BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ LAN ANH
MÃ SINH VIÊN: 1101016
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM
KÊ ĐƠN VÀ NHẬN THỨC
VỀ SỬ DỤNG THUỐC NGOẠI TRÚ
TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI - 2016
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ LAN ANH
MÃ SINH VIÊN: 1101016
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM KÊ ĐƠN
VÀ NHẬN THỨC VỀ SỬ DỤNG THUỐC
NGOẠI TRÚ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Lê Thị Lan Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………………….. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................3
1.1. Tổng quan về sử dụng thuốc ở PNCT ............................................................3
1.1.1. Đặc điểm dược động học của thuốc ở PNCT .............................................3
1.1.2. Ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi ........................................................4
1.1.3. Các nhóm thuốc thường dùng trong thai kì ................................................7
1.2. Tổng quan về phân loại thuốc theo mức độ an toàn trên PNCT ..................9
1.2.1. Các hệ thống phân loại thuốc theo mức độ an toàn trên PNCT .................9
1.2.2. Một số nghiên cứu về phân loại thuốc theo mức độ an toàn trên PNCT .11
1.3. Tổng quan về nhận thức của PNCT đối với việc dùng thuốc .....................12
1.3.1. Nhận thức chung của PNCT về mức độ nguy cơ của việc sử dụng thuốc
trong thai kì ........................................................................................................12
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc sử dụng thuốc của PNCT .12
1.3.3. Nhận thức của PNCT đối với một số loại thuốc thường dùng khi mang
thai ......................................................................................................................14
1.4. Tổng quan về các vấn đề trong kê đơn thuốc ngoại trú ...............................16
1.4.1. Tổng quan về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú .................................16
1.4.2. Tổng quan về tương tác thuốc trong đơn ngoại trú ..................................17
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................21
4.1.3. Bàn luận về đặc điểm phân loại mức độ an toàn đối với thai nhi của thuốc
trong đơn.............................................................................................................46
4.2. Bàn luận về đặc điểm nhận thức về sử dụng thuốc ngoại trú của PNCT
đến khám chữa bệnh tại BVPSTW. .....................................................................49
4.2.1. Bàn luận về đặc điểm của mẫu nghiên cứu ..............................................49
4.2.2. Bàn luận về tiền sử dùng thuốc trong thai kì............................................50
4.2.3. Bàn luận về việc khai thác tiền sử và tư vấn sử dụng thuốc của bác sĩ cho
BN trong lần khám hiện tại ................................................................................52
4.2.4. Bàn luận về nhận thức của BN đối với việc dùng các sản phẩm trong đơn
hiện tại ................................................................................................................53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ....................................................................................56
Kết luận .................................................................................................................56
Kết luận về đặc điểm kê đơn ngoại trú cho PNCT đến khám chữa bệnh tại
BVPSTW. ...........................................................................................................56
Kết luận về đặc điểm nhận thức về sử dụng thuốc ngoại trú của PNCT đến
khám chữa bệnh tại BVPSTW ...........................................................................56
Đề xuất ..................................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1. Phiếu thu thập thông tin trong đơn ngoại trú
Phụ lục 2. Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân
Phụ lục 3. Định nghĩa các mức nguy cơ trong ba hệ thống phân loại mức độ an toàn
của thuốc đối với PNCT
Phụ lục 4. So sánh sự khác nhau về phân loại mức độ an toàn của một số thuốc đối
với PNCT của ba hệ thống phân loại
Phụ lục 5. Mức độ tương tác của một số CSDL tra cứu tương tác thuốc
