ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ UEL NĂM 2016
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế học phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 05 / Năm 2016
TÓM TẮT
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, bao gồm cả Việt
Nam. Điều này còn trở nên quan trọng hơn khi quy mô kinh tế Việt Nam còn nhỏ, hiệu
quả tăng trưởng chưa cao so với nhiều nước khác và đang trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế sâu rộng hơn bao giờ hết. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định các
yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng như mức độ ảnh hưởng của
chúng. Chúng tôi sử dụng phương pháp mô hình kinh tế lượng, hồi quy tuyến tính. Bài
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: có 4 yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là lao động,
năng suất các yếu tố tổng hợp, vốn và tài nguyên thiên nhiên. Kết quả có được từ
nghiên cứu đưa ra các kiến nghị và giải pháp để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Việt Nam trong thời kì hội nhập: nâng cao năng suất lao động, tập trung phát triển
khoa học công nghệ, thu hút và sử dụng hiệu quả đồng vốn và cuối cùng là: sử dụng
tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Hình 5.4: Đồ thị chuỗi thời gian của tài nguyên thiên nhiên
Hình 5.5: Đồ thị chuỗi thời gian của TFP
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XHCN : xã hội chủ nghĩa
KHCN : khoa học công nghệ
TFP: Năng suất yếu tố tổng hợp
TNTN/NR: Tài nguyên thiên nhiên
GS: Giáo sư
VN: Việt Nam
ĐNA: Đông Nam Á
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
APO: tổ chức năng suất Châu A
L: lao động
K: vốn
GDP: tổng sản phẩm quốc dân
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Bối cảnh và tính cần thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao là mục tiêu của hầu hết các quốc gia, nhất là đối
với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Nhờ vào những cải cách kinh tế
toàn diện, sự chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường và
thực hiện chính sách mở cửa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong
kinh tế phát triển. Hai thập kỷ qua, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã thể
hiện đúng quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đạt được những tiến bộ ấn tượng về tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó
cũng còn rất nhiều hạn chế cần được khắc phục. Nếu như trước khi gia nhập WTO,
- Nghiên cứu, mức độ tác động của 4 nhân tố vốn, lao động, tài nguyên thiên
nhiên, tổng năng suất nhân tố đến mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
- Xác định kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng theo chiều ngang hay chiều sâu, so
sánh với các thời kì trước đó.
- Đưa ra những khuyến nghị phù hợp, mang tính khả thi cao phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế Việt Nam hiện tại và trong tương lai khi mà tiến trình hội
nhập kinh tế toàn cầu diễn ra mạnh mẽ.
1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu sơ bộ, nguồn dữ liệu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
Nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển là rất rộng và phức tạp, do vậy đề tài chỉ tập
trung vào nghiên cứu các nguồn lực kinh tế chủ yếu: vốn , lao động, năng suất các yếu
tố tổng hợp, tài nguyên thiên nhiên.
Thời gian nghiên cứu: chủ yếu từ năm 1990 - 2013.
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu sơ bộ
Phương pháp định tính: phân tích mô tả, so sánh và đưa ra các nhận định sơ bộ.
Phương pháp định lượng: dùng kinh tế lượng chạy mô hình hồi quy tuyến tính đánh
giá về tác động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
1.3.3 Nguồn dữ liệu
Dữ liệu từ bài nghiên cứu được lấy từ cơ sở dữ liệu Thompson Reuters, Trung tâm
nghiên cứu kinh tế tài chính, Trường Đại học Kinh tế Luật.
8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
lại
Tổng sản phẩm trong nước chủ yếu phản ánh khả năng sản xuất của một nền kinh tế.
2.1.2.2
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ta bởi
công dân trong một nước trong năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện trong
hay ngoài nước. Là thước đo sản lượng gia tăng mà người dân của một nước thực sự
thu nhập được.
