Một số vấn đề của pháp luật về chào bán chứng khoán ở việt nam - Pdf 37

Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

1

Vũ Thanh Hương-

Lời Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của Đề tài.

Chứng khoán và thị trường chứng khoán là một bộ phận gắn liền với nền
kinh tế thị trường. Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào hoạt động từ
tháng 7 năm 2000 là sự kiện đánh dấu bước phát triển trong quá trình đổi mới
nền kinh tế và hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam. Tuy đã chính thức vận
hành được hơn 6 năm nhưng nhìn chung thị trường chứng khoán vẫn được xem
là lĩnh vực mới mẻ ở nước ta.
Trong thời gian qua, Nhà Nước đã tiến hành nhiều biện pháp tích cực
nhằm phát triển thị trường chứng khoán trong đó có việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật về chứng khoán, đặc biệt là xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chào
bán chứng khoán. Bộ phận pháp luật về chào bán chứng khoán được quy định ở
nhiều văn bản pháp luật khác nhau dẫn đến việc hiểu và vận dụng đúng đắn các
quy định này là rất phức tạp. Luật Chứng Khoán 2006 là văn bản có hiệu lực
pháp lý cao nhất về vấn đề này. Vì vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật
hiện hành về chào bán chứng khoán trong bối cảnh Việt Nam vừa trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO là một vấn đề cấp
thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Khoá luận với đề tài “ Một số vấn
đề của pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam” mong muốn xem
xét thực trạng pháp luật rồi đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.


Luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, phạm vi nghiên cứu.
Luận văn bao gồm các phần sau:
Lời nói đầu.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản của pháp luật về chào bán chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về
chào bán chứng khoán
Kết luận.


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

3

Vũ Thanh Hương-

Chương I
Những vấn đề cơ bản về pháp luật chào bán
chứng khoán
1.1. Khái niệm chứng khoán.

1.1.1. Định nghĩa chứng khoán.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với chức năng huy động và phân
bổ nguồn vốn trung và dài hạn, thị trường chứng khoán sẽ là công cụ quan trọng
giúp các doanh nghiệp thu hút và tạo lập vốn phát triển thông qua việc chào bán
chứng khoán và tham gia hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Theo quan điểm truyền thống, chứng khoán là phương tiện xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với vốn của tổ
chức phát hành. Như vậy nói đến chứng khoán là nói đến các quyền tài sản. Đó

Thứ hai, chứng khoán có tính thanh khoản cao. Đặc điểm này thể hiện ở
khả năng nhanh chóng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại.
Tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào từng loại chứng khoán, uy tín
của chủ thể phát hành và biến động của thị trường. So với các loại tài sản khác,
chứng khoán có tính thanh khoản rất cao. Đây cũng chính là lợi thế của chứng
khoán. Nó tạo thuận lợi cho người sở hữu chứng khoán, khi không muốn nắm
giữ họ có thể bán để thu hồi tiền mặt.
Thứ ba, tính rủi ro của chứng khoán. Chứng khoán là một loại tài sản tài
chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn của rủi ro. Có nghĩa là nhà đầu tư có
thể không được hoàn lại đủ số tiền ban đầu đã bỏ ra đầu tư vào chứng khoán.
Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro được hiểu là sự sai biệt giữa lợi ích thực tế so
với mức sinh lời kỳ vọng, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không hệ thống.
Mức độ rủi ro phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp, biến động của nền kinh tế, thậm chí là biến động chính trị xã hội. Các
nhà đầu tư thường quan tâm tới việc xem xét đánh giá rủi ro liên quan trên cơ sở
đó đề ra các quyết định trong việc lựa chọn nắm giữ hay bán chứng khoán.
Thứ tư, chứng khoán có tính tư bản giả, đó là tính không đồng nhất giữa
thị giá và mệnh giá của chứng khoán. Nghĩa là sau khi được chào bán tại thị
trường sơ cấp, giá trị của chứng khoán thay đổi so với mệnh giá ban đầu và sau
đó do được giao dịch trên thị trường thứ cấp thị giá của nó sẽ phụ thuộc vào tình
hình của thị trường. Tuỳ thuộc vào cung cầu của thị trường mà thị giá có thể cao
hơn hoặc thấp hơn mệnh giá. Tuy nhiên hiện nay phần lớn các chứng khoán đều
có thị giá cao hơn rất nhiều so với mệnh giá, thậm chí gấp hàng trăm lần.
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy chứng khoán là một loại hàng hoá
khác hẳn với các loại thông thường khác. Hiểu rõ những đặc điểm của chứng


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C


thực tế, thường có nhiều loại cổ phiếu như cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi
trong đó cổ phiếu ưu đãi được chia thành nhiều lại cho nhà đầu tư những khả
năng lựa chọn đồng thời tạo cơ hội cạnh tranh cho tổ chức phát hành.


