skkn một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học các bài toán mở cho học sinh lớp 1 - Pdf 37

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến thành phố Ninh Bình.
Chúng tôi gồm:

T
T

Họ và tên

Tỷ lệ (%) đóng
Nơi công
góp vào việc tạo
tác
Trình độ
Ngày tháng
Chức
ra sáng kiến
(hoặc nơi
chuyên
năm sinh
danh
(ghi rõ đối với từng
thường
môn
đồng tác giả, nếu
trú)


ĐH

20%

4 Nguyễn T Bích Liên

12/01/1979

THTT

GV



20%

28/4/1973

THTT

GV

ĐH

20%

5 Phạm Bích Hà

Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: "Một số giải pháp nâng

Ưu điểm:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh biết nêu bài toán phù hợp với tranh vẽ
+ Học sinh viết được 1 đến 2 phép tính phù hợp với 1 đến 2 bài toán vừa
nêu qua quan sát tranh vẽ.
Nhược điểm:
+ Phương pháp dạy học của giáo viên còn nặng nề, chưa phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí của học sinh tiểu học, chưa phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh, mang
tính giảng giải , thuyết trình nhiều. Điều đó thể hiện qua một số tình trạng sau:
+ Học sinh nhớ các dạng toán một cách máy móc.
+ Học sinh ngại học các bài toán mở, dẫn đến không tự tin khi làm bài.
Trong quá trình quản lí và giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt là ở các lớp 1,
chúng tôi nhận thấy HS rất lúng túng thậm chí nêu sai bài toán, viết sai phép tính,
viết sai đáp số.
1.2. Giải pháp mới cải tiến
Giải pháp 1: Chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán
học và ngược lại.
* Thay đầu bài , ngữ điệu trong SGK.
Bài toán mở nêu các vấn đề thường gặp trong đời sống, các vấn đề đó gắn
liền với nội dung (khái niệm, cấu trúc, thuật ngữ ) toán học, do vậy giáo viên cần
cho học sinh nắm vững khái niệm thuật ngữ.
Để dạy tốt “Các bài toán mở” ở lớp 1, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm
thật chắc những bài toán thể hiện ý nghĩa của phép tính.

3


a) Trong chương trình toán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ
nên chưa thể đưa ngay “Bài toán có lời văn”. Mặc dù đến tận tuần 22, học sinh mới
được chính thức học cách trình bày bài giải “Bài toán có lời văn” song chúng ta đã
có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “Phép cộng trong phạm vi 3


Bài toán “Thêm” thành bài toán “gộp”, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình
có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến. Học
sinh lần lượt có thể tự tìm các bài toán tương ứng với phép tính 3+ 4 = 7. hoặc
3+4=7
VD: Có 4 hình vuông , thêm 3 hình vuông . Hỏi có tất cả bao nhiêu hình
vuông? Hoặc có 4 bút chì , thêm 3 bút chì . Hỏi có tất cả mấy bút chì?
Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: “Lớp 1A có 35 bạn,
trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”, dạng này ít gặp vì
dạng này hơi khó (CTTH cũ dạy ở lớp 2).
Sau khi học sinh học xong bài toán “Thêm” “Bớt” giáo viên có thể cho học
sinh dựa vào phép tính để nêu bài toán thích hợp .
VD:

1+3=4

4–3=1

3+1=4
4–1=3
Học sinh lần lượt nêu : Có 1 quả bóng , thêm 3 quả bóng . Hỏi có tất cả bao
nhiêu quả bóng ? Hoặc “Có 3 quả bóng , thêm 1 quả bóng. Hỏi có tất cả mấy quả
bóng? ” Hoặc “ Có 4 quả bóng , bớt 3 quả bóng. Hỏi còn lại bao nhiêu quả bóng ?
Hoặc “ Có 4 quả bóng , bớt 1 quả bóng. Hỏi còn lại bao nhiêu quả bóng?
* Từ mô hình vật thật học sinh đặt đề toán phù hợp với tình huống sau đó
chuyển dịch thành ngôn ngữ toán học bằng việc viết phép tính thích hợp:
Đối với học sinh lớp 1, đặc biệt là những tuần đầu năm học, việc hướng dẫn
học sinh đọc để hiểu đề bài và giải được bài toán rất khó khăn, vất vả. Vốn từ ngữ,
vốn kiến thức liên quan đến đời sống thực tế của học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế,
tư duy của học sinh mang nặng yếu tố hình ảnh, cụ thể. Vì vậy, hướng dẫn học