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ nước ngoài
2.1.2.3
Thu nhập bình quân đầu người
9
Thu nhập bình quân đầu người là thương số giữa toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối
cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra trong năm với tổng số dân.
Thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ thuận với quy mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế tự nhiên hằng năm. Vì vậy,
mặc dù thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng và phát triển, nó vẫn
chưa nói lên bản chất mà tăng trưởng kinh tế mang lại.
2.1.2.4
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Lao động là một nguồn lực lượng sản xuất chính, là yếu tố khác tạo đầu ra cho nền
kinh tế, vì lao động cần thiết để làm việc với nguồn vốn đã có sẵn và không thể thiếu
được trong các hoạt đông kinh tế và lao động còn là một bộ phận của dân số, là người
được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển. Mọi quốc gia điều nhấn mạnh đến mục
tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Vì vậy, lao động
10
có vai trò là động lực của sự phát triển, là động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh
tế. Vốn và lao động sẽ làm việc với nhau để tạo ra một mức GDP bình quân đầu
người, được gọi là trạng thái ổn định.
2.1.3.3
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố của tự nhiên mà con người có thể khai thác,
chế biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất .
* Theo công dụng bao gồm: các nguồn năng lượng, khoáng sản, rừng, đất đai, nguồn
nước, biển và thủy sản, khí hậu.
* Theo khả năng tái sinh, bao gồm: tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua hoạt
động của con người (nguồn tài nguyên rừng và các loại động thực vật), tài nguyên có
khả năng tái sinh vô tận trong thiên nhiên (nguồn năng lượng mặt trời, thuỷ triều, sức
gió, thuỷ năng sông ngòi và các nguồn nước, không khí) và tài nguyên không có khả
năng tái sinh bao gồm những tài nguyên có qui mô không đổi như đất đai và những tài
nguyên khi sử dụng hết dần như các loại khoáng sản, dầu khí.
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển thường quan tâm đến
Trong đó, khoa học – công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế
tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là các quốc gia phát triển. Việc sử dụng những tiến
bộ công nghệ làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, tăng giá trị sản
phẩm, rút ngắn thời gian tạo sản phẩm, nâng cao chất lượng và tạo giá trị gia tăng cao
hơn.
2.1.3.5
Thể chế
Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương
tác giữa người với người. Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận có tác động
đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý
và môi trường đầu tư. Đây cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Nó thể hiện như một lực lượng đại diện ý chí của một cộng đồng,
nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội theo lợi ích của cộng đồng
đặt ra. Thể chế được thông qua các mục tiêu phát triển dự kiến, các nguyên tắc quản lí
kinh tế - xã hội, các luật pháp, các chế độ, chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức
thực hiện.
Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ
cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng
trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra
những cản trở, mất ổn định thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ kinh tế cơ bản
làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra
xung đột chính trị, xã hội.
Thể chế tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi
để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chế các mặt bất lợi.
12
tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của các nước phát triển có như nhau không.
Ông dùng mô hình hồi quy OLS (bình phương nhỏ nhất) để chạy số liệu thu thập được
từ 76 nước đang phát triển trong 4 năm 1995, 2000, 2005 và 2010
growth= f( initialgdp,export,debt, resource,aid, life, invest, fdi)
Kết quả cho thấy sản lượng xuất khẩu và tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng tích cực
lên tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tuổi thọ cao hơn và tỷ lệ đầu tư cao cũng tác
động tốt lên kinh tế của các nước đang phát triển.
Kei Stuart (2006) "Vietnam as an Emerging Economy"
13
Cho rằng nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tích đầy ngoạn mục là do những
thay đổi của Chính phủ trong chính sách vĩ mô. Tác giả cho rằng nguyên nhân bên trong
của sự tăng trưởng này là do sự thay đổi trong quá trình ra quyết định "new blood". Kei
Stuart cho rằng chính sự điều chỉnh cần thiết về hành chính, kinh tế, đối ngoại và việc áp
dụng các công cụ của nền kinh tế thị trường đã giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng
cao và cũng chắc trong khi vẫn duy trì mối quan hệ tốt với các nước trong khu vực và láng
giềng.