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

6

Vũ Thanh Hương-

- Trái phiếu. Đây là chứng khoán nợ do doanh nghiệp hoặc Chính phủ
phát hành xác nhận quyền của chủ sở hữu đối với khoản nợ của chủ thể đó.
Khoản nợ được tổ chức phát hành cam kết trả lại cho chủ sở hữu tại một thời
điểm trong tương lai với một khoản lãi nhất định. Trái phiếu cũng có nhiều loại
như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
phương.
Trái phiếu và cổ phiếu là hai loại chứng khoán phổ biến nhất hiện nay.
Mỗi loại có một ưu thế riêng, đem lại cho nhà đầu tư những khả năng lựa chọn
để phù hợp với nhu cầu của mình. Trái phiếu và cổ phiếu khác nhau ở một số
điểm sau đây:
Thứ nhất, về bản chất, nếu như cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn thì
trái phiếu lại là chứng khoán nợ. Cổ phiếu xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành còn trái phiếu
xác nhận quyền và lợi ích của chủ sở hữu đối với phần vốn nợ. Như vậy chủ sở
hữu cổ phiếu là cổ đông của tổ chức phát hành còn chủ sở hữu trái phiếu là chủ
nợ của tổ chức đó. Hệ quả là cổ đông có thể tham gia vào việc quản lý điều hành
doanh nghiệp còn chủ nợ thì không có quyền này.
Thứ hai, về tính sinh lời, cổ phiếu có tính sinh lời cao hơn trái phiếu. Điều

không tham gia vào việc hình thành vốn của doanh nghiệp. Đồng thời chủ sở
hữu chứng chỉ quỹ không được tham gia vào việc quản lý, điều hành quỹ. Pháp
luật của các quốc gia khác nhau có những quy định khác nhau về chứng chỉ quỹ
và công ty quản lý quỹ nên quyền và lợi ích của chủ sở hữu là khác nhau. Tuy
nhiên về bản chất, chứng chỉ quỹ luôn là một loại chứng khoán vốn.
Ngoài ba loại chứng khoán chủ yếu trên còn có các loại chứng khoán phái
sinh. Đây là loại chứng khoán phát sinh từ hoạt động giao dịch chứng khoán và
được chuyển đổi sang chứng khoán thông qua hành vi giao dịch trên thị
trường. Hiện nay có ba loại chứng khoán phái sinh phổ biến là chứng quyền,
bảo chứng phiếu, hợp đồng quyền lựa chọn. Tại Việt Nam, theo Luật Chứng
Khoán 2006 có một số loại chứng khoán phái sinh như: chứng quyền, quyền
mua cổ phần, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai [8.1].
1.1.4. Vai trò của chứng khoán.
Trong điều kiện ngày nay, chứng khoán ngày càng đóng vai trò quan trọng,
cần thiết đối với nền kinh tế nói chung cũng như tổ chức phát hành và nhà đầu
tư nói riêng.
Trước hết, đối với nhà đầu tư. Đây là chủ thể chịu tác động trực tiếp
nhất của chứng khoán. Khi một loại chứng khoán tăng giá họ sẽ là người đầu


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

8

Vũ Thanh Hương-

tiên được hưởng khoản chênh lệch. Nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng
khoán nhằm thoả mãn nhu cầu về kinh tế hoặc tham gia quản lý điều hành.
Như vậy, chứng khoán chính là công cụ đáp ứng nhu cầu đó. Bằng việc mua,


9

Vũ Thanh Hương-

cũng chính là một trong những công cụ thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp.
Bằng việc cho phép các công ty nhà nước phát hành cổ phiếu để chuyển đổi
thành công ty cổ phần.
1.2. Chào bán chứng khoán.