Phụ lục 6. Mức độ, hậu quả và xử trí của 14 cặp tương tác thuốc trong đơn ngoại
trú
Phụ lục 7. Danh sách mã BN ngoại trú khảo sát
Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1. Một số CSDL trực tuyến thường dùng tra cứu tương tác thuốc ...............20
Bảng 3.1. Đặc điểm của BN hồi cứu .........................................................................28
Bảng 3.2. Đặc điểm của đơn thuốc ...........................................................................29
Bảng 3.3. Đặc điểm về tương tác thuốc tra cứu trên drugs.com ...............................30
Bảng 3.4. Số cặp tương tác thuốc được ghi nhận trong các sách Stockley...............31
Bảng 3.5. Đặc điểm của các cặp tương tác thuốc được ghi nhận trong sách
Stockley’s Drug Interactions 2010 ............................................................................32
Bảng 3.6. Kết quả phân loại thuốc theo mức độ an toàn trong thai kì ......................33
Bảng 3.7. Các thuốc thuộc nhóm phân loại D và X ..................................................33
Bảng 3.8. Đặc điểm của BN tham gia phỏng vấn .....................................................34
Bảng 3.9. Đặc điểm về tiền sử dùng thuốc trong thai kì ...........................................35
Bảng 3.10. Đặc điểm về khai thác tiền sử và tư vấn sử dụng thuốc của bác sĩ ........36
Bảng 3.11. Nhận thức của BN đối với việc dùng các sản phẩm trong đơn ..............37
Bảng 3.12. Phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhận thức đúng của
BN về vai trò của các sản phẩm trong đơn ...............................................................38
Bảng 3.13. Phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhận thức đúng của
BN về liều dùng của các sản phẩm trong đơn ...........................................................39
Bảng 3.14. Phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhận thức đúng của
BN về cách dùng của các sản phẩm trong đơn .........................................................39
Bảng 3.15. Phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhận thức đúng của
BN về mức độ an toàn đối với thai kì của các thuốc trong đơn ................................40
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
dùng thuốc trong thai kì có nhiều điểm đáng lưu tâm: 30,5% phụ nữ nghĩ rằng việc
sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược trong thai kì thì không cần thiết
phải hỏi ý kiến của bác sĩ [51] và 4,39% PNCT cho rằng tất cả các loại thuốc dùng
trong thai kì đều là an toàn cho cả mẹ và thai nhi [42].
Hiện tại ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào về tình hình sử
dụng thuốc trên PNCT cũng như nhận thức của họ về các thuốc được kê đơn hoặc
tự dùng trong thai kì. Điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu thông tin và thiếu
2
định hướng trong việc tư vấn sử dụng thuốc cho đối tượng này. Đây cũng là vấn đề
mà khoa Dược Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương (BVPSTW) quan tâm và muốn
khảo sát nhằm cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho PNCT ngoại trú khám
chữa bệnh tại Bệnh viện.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát đặc
điểm kê đơn và nhận thức về sử dụng thuốc ngoại trú trên phụ nữ có thai tại
Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương” với hai mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu 1: Khảo sát đặc điểm kê đơn ngoại trú cho phụ nữ có thai đến khám
chữa bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.
Mục tiêu 2: Khảo sát đặc điểm nhận thức về sử dụng thuốc ngoại trú của phụ
nữ có thai đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về sử dụng thuốc ở PNCT
1.1.1. Đặc điểm dược động học của thuốc ở PNCT
Đặc điểm dược động học của thuốc ở PNCT có nhiều thay đổi so với các đối
Lượng mỡ tăng khoảng 3 – 4 kg trong khi mang thai nên thể tích phân bố của
thuốc tan trong lipid có thể tăng lên như một số nhóm thuốc ngủ, thuốc gây mê gây
ra tình trạng ngủ li bì sau gây mê hoặc sau khi dùng thuốc an thần gây ngủ ở mẹ [3].
1.1.1.3. Chuyển hóa thuốc
Sự chuyển hóa thuốc phụ thuộc vào lưu lượng máu qua gan, hoạt động của
hệ thống enzym chuyển hóa thuốc và ảnh hưởng của nội tiết tố [31], tuy nhiên lưu
lượng máu qua gan dường như không thay đổi trong quá trình mang thai [53].