• James Riedel (2005) và một số tác giả khác : Finfact Team
Các tác giả đã đề cập đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên nhiều góc độ tiếp cận khác
nhau. Tuy nhiên, các tác giả đều đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam
trong việc duy trì một nền kinh tế ổn định, một môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi cho
các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam.
2.2.2 Trong nước
Hiện tay tại Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động tới tăng trưởng
kinh tế qua các thời kì. Điển hình như bài nghiên cứu của:
• Lê Xuân Bá (2006) sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho nền kinh tế Việt
TFP. Khi so sánh kết quả nghiên cứu của hai tác giả Trần Thọ Đạt và Nguyễn
Xuân Thành ta thấy có sự khác nhau khá lớn về đóng góp của TFP vào tăng
trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn 1986 - 2000. Cụ thể là đóng góp của
TFP vào tăng trưởng GDP trong nghiên cứu của Trần Thọ Đạt luôn cao hơn
cách tính toán của Nguyễn Xuân Thành. Lý do có thể hiểu là do cách lựa chọn
các chỉ tiêu đo lường cho K trong hàm sản xuất Cobb-Douglas là khác nhau.
Nếu như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành sử dụng trữ lượng vốn để đại
diện cho yếu tố K với tỷ lệ khấu hao là 3% thì Trần Thọ Đạt sử dụng chỉ tiêu tài
sản tích lũy với tỷ lệ khấu hao là 5%. Điều này dẫn đến tốc độ tăng trưởng cũng
như đóng góp của vốn vào tăng trưởng GDP là khác nhau ở hai nghiên cứu.
Một yếu tố nữa là nghiên cứu của Trần Thọ Đạt đã loại trừ yếu tố chu kỳ kinh
doanh khi tính toán tăng trưởng bằng cách ước lượng GDP tiềm năng của nền
kinh tế.
2.2.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu
Có thể nói, các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau
đến thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và sự đóng góp của nguồn lực đối với
tăng trưởng kinh tế cũng như có rất nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế ở các
quôc gia khác nhau. Nhiều nhà khoa học cũng chỉ ra những nhân tố tích cực góp phần
tạo ra động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua. Nhưng đa số
các tác giả đã tiếp cận định tính hoặc định lượng hoặc tiếp cận dưới dạng chính sách,
có nghĩa là xem xét từng nguồn lực một cách riêng lẻ, mà chưa đánh giá một cách tổng
hợp thực trạng thu hút, khai thác và sử dụng nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Bên
cạnh đó, những số liệu được sử dụng đã không còn tính cập nhật so với hiện tại đặc
biệt chỉ trong một năm đã có rất nhiều sự kiện kinh tế diễn ra. Ngoài ra, các tác giả
chưa đưa biến tài nguyên thiên nhiên vào mô hình, đối với một nước đang phát triển
và có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên như Việt Nam thì tài nguyên thiên nhiên
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Vì vậy chúng tôi sẽ thêm
biến tài nguyên thiên nhiên vào để xem sự tác động của như thế nào đến tăng trưởng
kinh tế hiện nay. Mặt khác các mô hình trước đây tính ra được TFP bằng cách chạy
mô hình hồi quy giữa GDP với Vốn và Lao động từ đó suy ra được phần trăm ảnh
Chỉ tiêu
Thời kỳ tăng Thời kỳ tăng Thời kỳ suy
Thời kỳ bình ổn