Từ việc học cấu tạo số giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ ven, dựa vào sơ
đồ ven để nêu lại cấu tạo số và mối quan hệ giữa các thành tố, qua đó học sinh
được củng cố về cấu tạo số, bước đầu có khái niệm, biểu tượng các phép tính cộng
trừ. Khi học về các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10, giáo viên sử dụng sơ đồ
ven để củng cố, làm rõ hơn khái niệm, biểu tượng phép tính cộng, trừ:
Hình ảnh các chấm tròn trong sơ đồ ven là ý nghĩa của phép tính cộng, phép
tính trừ được giáo viên cung cấp cho học sinh theo quan điểm tập hợp, giúp các em
cảm nhận bằng trực giác.

1+3=4
3+1=4
3

4

1
6

1+3=3+1


Từ sơ đồ ven trên, học sinh có thể xây dựng thành phép tính cộng, cũng bằng
sơ đồ ven, giáo viên che bớt các chấm tròn để xây dựng phép tính trừ. Sau đó dùng
sơ đồ ven để học sinh hiểu được mối quan hệ ngược giữa phép cộng và phép trừ.
Từ phép cộng 1 + 3 = 4 suy ra phép trừ tương ứng 4 – 1 = 3 và 4 – 3 = 1 và chỉ ra
rằng phép trừ là phép tính ngược của phép tính cộng.
Giải pháp 2: Hoạt động thực hành và đưa trò chơi học tập vào giải các bài
toán mở.
* Hoạt động trải nghiệm, thực hành:
Chúng tôi tổ chức các hoạt động để học sinh được làm việc với vật thật, mô

+ Trò chơi đoán phép tính thích hợp.
Cách chơi: GV đưa ra một bức tranh, học sinh lần lượt nêu các phép tính phù
hợp với tranh, sau đó giáo viên lật phép tính ở mặt sau để học sinh đối chiếu xem
đúng hay sai và giải thích đã nêu bài toán nào thích hợp.
Luật chơi : Mỗi học sinh nêu 1 phép tính mà em cho là phù hợp với tranh vẽ.
+ Trò chơi : “Nêu bài toán thích hợp”
VD: GV đưa phép tính 3 + 2 = 5
Cách chơi: Hai đội cùng chơi, đổi qua, đổi lại, đội nào nêu được bài toán đúng
phù hợp với phép tính sau cùng là đội chiến thắng.
Luật chơi: Mỗi đội 5 em tham gia trò chơi.
+ Trò chơi nối tranh vẽ với phép tính thích hợp theo nhóm.
Cách chơi: Giáo viên gắn hình ảnh với phép tính trên bảng theo nhóm chơi mỗi
nhóm 1 hoặc 1 nhóm học sinh tuỳ theo yêu câù bài toán, lần lượt từng em lên nối
tranh vẽ với 1 phép tính (Mỗi em chỉ được nối 1 tranh vẽ với 1 phép tính ) nhóm
nào nối xong trước và đúng nhóm đó sẽ chiến thắng.
VD: Khi dạy bài “Phép cộng trong phạm vi 4 tôi củng cố kiến thức cho học
sinh bằng cách chơi trò chơi: Nối tranh vẽ với phép tính thích hợp”. Giáo viên nêu
cách chơi, luật chơi sau đó cử đại diện các nhóm lên chơi, nhóm nào nối đúng, nối
nhanh nhóm đó sẽ thắng cuộc.