Sự thay đổi của hormon sinh dục đặc trưng trong thời kì mang thai và
hormon từ rau thai ảnh hưởng đến hoạt động của enzym chuyển hóa thuốc ở gan
[31]. Hoạt động chuyển hóa của isoenzym cytochrom P450 CYP3A4, CYP2D6,
CYP2A6, CYP2C9 và isoenzym uridin 5'-diphosphat glucuronosyltransferase
(UGT) (UGT1A1, UGT1A4 và UGT2B7) tăng lên trong quá trình mang thai. Thuốc
được chuyển hóa bởi những isoenzym này đòi hỏi phải hiệu chỉnh liều để đạt hiệu
quả điều trị mong muốn. Ngược lại, hoạt động chuyển hóa của CYP1A2, CYP2C19
[67], xanthin oxidase và N –acetyltransferase [19] giảm trong khi mang thai, các
thuốc chuyển hóa bởi những isoenzyme này có thể cần giảm liều để giảm thiểu độc
tính [67]. Chưa có thông tin về quá trình sulfat hóa của thuốc trong thai kì [31].
1.1.1.4. Thải trừ thuốc
Trong vài tuần đầu của thai kì, tốc độ lọc cầu thận tăng khoảng 50% và tiếp
tục tăng cho tới sau khi sinh, vì vậy độ thanh thải của các thuốc thải trừ chủ yếu qua
thận ở dạng không biến đổi tăng, ví dụ: lithi, digoxin, penicilin, làm giảm nồng độ
thuốc ổn định trong máu [3], [67].
1.1.2. Ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi
Các thuốc dùng cho người mẹ khi mang thai có thể ảnh hưởng trực tiếp lên
thai nhi do thuốc có thể qua rau thai và vào vòng tuần hoàn của thai, hoặc có thể
ảnh hưởng gián tiếp lên thai nhi thông qua ảnh hưởng lên tuần hoàn của người mẹ
[3], [67]. Những ảnh hưởng này có thể có lợi hoặc có hại đối với thai. Ví dụ
5
6
Chênh lệch nồng độ thuốc giữa máu mẹ và thai: mức độ và tốc độ qua rau thai
của thuốc tỉ lệ thuận với chênh lệch nồng độ giữa máu mẹ và thai [3].
Đặc điểm di truyền của thai nhi:
Đặc tính gây quái thai của thuốc có thể phụ thuộc loài. Nghiên cứu trên
chuột cho thấy thalidomid không gây dị tật bẩm sinh cho thai [48], do đó dị tật bẩm
sinh hoặc các kết quả bất lợi khác trên sinh sản quan sát được trên động vật thực
nghiệm không đơn giản để ngoại suy trên người. Liều và đường dùng trong nghiên
cứu tiền lâm sàng cũng có thể khác khi sử dụng trên lâm sàng cho người [67].
Khả năng gây quái thai của thuốc còn ảnh hưởng bởi kiểu gen và tương tác
môi trường. Không phải tất cả bào thai tiếp xúc với thuốc có bản chất gây dị tật đều
bị dị tật. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm sự khác biệt di truyền của người mẹ, kiểu
gen bào thai và sự thay đổi của các yếu tố môi trường [67]. Dị tật chỉ xảy ra ở 20 50% trẻ được sinh ra từ các bà mẹ sử dụng thalidomid ở thời kì nhạy cảm nhất
(ngày 20-36 sau thụ thai) [50].
Giai đoạn phát triển của thai nhi khi người mẹ dùng thuốc:
Các chất có khả năng gây quái thai ít khi gây ra một dị tật duy nhất mà
thường gây ra một loạt các dị tật tương ứng với những bộ phận cơ thể thai nhi đang
phát triển mạnh vào thời điểm người mẹ dùng thuốc [3].
Giai đoạn tiền phôi: kéo dài 17 ngày sau khi trứng được thụ tinh. Độc tính của
thuốc đối với thai nhi tuân theo quy luật ―tất cả hoặc không có gì‖, tức là phôi
bào chết hoặc tiếp tục phát triển hoàn toàn bình thường và không gây bất thường
hình thái ở thai, trừ trường hợp thời gian bán thải của thuốc kéo dài và thuốc tiếp
tục ảnh hưởng tới thời kì phôi [3], [67]. Ví dụ điển hình là isotretinoin và các
dẫn chất của vitamin A có thời gian bán thải có thể lên đến một tuần (167,4 giờ),
nếu dùng đường toàn thân như để điều trị mụn trứng cá, đã được ghi nhận là gây
ra quái thai khi dùng thuốc trong thời kì tiền phôi [52].