trưởng phục trưởng hướng giảm
tăng
kinh tế
hồi
về xuất khẩu
trưởng
Tốc độ tăng Giảm mạnh, dao
trưởng kinh động trong khoảng
tế
2,8%-5,8%
Tương quan
giữa cầu nội
địa và cầu
nước ngoài*
Chủ yếu nội địa, tỷ
lệ xuất khẩu/GDP
chỉ đạt 26,3%
(năm 1991)
Thấp do sức ì của
Hiệu quả nền hệ thống kế hoạch
Vai trò của
cầu nước
ngoài không
giảm, tỷ lệ
XK /GDP
tăng cao hơn
80% (từ
2011)
Tăng nhờ hiệu
ứng cải cách
kinh tế
Hiệu quả giảm
dần
Hiệu quả
chưa được cải
thiện
Tích lũy và đầu
tư tăng, đầu tư
tăng tới 46,5%
GDP (năm
2007)
Tích lũy và
đầu tư đều
giảm, tỷ lệ
theo
chiếm 40,5% GDP
ngành
(năm 1991)
Sự thay đổi
cơ cấu sản
xuất
theo
hình thức sở
hữu
Lạm phát
Khu vực kinh tế
nhà nước chiếm tỷ
trọng lớn nhất mặc
dù
giảm
từ
40(1986)xuống
31% GDP (1991)
Tăng cao, chỉ số
CPI trong khoảng
66,1%–875,6% (so
với tháng 12 năm
trước)
Thay đổi theo
hướng
dựng và dịch vụ
là 39% và 42%
(năm 2007)
Quá trình thay
đổi chậm lại,
khu vực kinh tế
tư nhân và nước
ngoài chỉ tăng
tới 64% GDP
Tăng dần từ
Giảm mạnh, chỉ
mức giảm -0,6
số CPI trong
(năm 2000) cho
khoảng 3,6%đến 12,6% (năm
17,6%
2007)
19
như
thay
Tỷ trọng khu
vực kinh tế tư
nhân và nước
ngoài
tăng
nhẹ
20
lên là 17 tỷ đồng/dự án. Tình trạng đầu tư phong trào, rập khuôn của nhiều ngành, địa
phương vẫn diễn ra phổ biến và không thực sự chú trọng tới hiệu quả lợi thế so sánh
của địa phương.
Hiệu quả đầu tư vẫn còn thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR vẫn tiếp tục tăng và ở mức
cao. Hệ số ICOR trong đầu tư của Việt Nam có xu hướng tăng dần theo thời gian. Kết
quả hệ số ICOR cho thấy, trong giai đoạn 2001-2005, để tạo ra 1 đồng GDP Việt Nam
phải đầu tư 4,88 đồng giá trị tích lũy tài sản; từ 2006 - 2010 cần 6,3 đồng. Sang giai
đoạn 2011-2014, hệ số ICOR tiếp tục tăng với 6,2 đồng giá trị tích lũy tài sản tạo ra 1
đồng GDP. Sau 20 năm hệ số này tăng gần 2 lần chứng tỏ hiệu quả đầu tư ngày càng
sụt giảm. Đặc biệt, ICOR trong giai đoạn 2005 -2012 trung bình là 8.58. (Nguồn: Tạp
chí kinh tế_tính theo số liệu của Cục Thống kê)
Hình 3.3: ICOR của một số nước trong khu vực
Nguồn 3: Chuyên đề “Đánh giá phát triển kinh tế xã hội VN so với các nước trong
khu vực”
So sánh với các nước trong khu vực ICOR của Việt Nam cao hơn rất nhiều lần.Thực
trạng trên cũng là dấu hiệu cảnh báo hiệu quả đầu tư tại Việt Nam sụt giảm nghiêm
trọng.
3.2.2 Thực trạng lực lượng lao động
Về số lượng: Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, nước ta có trên 52.2 triệu người trong độ tuổi
lao động (chiếm 57,3% dân số), đứng thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonesia và
Philippines). Số người trong độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người, chiếm 35%
tổng dân số và chiếm 61% lực lượng lao động, đây là lực lượng có thể tham gia xuất
khẩu lao động. Sức trẻ là đặc điểm nổi trội, là tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam, là
yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài.
và tốc đọ tăng của TFP được đánh giá là thấp nhất khu vực. Như vậy có thể khẳng
định rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nghiêng nhiều về số lượng hơn là chất
lượng, nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu.