1.2.1. Khái niệm về chào bán chứng khoán.
Như trên đã nói, thị trường chứng khoán là nơi thu hút vốn nhanh và
mạnh nhất. Để huy động nguồn vốn đó trên thị trường này, các doanh nghiệp và
các chủ thể buộc phải chào bán chứng khoán, đưa chứng khoán ra thị trường, đổi
lại họ thu được vốn. Chào bán chứng khoán là giai đoạn đầu, là tiền đề để thực
hiện các hành vi sau này liên quan đến chứng khoán. Như vậy không có chào
bán chứng khoán thì sẽ không có những hoạt động như kinh doanh chứng
khoán, môi giới chứng khoán hay lưu ký chứng khoán.
Chào bán chứng khoán được hiểu là việc đưa chứng khoán vào giao dịch
tại thị trường chứng khoán sơ cấp. Tại đây vốn của nhà đầu tư sẽ được chuyển
giao cho tổ chức chào bán thông qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán. Phải nói
rằng chỉ có hoạt động chào bán mới làm tăng hàng hoá cho thị trường chứng
khoán. Hơn thế, thông qua hoạt động chào bán, tổ chức chào bán mới có thể
thành lập, tăng vốn điều lệ phục vụ nhu cầu kinh doanh hoặc bù đắp sự thiếu hụt
tạm thời của ngân sách nhà nước.
Chào bán chứng khoán là tiền đề của các hoạt động khác liên quan đến
chứng khoán. Nếu so sánh chào bán chứng khoán và kinh doanh chứng khoán có
thể thấy một số điểm khác biệt sau. Hoạt động chào bán chứng khoán chỉ diễn ra
trên thị trường sơ cấp trong khi kinh doanh chứng khoán lại chỉ diễn ra trên thị
trường thứ cấp. Nếu như hoạt động kinh doanh chứng khoán có đối tượng là

thương mại, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm. Các đơn vị này sẽ
được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ thoả thuận trên tổng lượng chứng khoán bán
được. Ưu điểm của phương thức này là chứng khoán được bán với số lượng
nhiều hơn. Tuy nhiên tổ chức chào bán lại phải trả một khoản phí trung gian.
Thứ ba, phương thức bán thông qua đấu thầu. Theo đó, có một hoặc một
số nhà thầu được lựa chọn, cam kết sẽ phân phối hết số chứng khoán với điều
kiện nhà thầu được hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định theo kết quả của đợt
chào bán. Với phương thức này, tổ chức chào bán sẽ đạt được mục tiêu huy
động vốn trong một thời gian ngắn nhưng đổi lại, họ phải chịu một khoản phí
trung gian cao. Tuy vậy, phương thức bán thông qua đấu thầu đặc biệt thích
hợp với việc phát hành tín phiếu.
Thứ tư, phương thức bảo lãnh phát hành. Theo phương thức này có một
hoặc một số tổ chức bảo lãnh sẽ đứng ra giúp tổ chức chào bán thực hiện các


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

11

Vũ Thanh Hương-

thủ tục trước khi chào bán chứng khoán. Sau đó tổ chức bảo lãnh nhận mua số
chứng khoán để bán lại hoặc nhận mua số chứng khoán còn lại sau đợt phát
hành. Hiện nay các ngân hàng đầu tư thường đứng ra bảo lãnh phát hành. Ưu
điểm của bảo lãnh phát hành là tổ chức chào bán đảm bảo huy động được
nguồn vốn theo nhu cầu. Tuy nhiên tổ chức chào bán phải trả cho tổ chức bảo
lãnh một khoản chi phí trung gian.
Xét theo điều kiện được chào bán trên thị trường sơ cấp, có hai phương
thức phát hành:

