1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân loại đang đứng trước sự phát triển thần kì của khoa học công nghệ, nước
Việt Nam nói chung và ngành giáo dục nói riêng phải đầu tư thích đáng cho sự nghiệp
giáo dục.Điều đó đặt ra yêu cầu phải kịp thời đào tạo ra một thế hệ trẻ năng động, sáng
tạo, nắm vững tri thức khoa học công nghệ để làm chủ trong mọi hoàn cảnh công tác và
hoạt động xã hội trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngày nay khi đất nước bước sang giai đoạn mới, mục tiêu giáo dục của nhà
trường phổ thông được xác định rõ trong luật giáo dục: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Luật giáo dục - Điều 23)
Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI đặt ra yêu cầu đối
với tất cả các cấp học, trong đó có cấp THCS: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người
học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Đổi mới là một yêu cầu tất yếu để tồn tại và phát triển. Sự nghiệp đổi mới giáo
dục đã được Đảng và nhà nước khảng định là vai trò quan trọng cấp thiết trong hệ thống
“Đổi mới sự nghiệp giáo dục”, là nền tảng, là động lực thúc đẩy công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước để Việt Nam từng bước vững vàng khi hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Như vậy, để thực hiện quá trình đổi mới giáo dục không chỉ đổi mới về nội dung
chương trình SGK mà còn phải đổi mới về cả phương pháp Dạy - Học. Đây là hai vấn
đề có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục trong
giai đoạn mới.
Để nâng cao chất lượng dạy - học nói chung, giờ học lịch sử nói riêng là mục tiêu
phấn đấu của tất cả các giáo viên trong nhà trường hiện nay. Nó là kết quả của sự suy
nghĩ và tìm tòi lớn về sư phạm, là kết quả tổng hợp của những nguyên lí khoa học của
việc dạy học và của nghệ thuật sư phạm. Vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học được các cấp,
ngành giáo dục đào tạo nói chung và Giáo dục Lệ Thủy nói riêng đặc biệt quan tâm. Xác
định được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đổi mới PPDH từ năm học 2016-2017
Phòng Giáo dục và Đào tạo Lệ Thủy triển khai chỉ đạo thực hiện chỉ đạo đổi mới
phương pháp dạy học qua công văn số 692/GD&ĐT-THCS ngày 14 tháng 9 năm 2016
với các nội dung:
- Tổ chức thực hiện quyết liệt việc đổi mới PPDH trong các tiết dạy trên lớp, thao
giảng dự giờ, sinh hoạt chuyên môn liên trường theo tinh thần Công văn 5555/BGDĐTGDTrH ngày 08/10/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện đổi mới PPDH trên cơ sở vận dụng những nét tích cực của mô hình
trường học mới, cụ thể:
+ Trong mỗi tiết dạy, tùy theo yêu cầu từng kiểu bài, yêu cầu giáo viên linh hoạt
sử dụng 4 hình thức học tập: học cá nhân, học cặp đôi, học nhóm, học toàn lớp
+ Thực hiện tốt sự tương tác giữa thầy và trò, trò và trò theo phương châm “thầy
nói ít, trò học nhiều”
Trước yêu cầu về đổi mới PPDH, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, nâng cao
chất lượng dạy học các trường trung học cơ sở và giáo viên trên địa bàn Lệ Thủy đã
hưởng ứng tích cực và bước đầu có nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn
có một số nguyên nhân cả về phía giáo viên, cả về phía học sinh, cả về phía cơ sở vật
chất lẫn cả về phía phụ huynh học sinh dẫn đến chất lượng dạy-học môn Lịch sử vẫn còn
nhiều băn khoăn, lo lắng.
3
2.1.2. Về giáo viên.
Việc thay đổi chương trình lẫn phương pháp giảng dạy mới khiến nhiều giáo viên
thực sự lúng túng. Trong một tiết dạy, nhiều giáo viên thiếu vận dụng linh hoạt, chỉ sử
dụng một phương pháp, nhiều giáo viên chỉ nghiêng về nói lại nội dung SGK làm cho
tiết học đơn điệu, giờ học diễn ra rất nhàm chán, học sinh không thể phát huy được tính
4
để hướng dẫn học sinh vào bài học. Sách tham khảo, các loại từ điển và các sách công
cụ khác trong thư viện chưa phong phú.