3.2.4 Thực trạng tài nguyên thiên nhiên
22
Ðất đai đang bị đá ong hóa tại nhiều nơi, 15% diện tích miền Ðông Nam Bộ và Tây
Nguyên đã biến thành "vùng đất chết".
Rừng vốn che phủ trên 45% diện tích đất, nay đã sa sút chỉ còn 23%. Rừng ngập mặn
nay chỉ còn 70% diện tích ngày trước.
Trong thành phố, ô nhiễm SO2 trong không khí lên tới 2 – 10 lần, bụi bặm lên tới 20 –
60 lần mức độ cho phép. Giếng UNICEF phải đào sâu đến 70 mét cũng chỉ 15% là có
nước dùng được. Rồi có khi chỉ 6 tháng sau cũng bị phèn hóa.Hàm lượng ô nhiễm
trong nước ở miền Nam, nơi xem là vựa lúa của cả nước, lên gấp 2-10 lần, có khi 50
lần.Thành phố HCM có 550.000 m3/ngày nước thải từ gia cư và 650.000-1.000.000
m3/ngày nước thải từ công nghệ.
Thủy điện tuy không nhả khói tỏa nhiệt ra trời, không có các ống khói cao vút như
nhiệt điện, nhưng không nhất thiết là nguồn điện năng có hiệu suất cao, giá thành rẻ và
trong lành nhất cho loài người. Dù thế, hơn một tá dự án thủy điện đã được đề bạt ra
tại Việt Nam. Dự án Mới và gây nhiều tranh luận nhất ở Sơn La, còn gọi là đập Ta Bu,
với ước tính phí tổn 3,5 tỉ USD, cho công suất 3.600 MW và 17 tỉ kw giờ năng lượng.
Hồ chứa nước cho đập Sơn La sẽ làm ngập hầu hết các cánh đồng lúa trên Lai châu và
Sơn La và phải tản cư ít nhất 70.000 người sắc tộc, tác động đến sinh kế của 110.000
người ở thượng nguồn.
3.2.5 Thực trạng thể chế
Những hạn chế, yếu kém còn tồn đọng trong quá trình cải cách thể chế ở nước ta:
Thể chế còn phân tán, thiếu tập trung, như việc chia tách đơn vị hành chính (năm 1986
nước ta có 40 tỉnh, 522 huyện, 9.901 xã thì đến hết năm 2013, cả nước có 63 tỉnh,
24
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Mô hình đề xuất
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã được nêu trên thì có 5 nhân tố chính tác động đến tăng
trưởng kinh tế là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, năng suất tổng hợp (TFP), và
thể chế. Tuy nhiên, thể chế là yếu tố vô hình chưa thể đo lường được và hiện tại cũng
chưa ai tìm ra cách đo lường nên chúng tôi đề xuất mô hình các yếu tố tác động đến
tăng trưởng kinh tế như sau:
Log(GDP)= β0 + β1*log(K) + β2log(L) + β3*log(NR)+ β4*log(TFP) + Ui
Với :
o GDP: tổng sản phẩm quốc nội
o β0 : Hằng số
o K: Nhân tố vốn
o L: Nhân tố lao động
o NR: Tài nguyên thiên nhiên
o TFP: Nhân tố năng suất tổng hợp TFP
o Ui :là sai số ngẫu nhiên, thể hiện tác động của các yếu tố khác.
4.2 Các giả định và phương pháp phân tích dữ liệu:
4.2.1 Các giả định
Mô hình phân tích tăng trưởng được trình bày ở trên yêu cầu dữ liệu về GDP, Vốn
(K) , lao động (L), tài nguyên thiên nhiên (NR)và yếu tố năng suất tổng hợp (TFP). Dữ
liệu từThompson Reuter sẽ được sử dụng cho phân tích tăng trưởng kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn 1990 - 2013.
4.2.1.1