phân biệt hai hình thức chào bán chứng khoán như trên trước hết là để quản lý
hoạt động này qua đó bảo vệ công chúng đầu tư nhất là những nhà đầu tư nhỏ
không có kiến thức chuyên sâu. Bởi vì để chào bán chứng khoán ra công
chúng, tổ chức chào bán phải là những công ty làm ăn có hiệu quả đáp ứng yêu
cầu do Uỷ ban chứng khoán nhà nước quy định. Mặt khác việc phân biệt như
trên còn nhằm xác định phạm vi thị trường của các loại chứng khoán đồng thời
là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có
hiệu quả,
1.2.3. Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán.
So với kênh huy động vốn qua ngân hàng thương mại hay các định chế
cho thuê tài chính, việc huy động vốn qua chào bán chứng khoán đem lại nhiều
lợi ích , thể hiện rõ nét vai trò của hoạt động này.
a. Đối với thị trường chứng khoán
Chào bán chứng khoán quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị
trường chứng khoán. Hoạt động này cung cấp hàng hoá- chứng khoán vào thị
trường sơ cấp từ đó làm tiền đề cho các hoạt động khác diễn ra trên thị trường
thứ cấp. Như vậy nếu không có thị trường chứng khoán sơ cấp thì cũng sẽ
không có thị trường thứ cấp. Thêm nữa, nếu thị trường sơ cấp không đủ mạnh
thì thị trường thứ cấp cũng sẽ không thể phát triển. Khi đó thị trường chứng
khoán sẽ không thể phát huy vai trò là một kênh chủ yếu huy động và phân bổ
nguồn vốn cho nền kinh tế. Hoạt động chào bán chứng khoán trên thị trường sơ
cấp chính là việc các chủ thể kinh tế trực tiếp gọi vốn của công chúng để đầu tư
và phát triển, đưa thị trường sơ cấp trở thành công cụ để tự do hoá nền kinh tế.
Đồng thời với việc thu hút vốn từ hoạt động chào bán chứng khoán, thị trường
chứng khoán sẽ góp phần giảm bớt sức ép về cấp tín dụng cho hệ thống ngân
hàng.
b. Đối với chủ thể chào bán.


Trường Đại học Luật Hà Nội

Nước thành công ty cổ phần. Thứ hai, chào bán chứng khoán còn là phương
thức để mở rộng quy mô vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trên thực tế doanh nghiệp có nhiều hình thức để tăng vốn kinh
doanh như: chuyển lợi nhuận, tích luỹ vào vốn sản xuất, vay vốn các tổ chức
tín dụng hoặc người lao động trong doanh nghiệp. Trước đây doanh nghiệp


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

14

Vũ Thanh Hương-

thường vay ngân hàng trong một thời gian ngắn và thường bắt buộc phải thế
chấp, đồng thời họ luôn ở trong trạng thái lo lắng về nghĩa vụ trả nợ cho ngân
hàng. Sự ra đời của chứng khoán cho phép doanh nghiệp có thêm khả năng
cũng như cơ hội tiếp cận với một kênh huy động vốn mới linh hoạt và hiệu quả
hơn. Các doanh nghiệp có thể chào bán cổ phiếu hoặc trái phiếu. Đây là nguồn
vốn được đảm bảo và có khả năng sử dụng lâu dài. Thêm nữa, với việc chào
bán chứng khoán, doanh nghiệp có thể quảng bá hình ảnh, tên tuổi và uy tín
của mình trước công chúng, củng cố các mối quan hệ với khách hàng và nhà
cung cấp từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tại thị trường trong
nước và thị trường nước ngoài.
1.3. Pháp luật về chào bán chứng khoán.

1.3.1. Khái niệm pháp luật về chào bán chứng khoán
Như chúng ta đã biết, chào bán chứng khoán được coi là khâu đầu tiên,
tạo tiền đề cho sự hình thành cũng như quá trình vận động và phát triển của thị
trường chứng khoán. Hoạt động chào bán chứng khoán có thể huy động được

hành chứng khoán ra công chúng.
ở Việt Nam tuy thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động nhưng đã
có ba văn bản pháp luật quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Đó là nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998, sau đó được thay
thế bằng nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 và mới nhất
là Luật chứng khoán 2006 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Theo đó,
Luật chỉ có những quy định điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra
công chúng. Còn hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ thì tuỳ thuộc vào
từng loại chứng khoán được chào bán sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản
pháp luật như Luật doanh nghiệp 2005; Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16
tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19 thánh 5 năm 2006 về phát hành trái phiếu
doanh nghiệp, quyết định 02/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế phát
hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước... Hoạt
động chào bán chứng khoán của Chính phủ và chính quyền địa phương chịu sự
điều chỉnh của nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2003 về việc
phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính Phủ bảo lãnh và trái
phiếu chính quyền địa phương. So với nhiều nước khác trên thế giới, pháp luật
về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong đó có chào bán
chứng khoán ra đời rất muộn. Điều này là hoàn toàn có thể lý giải được do thị
trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển, thậm chí có những hoạt động
liên quan đến chứng khoán mới ở giai đoạn sơ khai.


