiện và cảnh báo kịp thời những
vấn đề kinh tế - xã hội, làm cho mọi tiến trình, mọi yếu tố hợp thành của xã hội có thể vận động,
phát triển phù hợp mục đích và mang lại hiệu quả tốt đẹp. Sự vận hành của hoạt động quản lý xã
hội thực chất cũng chính là dòng thông tin phong phú, liên tục từ xã hội đến Đảng, Nhà nước,
các cấp chính quyền và ngược lại.
- Thông tin đại chúng tham gia giám sát sự vận hành của các tiến trình chính trị,
kinh tế, xã hội, phát hiện và cảnh báo kịp thời những nguy cơ, những khó khăn phức tạp ảnh
hưởng đến sự phát triển chúng (sự giám sát của thông tin đại chúng trước hết nhằm vào các cơ
quan tổ chức quyền lực của bộ máy Nhà nước, các cán bộ, đảng viên có trách nhiệm trong bộ
máy công quyền). Đồng thời tham gia vào hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách của
Đảng và Nhà nước. Thông tin đại chúng còn trở thành diễn đàn dân chủ rộng rãi của nhân dân
tham gia quản lý xã hội. Đời sống xã hội càng được phát huy dân chủ, nhân dân càng có nhiều
điều kiện để tham gia giải quyết các vấn đề chung của xã hội. Thông tin đại chúng là phương
tiện quan trọng, có sức mạnh to lớn trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu dân chủ hóa, công
khai hóa, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho nhân dân góp sức lực và tài năng để giải quyết các


Chúc các bạn ôn tập tốt và thi tốt!

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status