BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
DƯƠNG QUỲNH TRANG
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VAI TRÒ GIÁO DỤC
CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân điện tử,
Báo điện tử Hà Nội Mới năm 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
DƯƠNG QUỲNH TRANG
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VAI TRÒ GIÁO DỤC
CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Báo chí, Khoa Phát
thanh và Truyền hình (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã dày công giảng
dạy, đào tạo em trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Huy Kỳ đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn một số toà soạn báo điện tử, đặc biệt là Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Hà Nội mới... đã tạo điều kiện
giúp đỡ, góp ý, động viên tác giả hoàn thành luận văn.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng song luận văn vẫn còn đôi chỗ sai sót.
Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng năm 2016
Dương Quỳnh Trang
MỤC LỤC
Biểu đồ 2.1: Kết quả khảo sát Dangcongsan.vn...............................................................................50
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát Nhandan.com.vn..............................................................................51
Biểu đồ 2.3: Kết quả khảo sát Hanoimoi.com.vn.............................................................................52
Biểu đồ 2.4: Mức độ xuất hiện tác phẩm........................................................................................52
trung bình một ngày trên mỗi tờ báo.............................................................................................52
Biểu đồ 2.5: Thể loại các tác phẩm báo chí trên Dangcongsan.vn, Nhandan.com.vn,
Hanoimoi.com.vn............................................................................................................................68
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ về hình thức các tác phẩm giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo điện tử.....69
Biểu đồ 2.7: Biểu đồ đánh giá việc tổ chức hệ thống chuyên trang, chuyên mục...........................71
Biểu đồ 2.8: Biểu đồ về việc tổ chức chiến dịch phát động, ..........................................................72
tuyên truyền tại tòa soạn................................................................................................................72
Biểu đồ 2.9: Biểu đồ về mức độ quan tâm với giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo điện tử hiện
nay...................................................................................................................................................75
: Báo mạng điện tử
ĐCSVN
: Đảng Cộng sản Việt Nam
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ đảng viên. Người
nêu rõ “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân [22, tr.1]”. Và muốn được như vậy thì phải được học tập, nghiên cứu
về lý luận chính trị, được giáo dục, được định hướng tư tưởng.
Một Đảng vững mạnh phải được xây dựng trên nền tảng các đảng viên
có năng lực, tâm huyết với công việc và đặc biệt là phải vững về chính trị, tư
tưởng. Nếu đảng viên không hiểu, không nắm vững hệ tư tưởng Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng thì không thể
đưa đất nước lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, Nghị quyết TW 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã nêu rõ
những hạn chế của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, đảng
tôi chọn đề tài “Báo mạng điện tử với vai trò giáo dục chính trị - tư tưởng
cho đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” làm luận văn
thạc sĩ báo chí của mình. Từ đó góp phần làm rõ những kinh nghiệm lý luận
và thực tiễn trong việc giáo dục chính trị - tư tưởng, qua đó hy vọng kiến giải
những biện pháp nâng cao vai trò giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên báo điện tử hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Luận văn thạc sĩ chính trị học, chuyên ngành công tác tư tưởng liên
quan đến vấn đề giáo dục chính trị - tư tưởng đội ngũ đảng viên Đảng Cộng
sản Việt Nam. Có thể kể đến một số luận văn như sau:
3
“Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ đảng viên ở Đảng
bộ huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai hiện nay” của thạc sĩ Trần Văn Chiến
năm 2012.
“Chất lượng giáo dục chính trị lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên
huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai hiện nay” của thạc sĩ Nguyễn Quốc Bảo năm
2012”.
“Chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, đảng viên quận
6, TP Hồ Chí Minh hiện nay” của thạc sĩ Khổng Minh Hằng năm 2014.
“Chất lượng giáo dục bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên các xã
biên giới huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng hiện nay” của thạc sĩ Hoàng
Minh Hải năm 2014.
“Chất lượng giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
cho cán bộ, đảng viên ở quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”
của thạc sĩ Cao Yên Sơn năm 2014.
“Đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán
bộ, đảng viên huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sĩ
2015.
Báo phụ nữ với vấn đề tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ
Việt Nam hiện nay (Khảo sát các tờ báo in Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, Phụ
nữ TP. Hồ Chí Minh từ 1/2012- 1/2013) của thạc sĩ Phạm Thị Phượng năm 2013.
Giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trên kênh VTV6 – Đài
truyền hình Việt Nam (Khảo sát từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014) của thạc sĩ
Nguyễn Thị Thủy năm 2014.
Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên trên VTV (Khảo sát các
kênh VTV2, VTV6, O2TV từ tháng 11/2012 đến tháng 4/2014) của Trần Thị
Hải Anh năm 2014.
Như vậy, xét ở cả luận văn thạc sĩ chính trị học chuyên ngành công tác
tư tưởng và luận văn thạc sĩ báo chí, mặc dù đã có không ít những đề tài, công
5
trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khác nhau liên quan đến đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam cũng như vai trò của báo chí đối với nhiệm vụ giáo dục
cho nhiều đối tượng của nhiều lĩnh vực nhưng chưa có công trình nghiên cứu
nào về vai trò của báo mạng điện tử trong giáo dục chính trị - tư tưởng cho
đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy đề tài tác giả luận văn
thực hiện là đề tài có nội dung nghiên cứu rõ ràng và độc lập, không trùng với
bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về giáo dục chính trị - tư tưởng
và của báo mạng điện tử trong việc giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ
đảng viên ĐCSVN, luận văn khảo sát và đánh giá thực trạng vai trò giáo dục
chính trị - tư tưởng trên một số báo mạng điện tử, từ đó đề xuất giải pháp phát
huy vai trò giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ đảng viên Đảng Cộng
Đảng, Nhà nước. Là cơ quan báo chí có sự uy tín cao, có tiếng nói được nhiều
công chúng tiếp nhận thông tin trên các tờ báo này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí cách
mạng. Đồng thời, để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên,
tác giả luận văn đã sử dụng những phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để xem xét phân tích các
thông tin trong tài liệu, trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn có, sau đó rút
ra những dữ liệu để so sánh, đối chiếu.
7
- Phương pháp phân tích nội dung: được sử dụng để phân tích các văn bản,
tác phẩm báo chí trên dangcongsan.vn, nhandan.com.vn và hanoimoi.com.vn qua
đó chỉ ra những thành công, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với những cán bộ là lãnh
đạo quản lý các cơ quan báo chí và phóng viên các cơ quan báo chí được khảo sát.
- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng anket: tác giả luận văn
tiến hành điều tra 200 phiếu điều tra để khảo sát.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để đánh giá những kết quả
nghiên cứu, qua đó đề xuất các giải pháp cần thiết.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Với đề tài “Báo mạng điện tử với vai trò giáo dục chính trị - tư tưởng
cho đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”, luận văn của tác
giả được bạn bè, đồng nghiệp góp ý là lĩnh vực còn khá mới mẻ, chưa có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy, luận văn của tác giả
là công trình nghiên cứu mới mẻ và thiết thực.
- Qua nghiên cứu, khảo sát, điều tra, phân tích, so sánh... tác giả luận
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát huy vai trò
của báo mạng điện tử trong giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
9
Chương 1
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VAI TRÒ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm, nội dung, vai trò của báo mạng điện tử trong giáo
dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Giáo dục
Theo từ điển Tiếng việt, giáo dục là một hoạt động tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần và thể chất của sự phát triển làm cho
những đối tượng ấy hình thành phẩm chất và năng lực như yêu cầu đã đề ra.
“Giáo dục” theo tiếng anh được viết là “Education” - vốn có gốc từ
tiếng La tinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra”. Và vì vậy, có thể hiểu
“giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của
người được giáo dục”.
Giáo trình Giáo dục học định nghĩa: “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc
biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội
của các thế hệ loài người…” [13, tr.9].
Trong từ điển Giáo dục học trang 105 có viết, Giáo dục được hiểu là
hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động
nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống,
bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát
triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị
cho đối tượng tham giao lao động sản xuất và đời sống xã hội.