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

16

Vũ Thanh Hương-


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

17

Vũ Thanh Hương-

Đồng thời để bảo vệ công chúng đầu tư qua đó duy trì lòng tin đối với thị
trường chứng khoán, Luật chứng khoán 2006 đã có những quy định nhằm quản
lý chặt chẽ hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng chủ yếu thông qua
việc yêu cầu giám sát tổ chức chào bán thực hiện công bố thông tin ngay từ khi
bắt đầu chào mời công chúng đầu tư mua chứng khoán.
Về điều kiện và đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, ở các nước
có thị trường chứng khoán phát triển lâu đời như Anh, Mỹ, Nhật, pháp luật về
chứng khoán không quy định các điều kiện bắt buộc phải có để chào bán chứng
khoán ra công chúng mà chỉ quy định những thủ tục khi chào bán. Sở dĩ có
điều này là do các nước này quản lý chứng khoán theo chế độ công bố thông
tin. Tức là tổ chức chào bán công bố thông tin cho nhà đầu tư để họ tự quyết
định. Do đó, sau khi doanh nghiệp chào bán chứng khoán, việc đăng ký để
được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán mới phải đáp ứng những điều kiện
của Sở giao dịch. Ngược lại, ở Việt Nam, Luật chứng khoán 2006 lại quy định
những điều kiện để được phát hành chứng khoán ra công chúng. Theo đó chủ
thể phát hành phải đáp ứng những điều kiện về tài chính, tình hình kinh doanh.
Về đối tượng chào bán, Nghị định 144/2004/NĐ-CP ngày 28 tháng 11
năm 2003 chỉ điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng của
công ty cổ phần, không điều chỉnh việc phát hành cổ phiếu của các doanh
nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, việc phát hành chứng khoán của các tổ chức tín
dụng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ
phần. Luật chứng khoán 2006 đã khắc phục được hạn chế này. Theo đó Luật

Tóm lại, những qui định về chào bán chứng khoán ra công chúng được
quy định khá cụ thể tại Luật chứng khoán 2006, góp phần tích cực vào việc bảo
vệ nhà đầu tư cũng như thị trường,
b. Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ.
Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam chào bán chứng
khoán riêng lẻ không được quy định trong một văn bản pháp luật thống nhất về
chứng khoán và thị trường chứng khoán. Vấn đề này chịu sự điều chỉnh của
nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Nghị định 187/2003/NĐ-CP ngày 16
tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần ,
Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 hoặc Luật Doanh
Nghiệp 2005. Cụ thể là:
Luật doanh nghiệp 2005 đã có những quy định về các vấn đề cơ bản như
chủ thể chào bán (phát hành chứng khoán), loại chứng khoán được phát hành
của từng loại chủ thể, hình thức phát hành. Về chủ thể và loại chứng khoán


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

19

Vũ Thanh Hương-

được phát hành, theo Luật doanh nghiệp 2005, chỉ có công ty cổ phần và công
ty trách nhiệm hữu hạn mới được quyền phát hành chứng khoán. Trong đó,
công ty cổ phần được quyền phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn
còn công ty trách nhiệm hữu hạn được quyền phát hành trái phiếu. Đồng thời
Luật doanh nghiệp 2005 chỉ quy định về phát hành chứng khoán riêng lẻ,
trường hợp doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra công chúng thì phải tuân
theo những quy định về “chào bán chứng khoán ra công chúng” của Luật