Giai đoạn phôi: kéo dài từ ngày 18 đến ngày 56 sau thụ thai, là thời kì hình
nhóm thuốc liên quan đến quá trình mang thai. Các nhóm thuốc điều trị bệnh mạn
tính bao gồm: thuốc điều trị đái tháo đường, corticoid tại chỗ, corticoid toàn thân,
liệu pháp điều trị rối loạn chức năng giáp trạng, thuốc điều trị chứng đau nửa đầu,
thuốc chống động kinh, thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm và thuốc điều
trị hen. Các nhóm thuốc dùng không thường xuyên hoặc dùng trong thời gian ngắn
8
bao gồm: thuốc chống co thắt và kháng cholinergic; thuốc chống tiêu chảy và chống
viêm, chống nhiễm trùng ruột; thuốc chống nấm da; thuốc làm mềm và bảo vệ da;
kháng sinh và hóa trị liệu sử dụng trong da liễu; chế phẩm điều trị mụn trứng cá;
kháng sinh toàn thân; thuốc giảm đau, hạ sốt; thuốc giải lo âu; thuốc ngủ và an thần;
chống kí sinh trùng và côn trùng; kháng histamin toàn thân; thuốc dùng cho tai, mắt,
mũi và họng. Các nhóm thuốc liên quan đến thai kì bao gồm: antacid, chống nôn,
nhuận tràng, các chế phẩm sắt, acid folic và dẫn chất, thuốc chống nhiễm khuẩn và
khử trùng phụ khoa, gonadotropin và các chất kích thích rụng trứng khác. Kết quả
cho thấy, nhóm thuốc điều trị bệnh mạn tính có xu hướng giảm trong khi mang thai
so với trước và sau khi mang thai (trừ thuốc điều trị đái tháo đường có xu hướng
tăng lên trong quá trình mang thai). Nhóm thuốc được sử dụng không thường xuyên
hoặc trong thời gian ngắn cũng có xu hướng giảm khi mang thai (trừ kháng sinh
toàn thân, giảm số đơn kê kháng sinh trong ba tháng đầu thai kì và tăng số đơn kê
kháng sinh trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kì). Ngược lại với hai nhóm
trên, nhóm thuốc có liên quan đến thai kì có xu hướng tăng trong quá trình mang
thai. Cụ thể acid folic và dẫn chất, thuốc chống nôn được kê nhiều nhất trong ba
tháng đầu thai kì; các chế phẩm sắt, antacid, kháng khuẩn phụ khoa được kê nhiều
trong ba tháng giữa và ba tháng cuối [15].
Một nghiên cứu khác của Engeland và cộng sự tiến hành tại Na Uy trong
khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2006 trên đơn thuốc của 106 329 trường
hợp mang thai, sử dụng hệ thống phân loại ATC (giải phẫu – điều trị - hóa học) để
1.2. Tổng quan về phân loại thuốc theo mức độ an toàn trên PNCT
1.2.1. Các hệ thống phân loại thuốc theo mức độ an toàn trên PNCT
Việc phân loại thuốc theo mức độ an toàn giúp cho việc lựa chọn thuốc cho
PNCT trên lâm sàng. Có nhiều cách phân loại thuốc dùng cho PNCT, với nguyên
tắc chung là dựa trên nguy cơ của thuốc đối với thai nhi khi sử dụng cho mẹ [3].