Trang thiết bị hiện đại, thiết bị ứng dụng CNTT của các trường còn nghèo nàn và
chưa được khai thác và sử dụng hợp lý nếu có.
2.2. CÁC GIẢI PHÁP.
2.2.1. Xây dựng và thiết kế giáo án khoa học
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) và đổi mới đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem
lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Và ở khía cạnh hoạt động, tất cả
những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt động của
người dạy và người học. Chính vì thế những câu hỏi như: Làm thế nào để có một giờ
học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho chính xác, khách quan, công bằng?
luôn có tính chất thời sự và thu hút sự quan tâm của tất cả các giáo viên (GV) và cán bộ
quản lí giáo dục.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp
tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động
tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những
yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học,
đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học
đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ
chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp
tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo
nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt
động dạy của người dạy và hoạt động học của người học).
Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá
mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì).
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ
những nội dung của bài học; xác định những KT, KN, thái độ cơ bản cần hình thành và
phát triển ở HS; xác định trình tự logic của bài học.
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trong SGK
còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác; trước hết nên đọc kĩ nội dung bài
học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi
mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học.
Mỗi GV không chỉ có kĩ năng tìm đúng tư liệu cần đọc mà cần có kĩ năng định
hướng cách chọn, đọc tư liệu cho HS. GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định,
được đông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy.
Việc đọc SGK, tài liệu là để tìm nội dung chính xác định những kiến thức, kĩ năng
cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc để tìm những thông tin quan
tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiến thức, kĩ năng và dụng ý của tác giả;
đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch kiến thức, kĩ năng.
Nếu nắm vững nội dung bài học, GVsẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung
của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức, kĩ
6
năng của SGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá,
vận dụng các kiến thức, kĩ năng trong bài một cách thích hợp.
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm: xác
định những kiến thức, kĩ năng mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những
tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV
không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn PPDH,
phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp. Như vậy,
trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống, các cách
cứ vào những gợi ý của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mục tiêu
bài học, xác định khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghiên cứu nội dung dạy
học, lựa chọn các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức
đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Cách làm như
vậy không thể giúp GV có được một giáo án tốt và có những điều kiện để thực hiện một
giờ dạy học tốt. Về nguyên tắc, cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi
hãy bắt tay vào soạn giáo án cụ thể.
2.2.1.2. Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
- Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:
+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá
chất...), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector...)
và tài liệu dạy học cần thiết;
+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu
và đồ dùng học tập cần thiết).
- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động
dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:
+ Tên hoạt động ;
+ Mục tiêu của hoạt động;
+ Cách tiến hành hoạt động;
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động;
+ Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động;
những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những
sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù
hợp;...
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục
thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc
học bài mới.
mới mà không phải thực hiện những buổi hoạt động cả nhóm, cá nhân hoặc tương tác
trong một nhóm nhỏ cố định. Hoạt động nhóm linh hoạt củng cố tình cảm trong lớp học.
+ Thứ hai: Hoạt động nhóm linh hoạt đưa học sinh đến với những quan điểm mới
và khác biệt.
Cũng như người lớn, trẻ em ở mọi lứa tuổi bị lôi cuốn bởi những người giống họ –
người chia sẻ quan điểm với họ, có cùng trải nghiệm, sở thích và dường như cùng có sự
đánh giá cao với một số thứ. Nhu cầu kết bạn là chuyện bình thường và rất có ích. Tuy
nhiên, học sinh có thể rất thoải mái hoặc có xích mích với cùng những thành viên trong
nhóm ở trong hoặc ngoài không gian lớp học. Nhóm linh hoạt tách học sinh ra khỏi vùng
thoải mái và buộc họ làm việc chung với những người mà họ không thể từ chối để trải
nghiệm những mối quan hệ mới.
