LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận văn là hoàn toàn
trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, và chưa được sử dụng để bảo vệ một
học vị nào.
Các số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập thực tế, chính xác,
đáng tin cậy, có nguồn ngốc rõ ràng, được xử lý trung thực khách quan.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Như Quỳnh
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sỹ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tác giả, còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy
cô và sự động viên ủng hộ của gia đình bạn bè trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn giảng
viên hướng dẫn TS. Trương Thị Hoài Linh. Trong thời gian qua, cô đã dành nhiều
thời gian và công sức, với nhiệt huyết và trách nhiệm để hướng dẫn tôi trong quá
trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã
không ngừng ủng hộ động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện luận văn.
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Kí hiệu
DNVVN
trọng đối với sự phát triển chung của đất nước. Thể hiện ở việc, hàng năm doanh
nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 40% vào tổng sản lượng quốc nội (GDP), 30%
vào thu nộp ngân sách nhà nước, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị
hàng hóa xuất khẩu và thu hút tới 51% lượng lao động,… (Tô Hoài Nam, 2015).
Trong thời gian gần đây, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn tham gia tích cực vào quá
trình cân đối ngoại tệ, do tỷ lệ các doanh nghiệp hoạt động trong quá trình xuất
nhập khẩu ngày càng tăng. Không những chỉ đóng góp vào sự phát triển của nền
kinh tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn tạo ra hàng triệu công ăn việc làm mỗi năm,
góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường ổn định an sinh xã hội.
Mặc dù có những đóng góp to lớn về kinh tế, xã hội như vậy, tuy nhiên
cũng trong năm 2014, chúng ta đã phải đón nhận hàng loạt thông tin về việc thu
nhỏ hoạt động, thậm chí phá sản của các doanh nghiệp mà trong đó, doanh nghiệp
vừa và nhỏ cũng chiếm đa số. Một trong số những nguyên nhân dẫn tới tình trạng
nêu trên của các doanh nghiệp vừa vả nhỏ trong thời gian qua đó chính là khó
khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Thực tế, tại thời điểm này, chỉ có
30% số doanh nghiệp vừa và nhỏ được tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, còn lại 70%
là sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác, trong đó có nhiều doanh nghiệp phải
chịu mức lãi suất rất cao, lên tới 18%/năm (Tô Hoài Nam, 2014). Ngoài nguyên
nhân chủ quan từ nội tại doanh nghiệp như đặc điểm về quy mô, chất lượng sản
phẩm, cách thức quản lý, minh bạch thông tin,… thì nguyên nhân từ phía ngân
hàng cũng là một thách thức đối với việc tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Các ngân hàng đều gặp phải vướng mắc trong quá trình cho vay đối
8
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ dù biết đây là loại hình chiếm đa số trong cơ cấu
khách hàng, mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho hệ thống ngân hàng.
Cụ thể, tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, đặc biệt là hội sở
chính (sau đây trong luận văn sẽ viết tắt là MB) – cơ quan có nhiệm vụ tổng hợp
đối với DNVVN tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội dựa vào những
chỉ tiêu và thang đo đã lựa chọn. Thông qua đó tìm ra ưu, nhược điểm,
9
nguyên nhân gây ra nhược điểm trong quá trình cho vay và sử dụng các biện
-
pháp mở rộng cho vay đối với DNVVN.
Mục tiêu đề xuất: luận văn đưa ra những giải pháp mới, cụ thể, có tính khả
thi nhằm mở rộng cho vay đối với DNVVN cho Hội sở chính của Ngân hàng
-
thương mại cổ phần Quân đội.
• Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vấn đề lý luận và thực tiễn về mở rộng cho vay đối
với DNVVN tại ngân hàng thương mại
Khách thể nghiên cứu: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội.
• Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Luận văn phân tích và đánh giá thực trạng mở rộng cho
vay trong giai đoạn 2012 – 2014 và đưa ra giải pháp mở rộng cho vay trong
-
giai đoạn 2015 – 2020.