Ba hệ thống phân loại thường dùng là hệ thống phân loại của Mỹ [20], Thụy
Điển [18] và Úc [61]. Hệ thống phân loại của Thụy Điển (FASS) chia mức độ an
toàn của thuốc trên PNCT thành 4 mức: A, B, C, D; trong đó mức B được chia
thành 3 mức nhỏ là B1, B2, B3. Hệ thống phân loại của Mỹ (FDA) cũng phân thành
các mức A, B, C, D và có thêm một nhóm nữa là X, trong đó mức B không phân
thành các mức nhỏ hơn. Hệ thống phân loại của Úc (ADEC) được ngoại suy từ hai
10
hệ thống phân loại trên, sử dụng cả B1, B2, B3 và X [12]. Tuy nhiên, dù theo hệ
thống phân loại nào thì chúng ta đều nhận thấy: nhóm A là nhóm an toàn nhất và
nhóm X là nhóm nguy hiểm nhất được chống chỉ định tuyệt đối trong mọi trường
hợp mang thai. Các chế phẩm chứa từ hai hoạt chất trở lên được xếp loại theo hoạt
chất có nguy cơ cao hơn [3]. Định nghĩa các mức nguy cơ trong ba hệ thống phân
loại này được so sánh trong phụ lục 3. Các hệ thống phân loại khác nhau có thể
phân loại cùng một thuốc vào các mức nguy cơ khác nhau. Một số ví dụ minh họa
được trình bày tại phụ lục 4. Ưu điểm của các hệ thống phân loại này là có thể giúp
rà soát trên diện rộng với một số lượng thuốc rất lớn, tuy nhiên chỉ cho phép ước
lượng chung về mức độ an toàn của thuốc trong thời kì sinh sản và mang thai [56].
Ngoài ba hệ thống phân loại phổ biến trên còn có một số hệ thống phân loại
khác: TERIS (Teratogen Information System), EBM (Evidence – Based Medicine).
Theo hệ thống phân loại TERIS, các mức phân loại nguy cơ gây quái thai khi
PNCT phơi nhiễm với thuốc gồm: không có (none), rất nhỏ (minimal), nhỏ (small),
trung bình (moderate) hoặc cao (high). Khi không có hoặc hạn chế dữ liệu sẵn có
Trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển, có rất nhiều nghiên cứu về
thuốc sử dụng trên PNCT và phân loại thuốc theo mức độ an toàn cho thai nhi. Một
nghiên cứu thuần tập hồi cứu ở Canada từ năm 2001 – 2006 sử dụng cơ sở dữ liệu
(CSDL) chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã khảo sát tần số, thời gian và các loại
thuốc được dùng cho PNCT từ sáu tháng trước khi có thai đến sáu tháng sau sinh,
cho thấy 63,5% PNCT được kê ít nhất một đơn thuốc, trong đó ít nhất một đơn
thuốc chứa thuốc loại D hoặc X theo phân loại của FDA đã được kê cho 7,8% các
thai phụ này [25].
Các nghiên cứu khác nhau cho kết quả khác nhau do sự khác nhau về địa
điểm nghiên cứu, quần thể dân cư và hệ thống phân loại được sử dụng để đánh giá
mức độ an toàn của một thuốc đối với thai kì. Một tổng quan hệ thống về thuốc sử
dụng trên PNCT ở các quốc gia phát triển cho thấy có từ 27% đến 93% PNCT được
kê ít nhất một đơn thuốc không bao gồm vitamin và khoáng chất. Tỉ lệ PNCT sử
dụng thuốc được phân loại X theo phân loại của FDA dao động từ 0,9 – 4,6% và tỉ
lệ thai phụ sử dụng thuốc được phân loại D cũng dao động từ 2,0 – 59,3% [24].
12
Tỉ lệ PNCT sử dụng thuốc tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho bào thai thay đổi
theo độ tuổi của thai phụ và các giai đoạn mang thai. Phụ nữ dưới 20 tuổi và từ 40
tuổi trở lên có tỉ lệ sử dụng một đơn thuốc có thuốc được phân loại D và X theo hệ
thống phân loại của FDA cao hơn so với phụ nữ từ 20 tới dưới 40 tuổi (lần lượt là
10,3% và 9,8% so với 7,6%). Hầu hết các thuốc có phân loại X được sử dụng ở phụ
nữ mang thai ba tháng đầu (1,1%), ba tháng giữa và ba tháng cuối lần lượt là 0,05%
và 0,04%. Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ sử dụng thuốc có phân loại D lại tăng ở giai đoạn
ba tháng cuối thai kì [25].