+ Thứ ba: Nhóm linh hoạt chống lại sự khác biệt
Khi tiến hành hoạt động nhóm linh hoạt giáo viên đã gửi thông điệp mạnh mẽ đến
học sinh về vai trò của giáo viên đối với lớp học. Khi được sắp nhóm, hầu hết học sinh
sẽ đặt ra các câu hỏi: Ai cùng nhóm với mình? Chúng tôi sẽ làm gì? Họ sẽ làm gì?…
9
Học sinh đang tiến hành một dạng thức kiểm tra “độ cứng của giáo viên” cũng như niềm
tin của giáo viên đối với năng lực học tập của học sinh. Nhóm linh hoạt làm đã thử thách
người học ở chỗ họ bị sắp xếp làm việc với người khác theo những mục đích của giáo
viên. Các nhóm đôi khi được chia dựa trên độ sẵn sàng của học sinh hoặc cấp độ kĩ năng
nhưng các thành viên trong nhóm kết nối với nhau dựa trên mối quan tâm, sở thích học
tập, trải nghiệm,…
Khi lên kế hoạch tổ chức nhóm linh hoạt, những điều đầu tiên phải cân nhắc là
mục đích và thời lượng: học sinh sẽ làm gì trong nhóm, tại sao họ sẽ làm như thế và làm
trong bao lâu? Học sinh có cơ hội thực hành hoặc vận dụng một kĩ năng? Tìm tòi kiến
thức hay những ý tưởng mới? Phân tích một bài thơ hay dữ liệu trong một bài nghiên
cứu? Làm dự án ngắn hay dài hạn? Dù “lí do” là gì thì nó cũng phải phù hợp với hoạt
động nhóm – đó là một nhiệm vụ nằm trong hệ thống hơn là đứng riêng lẻ.
hình ảnh trực quan cảm tính của sự vật hiện tượng, là tiền đề của tư duy theo quan điểm
nhận thức: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn".
2.2.3.1. Ứng dụng CNTT tạo ảnh động tái hiện sự kiện.
Ưu thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử là bằng các
hiệu ứng giáo viên có thể làm cho học sinh thấy được sự sinh động trong diễn biến các
trận đánh và thấy được sự quyết liệt trong mỗi sự kiện... Một bản đồ động sẽ hứng thú
hơn nhiều so với bản đồ tĩnh, tuy nhiên việc thiết kế một bản đồ điện tử là một vấn đề rất
khó làm đối với giáo viên. Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bài trong
chương trình của bộ môn Lịch sử đặc biệt là các bài có diễn biến của phong trào cách
mạng, các trận đánh lớn.
2.1.3.2. Ứng dụng CNTT tạo video tường thuật diễn biến lịch sử.
Có thể nói các thước phim tư liệu là nguồn tư liệu sống trong dạy học lịch sử bởi
qua những thước phim này các em biết luôn được về thời kì quá khứ hào hùng của dân
tộc. Tùy theo nội dung của bài giáo viên có thể đưa vào những đoạn phim tư liệu, hoặc
thiết kế những video ảnh phù hợp làm phong phú thêm bài học, đồng thời thay đổi
không khí trong một giờ học Lịch sử. Hiện nay với nhiều phần mềm thiết kế video ảnh
đơn giản giáo viên có thể tự thiết kế cho mình một video để phục vụ giảng dạy.
LÀM VIDEO TỪ ẢNH BẰNG PROSHOW PRODUCER
Bước 1: Mở chương trình.
Bước 2: Tại tùy chọn Buil bạn bắt đầu xây dựng tạo video, tại mục Foder list dẫn
đến nơi chứa ảnh muốn tạo thành video.
Bước 3: Sau khi dẫn đến nơi chứa ảnh mục file List sẽ liệt kê và hiện thị các ảnh
có trong đó, kích đúp vào ảnh muốn cho vào clip hoặc nhấn chuột phải và chọn add to
show để thêm ảnh vào clip
Bước 4: Nếu muốn chèn nhạc vào clip bạn kéo thả bài hát vào mục Soundtrack
Bước 5: Thiết lập các tùy chọn cho ảnh, click phải chuột vào ảnh đã được chọn và
chọn slide options. Một cửa sổ mới hiện ra, tại mục caption Setting cho phép bạn thêm
text vào video, nhấn biểu tượng dấu (+) ở mục caption sau đó viết đoạn văn bản vào
mục selection caption text, bạn cũng có thể chỉnh sửa màu sắc, cỡ chữ,... cho text với
HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.
2.1.4. Ứng dụng CNTT để kiểm tra đánh giá khách quan.