Nguyễn Văn Hộ - PGS.TS Hà Thị Đức, xuất bản 2002, nhà xuất bản Hà Nội
(trang 5) thì: Giáo dục là một hiện tượng xã hội, trong đó một tập hợp xã hội
(nhóm người) đã tích lũy được vốn kinh nghiệm nhất định truyền đạt lại cho
11
nhóm xã hội khác nhằm giúp họ tham gia sâu vào đời sống xã hội, giúp họ
hiểu bản chất các chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội để xây dựng thành
nhân cách phù hợp với sự đòi hỏi của lợi ích xã hội.
Từ các quan niệm trên cho thấy giáo dục một mặt cung cấp tri thức,
kinh nghiệm, mặt khác định hướng hành vi thông qua việc cung cấp khuôn
mẫu hành vi theo yêu cầu nhất định. Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá
trình hình thành nhân cách của con người bởi vì:
Một là, giáo dục vạch ra phương hướng phát triển nhân cách thông qua
những hình mẫu nhân cách theo yêu cầu nhất định.
Hai là, qua giáo dục nhằm truyền thụ các tri thức, các kỹ năng - điều
kiện cần thiết để hình thành nhân cách.
Ba là, qua giáo dục và bằng giáo dục hướng đối tượng giáo dục đến
một tương lai tốt đẹp. Giáo dục có khả năng uốn nắn những hành vi lệch
chuẩn trong phát triển nhân cách, tạo dựng những hình mẫu nhân cách mới
đáp ứng những đòi hỏi của xã hội. Những phẩm chất của nhân cách được hình
thành chủ yếu là do quá trình giáo dục và tự giáo dục.
Dựa trên quan điểm của các tác giả, các nhà nghiên cứu giáo dục, quan
niệm giáo dục được sử dụng trong luận văn là:
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ nhận thức, thái độ,
hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.1.1.2. Chính trị
Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, đa dạng và phức tạp, liên quan đến lợi
thì nhà nước và chính trị chắc chắn sẽ tiêu vong.
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm rằng, chính trị về thực chất bắt
nguồn từ quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, quốc gia, dân tộc mà trước tiên là
lợi ích kinh tế. Lênin cho rằng, chính trị là “sự biểu hiện tập trung của kinh
tế” [33, tr.349-350]. Chính trị do kinh tế quy định; cơ cấu kinh tế, sự vận
13
động và phát triển kinh tế quy định sự biến đổi của chính trị. Kinh tế xét đến
cùng “là nhân tố quyết định nhất đối với thắng lợi của trật tự xã hội” [34,
tr.418]. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ biện chứng, tác
động qua lại và cần xem xét trong một chỉnh thế thống nhất.
Kế thừa các nhân tố hợp lý trong các quan điểm về chính trị, có thể
thấy rằng, chính trịnh là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa
các quốc gia xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước, là
hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để
thực hiện hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối quan hệ với các giai cấp,
tầng lớp khác.
1.1.1.3. Tư tưởng
Thuật ngữ “tư tưởng” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ “Idea”, có
nghĩa là hình thức, hình tượng. Tiếng Anh tư tưởng là Ideology (danh từ).
Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, Nxb. Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2010, cho rằng, “tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý nghĩ, những quan
điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với
xã hội” [154, tr.1370]. Mọi tư tưởng đều được rút từ kinh nghiệm thực tiễn
hoạt động sống của con người, phản ánh đúng đắn hay phản ánh không đúng
hiện thực khách quan.
Từ điển tiếng Việt, có chữ Hán cho từ ngữ Hán - Việt, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 2011 viết: Tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý nghĩ của con người, hay chính
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mọi tư tưởng đều được rút
ra từ kinh nghiệm. Chúng là sự phản ánh đúng đắn hay phản ánh xuyên tạc
hiện thực. Nhưng tư tưởng không chỉ đơn thuần là sự phản ánh thế giới khách
quan. Trên cơ sở phản ánh thế giới khách quan, tư tưởng xác định con đường
để cải tạo thế giới. Vì vậy, nội dung của bất kỳ tư tưởng nào cũng bao hàm
những mục đích và những nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn. Đó là chỗ khác
nhau căn bản giữa tư tưởng với các hình thức phản ánh khác. Sau khi xuất
15
hiện, tư tưởng có tính có tính độc lập tương đối và ảnh hưởng tích cực trở lại
sự phát triển của hiện thực. Những tư tưởng khác nhau có tác động tới hiện
thực theo những hướng khác nhau. Tư tưởng phản động, phản ánh xuyên tạc
hiện thực sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, còn tư tưởng tiên tiến, phản
ánh đúng đắn hiện thực và thể hiện lợi ích của các giai cấp cách mạng thì thúc
đẩy sự phát triển của xã hội theo hướng tiến bộ [64].