Nối tranh vẽ với phÐp tÝnh thÝch hîp:

Nhóm 1
4–1=3

1+3=4

4–3=1
8


nhận xét, bổ sung về hướng giải quyết, phát huy tính sáng tạo trong cách giải quyết
vấn đề của học sinh.
9


Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học các bài toán mở.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc áp dụng những thành
tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật vào thực tiễn giảng dạy nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.
Khi dạy bài toán : Viết phép tính thích hợp. GV sử dụng máy chiếu , các hình
ảnh trực quan vào dạy học để gây hứng thú cho học sinh .

3+1=4

2+2=4

1+3=4
3+1=4
3

4

1+3=3+1

1

Sử dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng ở khai thác trình bày kiến thức mới mà
còn thực hiện ở nhiều khâu khi dạy bài toán mở như luyện tập, thực hành, kiểm tra.
Không so sánh “hiện đại với thủ công”, việc ứng dụng công nghệ thông tin
lựa chọn tùy điều kiện từng lớp và khả năng của giáo viên, chúng tôi nghiên cứu sử

việc dạy toán diễn ra theo 3 mức độ.
- Mức độ thứ nhất: Hoạt động chuẩn bị cho bài toán.
- Mức độ thứ hai: Hoạt động làm quen với bài toán.
- Mức độ thứ ba: Nêu được phép tính hoặc bài toán thích hợp.
+ Tạo giờ học thoải mái, sinh động, hợp tác tin cậy lẫn nhau giữa thầy và trò
phát huy tốt tính tích cực tư duy của học sinh. Giáo viên nên dùng những thuật ngữ
đơn giản, dễ hiểu trong khi giảng bài.
+ GV phải có tác phong mẫu mực, ứng xử khéo léo, nhiệt tình với công việc.
+ Nắm rõ đặc điểm về tâm lý của học sinh ở từng độ tuổi những kinh
nghiệm trong giảng dạy.
11


+ Bản thân giáo viên luôn luôn tự học tự rèn, liên hệ trao đổi với đồng nghiệp.
V. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế mà sáng kiến đem lại chính là việc thường xuyên sử dụng
có hiệu quả các đồ dùng học tập không gây lãng phí về cơ sở vật chất.
Việc sử dụng tranh ảnh có sẵn trên mạng cũng giảm bớt nhiều chi phí.
Trước đây giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để tìm tranh ảnh minh họa hoặc
nhà trường phải mua các bộ tranh học từ thì bây giờ giáo viên có thể sử dụng hình
ảnh trên mạng và chiếu lên qua máy chiếu để cả lớp có thể quan sát.
Tuy nhiên, lợi ích kinh tế lớn nhất mà sáng kiến mang lại là chất lượng dạy
học môn Toán được nâng lên rõ rệt. Đây chính là nguồn lợi kinh tế lâu dài mang
lại cho bản thân học sinh, gia đình học sinh và xã hội mà những người làm giáo
dục mong muốn đạt được.
2. Hiệu quả xã hội
Qua quá trình quản lí và giảng dạy chúng tôi thấy trước khi chưa áp dụng
phương pháp mới học sinh thường không nắm được yêu cầu của đề bài. Khi đưa các

CUỐI KÌ II

20

12

3

0

Lớp thử nghiệm : Lớp 1C- Năm học 2014- 2015
12


THỜI GIAN

ĐIỂM 9-10

ĐIỂM 7-8

ĐIỂM 5-6

ĐIỂM DƯỚI 5

CUỐI KÌ I

20

10


Nguyễn Thị Bích
Thủy

Bùi Thị Hạnh Phúc

13

Nguyễn Thị Bích Liên

Phạm Bích Hà


TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN THÀNH
XÁC NHẬN

PHÒNG GIÁO DỤC THÀNH PHỐ NINH BÌNH
XÁC NHẬN

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status