Phạm vi không gian: Hội sở chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân
-
đó thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng cho vay đối với DNVVN của
ngân hàng và ưu, nhược điểm của các giải pháp mở rộng cho vay đối với DNVVN
đang được áp dụng tại ngân hàng.
-
Đối với nguồn dữ liệu thứ cấp:
+ Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu được lấy từ các báo cáo thường
niên, báo cáo riêng lẻ, báo cáo khối DNVVN của ngân hàng trong các năm 2012,
2013, 2014. Bên cạnh đó là các văn bản về chính sách, quy trình của nội bộ ngân
hàng, báo, tạp chí, giáo trình,…
+ Phương pháp phân tích dữ liệu: luận văn sử dụng phương pháp định lượng
để phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng cho vay đối với DNVVN theo
quy mô. Bằng việc so sánh giá trị tuyệt đối và tương đối của các chỉ tiêu này sẽ cho
thấy xu hướng và mức độ mở rộng cho vay đối với DNVVN.
•
Kết cấu luận văn: Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn được
chia thành 3 phần chính như sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
ngân hàng thương mại tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại của Hội sở chính Ngân hàng
thương mại cổ phần Quân đội
11
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tùy vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
nước và những quy định cụ thể phù hợp trong từng giai đoạn, ngành nghề khác
nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.
Tại Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu, học hỏi các quốc gia trên thế
giới và theo sát thực tế thì theo Chính phủ (2001): "DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người".
Khái niệm này chỉ mang tính chất tương đối, bởi nó còn tùy thuộc vào lĩnh vực mà
doanh nghiệp đang hoạt động. Nội dung này đã được cụ thể hóa Chính phủ (2009):
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên).
13
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí số lao động và nguồn vốn
Quy mô
Doanh
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
nghiệp
vốn
từ trên 20 tỷ
từ trên 200
trở xuống
người đến
đồng đến
người đến 300
100 tỷ đồng
từ trên 20 tỷ
người
từ trên 200
Công
10 người
20 tỷ đồng
200 người
từ trên 10
nghiệp và xây
mại và dịch vụ
trở xuống
trở xuống
người đến 50
người
tỷ đồng
người
(Nguồn: Chính phủ, 2009)
Tóm lại, việc nhận diện DNVVN được coi là cần thiết và phù hợp với tình
hình kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm đưa ra nhận thức
đúng đắn về vị trí, vai trò của DNVVN trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển
không ngừng của kinh tế Việt Nam cũng như xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,
khái niệm về DNVVN sẽ có thể tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa. Tuy
nhiên, trong phạm vi luận văn, DNVVN tạm thời được hiểu theo Chính Phủ (2009)
là các cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của Pháp luật
với quy mô lao động dưới 300 người và tổng nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng, được
phân loại cụ thể theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.
14
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về DNVVN tuy nhiên hầu hết các
DNVVN, cụ thể là các DNVVN tại Việt Nam đều mang những đặc điểm chung
thị trường. Các DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người
tiêu dùng, luôn cập nhật thông tin về doanh nghiệp lớn và đối thủ nên phản ứng
nhanh nhạy, kịp thời với biến động của thị trường, đáp ứng được xu thế tiêu dùng.
Với quy mô về cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế, DNVVN đổi mới linh hoạt hơn, dễ
dàng chuyển đổi sản xuất mà không gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội, đồng
thời DNVVN có thể kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại.