Để việc dạy và học môn Lịch sử đạt được kết quả tốt, ngoài yếu tố giảng dạy,
truyền đạt kiến thức, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng là một vấn đề hết sức
quan trọng. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá, chúng ta sẽ thấy được hiệu quả của
việc giảng dạy. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một yêu cầu
cần thiết và cấp bách, nhằm đảm bảo tính khoa học, chính xác, khách quan, giúp người
dạy và người học nhìn nhận được đúng thực chất của việc dạy học, từ đó có những biện
pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy học.
Nhưng việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử
nói riêng là một trong những biện pháp rất quan trọng, rất có ưu thế để phát triển tư duy
12
của học sinh. Quá trình hoạt động chung, thống nhất giữa thầy và trò sẽ làm cho học
sinh nắm vững hơn những tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và bồi dưỡng phẩm chất
đạo đức, hình thành nhân cách cho các em. Mặt khác nhằm giảm bớt số lượng học sinh
học yếu kém môn Lịch sử trong nhà trường và phát huy hết năng lực của học sinh khá
giỏi; giúp các em nắm chắc được kiến thức bài học và hiểu sâu hơn các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử.
Việc tích cực ứng dụng CNTT để tổ chức kiểm tra đánh giá nhằm giảm bớt thời
gian, công sức, tiền của và cải thiện hiệu quả của việc kiểm tra đánh giá. Hiện nay có
nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học giúp giáo viên thiết kế các bài tập trắc nghiệm khách
quan có khả năng tương tác cao mà giáo viên có thể sử dụng để áp dụng trong soạn bài
và giảng dạy như: Adobe Presenter, iSpring Suite, Trí Việt, Violet,...
Với các phần mềm này giáo viên có thể tạo ra nhiều dạng câu hỏi trắc nghiệm
khác nhau hay cũng có thể tạo ra các trò chơi ô chữ để đưa vào bài giảng.
Để minh họa cho các giải pháp trên, sau đây tôi xin xây dựng giáo án và
hướng dẫn các bước giảng dạy trên lớp:
2.3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
phương pháp dạy học cũ và phương pháp dạy học mới không có một sự tách biệt rạch
ròi mà trong nó vừa mang tính kế thừa lối dạy học truyền thống vừa sáng tạo, linh hoạt.
Đối với bộ môn Lịch sử khi dạy cần cho học sinh nhận thức được rằng: Học lịch sử là
quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ để hiểu hiện tại và chuẩn bị cho
tương lai. Học tập lịch sử cũng là để hình dung rõ ràng, giải thích đúng, có cơ sở khoa
học về lịch sử. Lịch sử là những gì đã qua đi nhưng không hoàn toàn biến mất mà để lại
dấu vết của nó qua kí ức của nhân loại, qua thành tựu văn hoá , qua các hiện tượng lịch
sử, qua ghi chép của người xưa, qua tên đất, tên làng…nên khi dạy giáo viên chọn
phương pháp dạy học thích hợp. Tiêu chí cơ bản của PPDH lịch sử mới là hoạt động tự
lập tích cực của học sinh. Muốn được như vậy giáo viên phải gia công nhiều ở khâu
chuẩn bị bài, lập kế hoạch bài học và đặc biệt chú trọng đổi mới hoạt động học tập của
học sinh. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả dạy học theo phương pháp đổi mới còn có
nhiều phương pháp tối ưu khác nữa. Mong rằng các đồng chí, đồng nghiệp góp ý xây
dựng để giờ học lịch sử ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
3.2. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Từ quá trình tìm tòi, nghiên cứu dạy học theo phương pháp đổi mới ở môn Lịch sử tôi
mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất như sau:
3.2.1. Đối với giáo viên:
+ Phải có tâm huyết với nghề, tạo hứng thú cho học sinh bằng cách trình bày sinh động,
bằng sự am hiểu lịch sử, nghệ thuật trình bày, vốn sống, kinh nghiệm chuyên môn, tình
cảm đối với lịch sử và cả sự yêu mến học sinh để mỗi giờ học trôi qua là một sự tiếc nối
cũng là sự tò mò mong đợi những giờ học tiếp theo.
+ Nghiên cứu SGK, SGV, tài liệu tham khảo và các đồ dùng trực quan có liên quan đến
nội dung bài học.
+ Có ý thức học hỏi đồng nghiệp, trau dồi kiến thức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.
14
+ Đầu tư nhiều hơn vào việc soạn bài theo tinh thần dạy học thông qua tổ chức các hoạt
15