1.3. Tổng quan về nhận thức của PNCT đối với việc dùng thuốc
1.3.1. Nhận thức chung của PNCT về mức độ nguy cơ của việc sử dụng thuốc
trong thai kì
hướng dẫn trên bao bì hoặc nhãn thuốc được viết bằng ngôn ngữ địa phương - ví dụ
đơn giản như acid folic, sắt, thuốc giảm đau - sẽ giúp ích cho họ rất nhiều. Thêm
vào đó, 4,3% PNCT ở đây gặp phải tác dụng không mong muốn (ADR) khi dùng
thuốc, cho thấy sự kém hiểu biết về ADR trong quần thể nghiên cứu này. Nhận thức
về sử dụng thuốc còn ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị. 71% PNCT trong nghiên cứu
này sử dụng tất cả các loại thuốc họ mua, song 29% trong số họ ngừng sử dụng
những thuốc được kê để điều trị bệnh ngay khi thấy triệu chứng bệnh giảm bớt [13].
Nguồn thông tin về mức độ an toàn của thuốc đối với thai kì là rất quan trọng
đối với nhận thức của PNCT trong việc sử dụng thuốc. Các thông tin này được lấy
nhiều nhất từ sách báo và tạp chí (57%), tiếp theo là từ bác sĩ (34%), từ bạn bè và
người thân (23%), từ nữ hộ sinh (17%), từ tivi và radio (4%) và 3% không biết đến
các thông tin này [21]. Một nghiên cứu ở Iran lại cho thấy hầu hết thông tin về mức
độ an toàn của thuốc với thai kì được cung cấp từ các bác sĩ (59,5%) và trung tâm
chăm sóc sức khỏe (18,0%), trong đó phần lớn các trường hợp xảy ra vấn đề liên
quan đến thuốc được báo cáo cho các bác sĩ (80%), chỉ có 9,5% nguồn thông tin
đến từ tivi, radio, sách, báo và tạp chí. 6% trong số những PNCT trong nghiên cứu
không tham khảo nguồn thông tin nào, vai trò của dược sĩ chỉ chiếm 4,8%, của nữ
hộ sinh là 1,3% và nguồn tham khảo từ các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè
cũng chỉ chiếm 1,0% [45]. Như vậy, tại các khu vực địa lý khác nhau, với nền văn
14
hóa và tri thức khác nhau, nguồn thông tin được PNCT sử dụng để tham khảo về
mức độ an toàn của một thuốc khi dùng trong thai kì là khác nhau.
1.3.3. Nhận thức của PNCT đối với một số loại thuốc thường dùng khi mang thai
1.3.3.1. Đối với thuốc giảm đau và kháng sinh
70% PNCT sử dụng một chế phẩm chứa paracetamol cho các trường hợp
cảm lạnh, đau đầu, đau răng; chỉ 7% sử dụng một chế phẩm chứa aspirin; 6% sử
dụng một trong hai loại và 16% không dùng thuốc [21]. Đối với aspirin, 12,0%
36% phụ nữ đã sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thảo dược trong khi
mang thai, trung bình mỗi PNCT dùng 1,7 sản phẩm từ thảo dược. Lý do dùng các
sản phẩm này phổ biến nhất là do bệnh cảm lạnh và bệnh đường hô hấp (20,4%),
tiếp theo là bổ sung dinh dưỡng (14,2%), vấn đề về da (13,3%), các vấn đề liên
quan đến mang thai (12,8%), nhiễm trùng đường tiết niệu (8,4%) và các rối loạn hệ
thần kinh trung ương (6,6%) [51].
21,75% PNCT có kiến thức và hiểu biết về thảo dược ở mức cao, 78,25%
còn lại đang ở mức hiểu biết thấp đối với các kiến thức về thảo dược. Trong số
những phụ nữ có hiểu biết ở mức cao, có 52,9% đã sử dụng thảo dược khi mang
thai. 31,3% những phụ nữ có mức hiểu biết thấp đã dùng thảo dược trong quá trình
mang thai của họ. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [51].