Thứ năm, DNVVN có khả năng cạnh tranh thấp, gặp khó khăn trong việc
khẳng định chỗ đứng trên thị trường. Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ, khả
năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNVVN thường gặp khó khăn
trong việc mở rộng quy mô, triển khai dự án lớn và đầu tư mới. Không đủ vốn để
nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, các doanh
nghiệp này thường sử dụng công nghệ lỗi thời. Vì thế sản phẩm sản xuất ra thường
có chất lượng không cao. Bên cạnh đó, DNVVN có nhiều hạn chế trong công tác
marketing, khuếch trương, quảng bá làm giảm khả năng chiếm lĩnh thị trường và
phát triển của doanh nghiệp. Nhưng cũng chính vì lý do này mà DNVVN lại tạo
được sự tự do cạnh tranh. Khác với các doanh nghiệp lớn cần thị trường lớn, đôi khi
đòi hỏi có sự bảo hộ của Chính phủ và dẫn tới độc quyền, DNVVN hoạt động với
số lượng đông đảo, thường không có tình trạng độc quyền, sẵn sàng chấp nhận cạnh
tranh tự do. DNVVN tự chủ cao hơn, không dựa dẫm vào sự hỗ trợ của nhà nước và
vì mục tiêu lợi nhuận các DNVVN sẵn sàng khai thác cơ hội để phát triển mà không
ngại rủi ro.
1.2. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thương mại
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng. Thật vậy: Tín dụng (credit) trong
tiếng Anh có nghĩa là sự tin tưởng, lòng tin. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được
hiểu theo nhiều cách khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối
thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng vốn vay để thực hiện
17
hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Như vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển của
mình, ngân hàng phải yêu cầu khách hàng thực hiện đúng cam kết này. Ngoài ra,
Ngân hàng có thể cho vay bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền cho vay
có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản đối tác của khách hàng.
Thứ ba, từ những khái niệm về cho vay nói chung của ngân hàng thương mại
và khái niệm về DNVVN: Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với
DNVVN là mối quan hệ về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay
(DNVVN), trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao cho DNVVN một khoản tiền,
DNVVN được phép sử dụng trong một thời gian nhất định theo đúng mục đích đã
thoả thuận, đồng thời có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân
hàng khi đến hạn thanh toán.
1.2.2. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân
hàng thương mại
Để thực hiện phân loại các hình thức cho vay đối với DNVVN tại Ngân hàng
thương mại, tác giả lựa chọn tiêu thức phân loại theo thời gian. Luận văn phân chia
hoạt động cho vay đối với DNVVN theo hai hình thức là cho vay ngắn hạn và cho
vay trung, dài hạn.
Căn cứ để xác định thời hạn cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn được khá
nhiều tác giả đề cập tới, tuy nhiên tựu chung lại, đều xuất phát từ việc xác định thời
hạn tín dụng. Cụ thể theo Phan Thị Thu Hà (2013) đã phân loại thời hạn tín dụng
như sau: Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống; Tín dụng trung hạn: Từ trên 1
năm đến 5 năm (hoặc 7 năm); Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm (hoặc 7 năm). Do đó,
thời hạn cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng thương mại cũng được xác định
tương tự.
tác khi thẩm định khoản vay.
Thứ hai, hình thức cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng. Hình thức này
thường được các NHTM sử dụng đối với đối tượng DNVVN hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng công trình, nhà ở,… Mặc dù việc xây dựng các công trình có thời
gian kéo dài, tuy nhiên việc vay vốn chỉ mang tính chất tạm thời trong khi DNVVN
chờ đợi được thanh toán từ phía đối tác đầu ra. Các khoản vay này thường cung cấp
vốn cho DNVVN nhằm mục đích trang trải các khoản chi phí trước mắt như tiền
lương nhân công, nguyên vật liệu xây dựng, chi phí giải phóng mặt bằng hay tiền
19
thuê thiết bị xây dựng,… DNVVN sẽ được đối tác đầu ra thanh toán theo tiến độ
hoàn thành công trình. Sau khi nhận được tiền thanh toán, doanh nghiệp sẽ trả nợ
cho ngân hàng. Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng cũng có thể theo hình
thức quay vòng hoặc không quay vòng dựa trên phương thức thanh toán từ đối tác
đầu ra của DNVVN. Thời hạn vay vốn dựa trên thời gian thi công của DNVVN và
thời hạn thanh toán của đối tác đầu ra.