chọn hai hình thức: chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng. Tuy nhiên
nếu doanh nghiệp chào bán với khối lượng cổ phần trên 10 tỷ thì bắt buộc phải
lựa chọn hình thức chào bán ra công chúng. Đồng thời Nghị định cũng đã quy
định trình tự thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Có thể nói, những qui định của
Nghị định đã góp phần tích cực vào việc cổ phần hoá ở nước ta.
1.3.2.2. Pháp luật về chào bán chứng khoán của Chính phủ và chính
quyền địa phương.
Theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước Chính phủ và chính quyền
địa phương được phép phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn trong nhân dân,
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng của quốc gia và
địa phương. Trong số các loại trái phiếu được phép phát hành đó có trái phiếu
Kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ
và trái phiếu chính quyền địa phương là chứng khoán.
Hiện nạy, hoạt động chào bán các loại chứng khoán này của Chính phủ và
chính quyền địa phương chịu sự điều chỉnh của Nghị định 141/2003/NĐ-CP
ngày 20 tháng 11 năm 2003 về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương. So với Nghị
định 72/1994/NĐ-CP ngày 26/7/1994 của Chính phủ về việc ban hành quy chế
phát hành các loại trái phiếu Chính phủ, Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20
tháng 11 năm 2003 đã có những thay đổi cơ bản: quy định về quyền phát hành
trái phiếu của chính quyền địa phương, đa dạng hoá các loại trái phiếu chính
phủ, bổ sung các phương thức phát hành trái phiếu và xoá bỏ điều kiện phát
hành của một số loại trái phiếu Chính phủ..
1.3.3. Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng
khoán.
Để đảm bảo sự vận hành đồng bộ của thị trường chứng khoán, đảm bảo
cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư, một bộ phận cần thiết của pháp luật
về chào bán chứng khoán là pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động
chào bán.

nước đối với hoạt động này sẽ chịu sự điều chỉnh của từng văn bản pháp luật
tương ứng.
Tóm lại, những quy định của pháp luật chào bán chứng khoán là đòi hỏi
chung để bảo vệ nhà đầu tư và sự ổn định của thị trường.Từ đó pháp luật sẽ là
công cụ hữu hiệu hạn chế thiệt hại đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà
đầu nhỏ lẻ, cá thể, mới tham gia thị trường, đồng thời là biện pháp tích cực ngăn
chặn sự khủng hoảng của thị trường, góp phần tạo nên một thị trường chứng
khoán lành mạnh và có hiệu quả.


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

22

Vũ Thanh Hương-


Trường Đại học Luật Hà Nội
KT28C

23

Vũ Thanh Hương-

Chương 2
Thực trạng pháp luật việt nam về
chào bán chứng khoán
2.1. Chủ thể chào bán chứng khoán.



Vũ Thanh Hương-

2.1.2. Chính quyền địa phương.
Với chức năng quản lý Nhà nước giống Chính Phủ thì chính quyền địa
phương cũng có quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Tuy nhiên
một điểm khác cơ bản đó là Chính quyền địa phương chỉ được phát hành trái
phiếu trong phạm vi đơn vị hành chính địa phương mình.
Cơ sở pháp lý về việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương được
cũng được quy định tại Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2003.
Theo đó, chủ thể phát hành trái phiếu chính quyền địa phương là Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh. Tuy nhiên chủ thể này không trực tiếp phát hành mà uỷ quyền cho
Kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tài chính, tổ chức tài chính trên địa bàn phát
hành. Mục đích của việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương là nhằm
huy động vốn cho các dự án, công trình thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương.
Có thể nói, trái phiếu chính quyền địa phương là một trong những công cụ hữu
hiệu đáp ứng nhu cầu vốn cho địa phương, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách
Trung ương khi ngân sách địa phương chưa đáp ứng kịp và vẫn đảm bảo sự phát
triển cho địa phương.
2.1.3. Doanh nghiệp.
2.1.3.1. Chủ thể chào bán chứng khoán vốn.
a. Công ty cổ phần.
Hiện nay, công ty cổ phần có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế trong
đó có thị trường chứng khoán. Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường
công ty cổ phần được xem là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội hoá
sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa nền kinh tế từ kinh tế hàng hoá vận
hành theo cơ chế thị trường sang nền kinh tế thị trường. Đối với thị trường chứng
khoán, công ty cổ phần tạo ra hàng hoá, góp phần hình thành thị trường sơ cấp.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần được quyền
phát hành chứng khoán. So với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần

phần). Việc cổ phần hoá các công ty Nhà nước hiện nay chịu sự điều chỉnh của
nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty
Nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19
tháng 6 năm 2002 trước đây về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công
ty cổ phần. Theo quy định của pháp luật hiện hành các công ty Nhà nước được
chuyển đổi bao gồm: Tổng công ty Nhà nước, công ty Nhà nước độc lập, công ty
thành viên hoạch toán độc lập của tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và
thành lập, đơn vị hoạch toán phụ thuộc của công ty Nhà nước.
Sau khi chào bán cổ phiếu thành công, các công ty Nhà nước sẽ chuyển
thành công ty cổ phần, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về công ty cổ phần. Là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status