1.1.1.4. Chính trị - tư tưởng
Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị, chuyên ngành công tác tư
tưởng, thuật ngữ "chính trị - tư tưởng" được ghép từ hai khái niệm chính trị và
tư tưởng. Như vậy, khái niệm chính trị - tư tưởng có một phần nội hàm trùng
nhau là tư tưởng chính trị. Trên thực tế, không có hoạt động giáo dục chính trị
nào lại không có nội dung hoạt động giáo dục về hệ tư tưởng và cũng không
có hoạt động giáo dục tư tưởng của tổ chức chính trị - xã hội nào lại bỏ qua
nội dung tư tưởng chính trị của giai cấp chủ thể giáo dục. Mặt khác, tư tưởng
có nhiều cấp độ, nhiều lĩnh vực khác nhau, ở đây chỉ bàn đến khía cạnh chính
trị của công tác giáo dục tư tưởng. Do đó, chính trị - tư tưởng trở thành một tổ
hợp mang nghĩa mới, có giá trị như một tính từ dùng để chỉ một nội dung giáo
dục cơ bản, quan trọng nhất của công tác tư tưởng là chính trị [41, tr.36].
1.1.1.5. Giáo dục chính trị - tư tưởng
thành ý thức chính trị công dân thúc đẩy họ hành động chính trị tích cực phù
hợp với mục tiêu, lý tưởng chính trị của xã hội” [25, tr.171].
Nội dung chủ yếu của giáo dục chính trị - tư tưởng ngoài nội dung cốt
lõi là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng thì nội dung giáo dục chính trị - tư tưởng còn bao gồm:
những giá trị chính trị được đúc kết trong lịch sử; lý tưởng chính trị của giai
cấp công nhân và của dân tộc, niềm tin vào sự nghiệp cách mạng do Đảng
lãnh đạo; bản lĩnh, sự nhạy bén chính trị; âm mưu thủ đoạn của các thế lực
thù địch; tính tích cực chính trị - xã hội; đấu tranh khắc phục sự mơ hồ về
17
chính trị, chống sự thụ động và thói thờ ơ chính trị; kinh tế - xã hội trong
nước và quốc tế.
Từ những trình bày và phân tích ở trên, chúng ta có thể tiếp cận giáo
dục chính trị - tư tưởng là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng trong quần
chúng, định hướng giá trị chính trị, lý tưởng chính trị, cung cấp thông tin
chính trị thời sự nhằm nâng cao nhận thức chính trị, hình thành niềm tin
chính trị và thúc đẩy quần chúng tích cực, tự giác, sáng tạo tham gia quá
tình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Nói cách khác, giáo dục chính
trị - tư tưởng là hoạt động truyền bá các tri thức lý luận chính trị cơ bản,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng với mục đích
cao nhất là làm cho hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong toàn bộ đời
sống tinh thần của xã hội.
Trong các đối tượng của giáo dục chính trị - tư tưởng, đảng viên là đối
tượng chủ yếu và quan trọng, là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị,
những người trực tiếp xây dựng, hoàn thiện và hiện thực hóa chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng.
Theo Điều 1, Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Đại hội đại
(Cyber Newspaper), báo (Internet Newspaper), báo trực tuyến, báo online…
Báo trực tuyến là khái niệm được sử dụng đầu tiên tại Mỹ và đã trở
thành cách gọi quốc tế. Thuật ngữ “trực tuyến” (online) trong các từ điển tin
học được dùng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng
máy tính và sẵn sàng hoạt động. Hiện nay, thuật ngữ này đang được sử dụng
rộng rãi trong lĩnh vực truyền thông nhằm chỉ các khái niệm có cùng đặc tính
như: ‘xuất bản trực tuyến” (online publishing); “phương tiện truyền thông
trực tuyến” (online media); “nhà báo trực tuyến” (online journalist); “truyền
hình trực tuyến” (online television)…. Tuy nhiên, cách gọi này gắn với tin
học nhiều hơn và chưa được Việt hóa.