Thứ ba, hình thức cho vay kinh doanh chứng khoán. Những DNVVN hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán thường cần sự hỗ trợ vốn ngắn hạn để
mua chứng khoán mới hoặc duy trì danh mục đầu tư chứng khoán hiện có của mình
cho tới khi các chứng khoán đó đáo hạn hay được bán ra. Các NHTM thường sẵn
sàng cho vay đối với doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán trong tình hình kinh tế
ổn định, bởi những khoản vay này thường có chất lượng cao, đảm bảo bằng chính
những chứng khoán mà doanh nghiệp đang nắm giữ (bao gồm cả chứng khoán
chính phủ) và kỳ hạn vay vốn thường rất ngắn. Vì vậy, với hình thức cho vay kinh
doanh chứng khoán, NHTM có thể đưa ra mức lãi suất cho vay phù hợp, vừa đảm
bảo nguồn thu lớn và thời gian thu hồi vốn nhanh, bên cạnh đó, DNVVN có thể tận
dụng được cơ hội để thực hiện thu lợi từ việc thu mua chứng khoán theo kế hoạch
của mình.
xưởng, công trình,… tựu chung là đầu tư tài sản cố định nhằm nâng cao năng lực
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc lựa chọn hình thức trả gốc, lãi theo kỳ
thanh toán cũng được NHTM cân nhắc để tránh những trường hợp doanh nghiệp
thiếu hụt vốn tạm thời trong thời kỳ đầu vay vốn, khi mà việc đầu tư vào tài sản cố
định chưa phát huy tác dụng mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh. Tài
sản đảm bảo của khoản vay thường chính là tài sản hình thành từ vốn vay là máy
móc, thiết bị, nhà xưởng. Thời gian cho vay và thời gian để tài sản cố định được đầu
tư của DNVVN phát huy tác dụng thường kéo dài nên ẩn chứa nhiều rủi ro trong
quá trình cho vay. Thực tế này buộc các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng khi thực
hiện cho vay đối với DNVVN dựa trên việc xem xét các nhân tố: trình độ quản lý,
chất lượng hệ thống kế toán đang sử dụng, tính minh bạch về tình hình tài chính,
cam kết thế chấp duy nhất tài sản hình thành từ vốn vay tại ngân hàng tài trợ, bảo
hiểm cho tài sản, rủi ro công nghệ đối với tài sản, thời gian từ khi đầu tư tới khi thu
được lợi nhuận từ việc đầu tư tài sản, xu hướng nhu cầu thị trường và trạng thái tài
sản của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sau khi cho vay, yêu cầu ngân hàng phải
21
thường xuyên bám sát hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo việc cho vay có hiệu
quả và có thể thực hiện thu hồi vốn vay trước hạn nếu có dấu hiệu bất lợi từ doanh
nghiệp.
Thứ hai, hình thức cho vay dự án trung, dài hạn. Hình thức cho vay này có
mức độ rủi ro cao nhất. Các NHTM thường sử dụng để tài trợ một dự án cụ thể sẽ
dự tính mang lại thu nhập trong tương lai, ví dụ như đầu tư xây dựng nhà máy lọc
dầu, phòng khám đa khoa, dự án nhà ở chung cư,… Đặc trưng của những dự án này
là yêu cầu nguồn vốn lớn và thời gian từ khi đầu tư tới khi lợi nhuận thu hồi thường
kéo dài. Đối với hình thức cho vay này, NHTM thường phải đối diện với những rủi
ro như sau: quy mô vốn lớn, các dự án tuy đã được cấp vốn tuy nhiên phải trì hoãn
do điều kiện thời tiết, tiến độ giải phóng mặt bằng; quy định tại địa phương nơi thực
sâu thường do thay đổi phương thức sản xuất hay ứng dụng công nghệ mới,.. Dựa
trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (1900s) về mở rộng trong tái sản xuất,
mở rộng cho vay đối với DNVVN ở NHTM cũng có thể hiểu theo hai hướng tương
tự: mở rộng theo chiều rộng về quy mô và mở rộng theo chiều sâu về chất lượng.