62,3% phụ nữ đồng ý rằng thuốc có nguồn gốc từ thảo dược thường gây ra
tác dụng bất lợi ít hơn so với các thuốc khác, 57,0% phụ nữ cho rằng thảo dược có
thể được dùng khi mang thai và 40,8% phụ nữ tin rằng khi mang thai tốt nhất nên sử
dụng các thuốc có nguồn gốc thảo dược. 56,0% phụ nữ có thái độ tích cực đối với
việc sử dụng thảo dược trong thai kì, bất kể họ đã từng hoặc chưa từng dùng thảo
dược khi mang thai, 18,3% có thái độ tiêu cực và 25,8% là trung lập. Hơn ½ phụ nữ
đồng ý rằng chỉ nên dùng thảo dược trong quá trình mang thai khi đã có được sự
đồng ý của bác sĩ (56,5%), trong khi có 30,5% cho rằng điều này là không cần thiết
và 13,0% còn lại không biết là có cần thiết hay không [51].
1.3.3.4. Đối với một số loại thuốc khác
Hơn 50% phụ nữ mang thai trong nghiên cứu của Mashayekhi và cộng sự
không có thông tin về mức độ an toàn của các loại thuốc chống nôn đối với thai kì
như metoclopramid, cyclizin và dimenhydrinat [45].
16
Phần lớn PNCT tin vào tác dụng gây tổn hại tới thai nhi của các thuốc khác
nhau, bao gồm thuốc chống co giật (73,5%), thuốc điều trị hen (72,25%), các thuốc
thuốc cho kháng sinh, tỉ lệ phần trăm chi phí thuốc cho thuốc tiêm và tỉ lệ kê đơn
thuốc phù hợp với hướng dẫn điều trị [70].
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam nghiên cứu
về các vấn đề trên đơn ngoại trú. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các chỉ số
về kê đơn mà WHO đã đưa ra. Ví dụ như một nghiên cứu phân tích trên 3059 đơn
thuốc được lấy từ 30 trung tâm y tế của tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc, sử dụng bảy
chỉ số phân tích để mô tả thực trạng kê đơn ngoại trú, bao gồm: tỉ lệ 10 bệnh thường
gặp nhất, chi phí trung bình cho mỗi lần khám, số lượng thuốc mỗi lần khám, tỉ lệ
đơn kê kháng sinh, tỉ lệ đơn kê glucocorticoid, tỉ lệ đơn kê kết hợp glucocorticoid
và kháng sinh, và tỉ lệ đơn kê thuốc dùng đường tiêm [37]. Nghiên cứu của Thân
Thị Hải Hà thực hiện tại BVPSTW, khảo sát việc thực hiện quy chế chuyên môn
trong kê đơn ngoại trú trên 400 đơn thuốc trong khoảng thời gian tháng 2-3/2007 tại
Phòng khám 56 của Bệnh viện, sử dụng các chỉ số nghiên cứu bao gồm: số thuốc
trung bình trong một đơn, tỉ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc thiết yếu
và thuốc chủ yếu, tỉ lệ đơn thuốc kê quá số ngày quy định đối với thuốc độc A-B, tỉ
lệ đơn không đánh số các khoản và ghi rõ họ tên bác sĩ, tỉ lệ đơn không ghi hướng
dẫn sử dụng về liều một lần, liều một ngày, đường dùng và thời điểm dùng thuốc.
Từ kết quả thu được, nghiên cứu tiến hành xác định nguyên nhân và xây dựng biện
pháp can thiệp, so sánh kết quả trước can thiệp và sau can thiệp [7].
Nhiều nghiên cứu chỉ tập trung vào tương tác thuốc trong đơn ngoại trú trên
các đối tượng bệnh nhân (BN) khác nhau như nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc
(2015) trên BN nhi ngoại trú [10] hoặc nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền (2015) về
tương tác thuốc – thuốc và tương tác thuốc – thức ăn, đồ uống trên đơn ngoại trú
điều trị rối loạn tâm thần [8]. Chưa có nghiên cứu về tương tác thuốc trên PNCT.
1.4.2. Tổng quan về tương tác thuốc trong đơn ngoại trú
1.4.2.1. Khái niệm tương tác thuốc
Tương tác thuốc (drug interactions) là hiện tượng tác dụng của một thuốc bị
thay đổi khi dùng cùng thuốc khác, thuốc có nguồn gốc thảo dược, thực phẩm, đồ
uống hoặc các chất hóa học môi trường khác [16], [67].