Mở rộng cho vay về quy mô được thể hiện thông qua mức dư nợ cho vay, số lượng
khách hàng DNVVN tăng lên. Còn mở rộng cho vay về chất lượng tức là nâng cao
chất lượng cho vay đối với DNVVN. Theo nghiên cứu của (Cronin & Taylor, 1992;
Spreng & Taylor, 1996) thì chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn tới sự hài lòng
của khách hàng với lý do chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ
còn sự hài lòng chỉ được khách hàng đánh giá sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Liên
hệ với nghiên cứu trên có thể thấy chất lượng cho vay đối với DNVVN tăng lên
đồng nghĩa với việc sự hài lòng của DNVVN về sản phẩm cho vay tại ngân hàng
thương mại cũng tăng lên hay nói cách khác sự hài lòng của DNVVN phản ánh chất
lượng cho vay của ngân hàng thương mại. Như vậy, mở rộng hoạt động cho vay
không chỉ dừng lại ở việc gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của DNVVN
thông qua việc tăng mức dư nợ cho vay đối với loại hình khách hàng này, tăng số
lượng khách hàng của ngân hàng mà còn là sự gia tăng về mức độ hài lòng của
DNVVN với sản phẩm cho vay, nói cách khác là sự mở rộng cho vay về chất lượng.
Tóm lại, mở rộng cho vay trong nội dung luận văn được hiểu là sự mở rộng
theo chiều rộng về quy mô và mở rộng theo chiều sâu về chất lượng cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại.
23
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng về quy mô
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại. Căn cứ vào quan niệm đưa ra
(đơn vị: %)
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ bình quân của DNVVN năm sau (năm t) tăng
(giảm) bao nhiêu phần trăm so với dư nợ bình quân năm trước đó (năm t-1). Tốc độ
tăng trưởng dư nợ bình quân của DNVVN năm t tại ngân hàng dương (lớn hơn 0)
thể hiện dư nợ bình quân của DNVVN năm sau (năm t) cao hơn năm trước đó. Tốc
độ tăng trưởng dư nợ bình quân của DNVVN năm sau cao (thấp) hơn năm trước thể
hiện rằng dư nợ bình quân của DNVVN năm sau tăng với tốc độ nhanh (chậm) hơn
năm trước. Vì vậy tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân của DNVVN càng lớn (nhỏ)
chứng tỏ dư nợ bình quân của DNVVN tăng càng nhanh (chậm) và mức độ mở
rộng cho vay đối với DNVVN của ngân hàng càng lớn (nhỏ). Tốc độ tăng trưởng
dư nợ bình quân của DNVVN tương tự chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng của
ngân hàng. Bởi vậy nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân của DNVVN tại ngân
hàng thương mại càng gần với tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành thì mức độ
mở rộng cho vay đối với DNVVN ở mức trung bình. Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ
bình quân của DNVVN tại ngân hàng thương mại cao hơn tốc độ tăng trưởng tín
dụng của ngành đồng nghĩa với việc mở rộng cho vay đối với DNVVN ở mức cao.
Ngược lại nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân của DNVVN tại ngân hàng
thương mại thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành đồng nghĩa với việc mở
rộng cho vay đối với DNVVN ở mức thấp. Trong trường hợp, tốc độ tăng trưởng dư
nợ bình quân của DNVVN tại ngân hàng thương mại âm (nhỏ hơn 0) tức là dư nợ
bình quân của DNVVN tại ngân hàng thương mại năm sau nhỏ hơn năm trước,
ngân hàng đang cho DNVVN vay ít đi, thu hẹp cho vay đối với DNVVN.
Thứ ba là chỉ tiêu mức độ gia tăng tỷ trọng dư nợ của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong tổng dư nợ tại ngân hàng thương mại. Tỷ trọng dư nợ của DNVVN cho
biết dư nợ của DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ của ngân hàng
25
tại một thời điểm xác định. Thời điểm đánh giá thường là cuối quý, cuối kỳ 6 tháng