MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
PHẦN I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, các nước đều coi môn Lịch sử là môn học cơ bản trong
chương trình giáo dục phổ thông. Nước ta trên con đường hội nhập quốc tế, môn
Lịch sử càng giữ vai trò quan trọng trong trang bị kiến thức cơ sở, giáo dục các
giá trị truyền thống, góp phần xác lập bản lĩnh con người Việt Nam. Do vậy,
trong những năm qua công tác giáo dục Lịch sử được chú trọng không chỉ trong
nhà trường mà trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Thế nhưng, trong
những năm gần đây, tình trạng học sinh không yêu thích, không học Lịch sử
ngày càng phổ biến và kéo theo đó là chất lượng ở các trường THPT, ở các kì thi
Đại học, Cao đẳng rất thấp. Thậm chí học sinh không lựa chọn thi môn Lịch sử
khi được quyền lựa chọn môn thi tốt nghiệp. Mà lịch sử là một trong những yếu
tố cơ bản trong quá trình làm nên 2 từ: “Đất Nước”. Thực trạng đó đang gióng
lên hồi chuông báo động về nỗi lo “mất gốc” của thế hệ trẻ. PGS.TS Phạm Mai
Hùng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng: “Không phải
ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bộn bề công việc vẫn không quên
nhắc nhở: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
Không hiểu lịch sử ông cha chắc chắn khó có thể định hướng cho hiện tại, chưa
nói đến tương lai”.
Làm thế nào để các thế hệ học sinh “biết” và trên cơ sở ấy “tường” (hiểu
sâu sắc) về lịch sử dân tộc? Đó luôn là nỗi trăn trở của các cấp quản lý giáo dục,
đặc biệt với giáo viên giảng dạy môn Lịch sử. Là một giáo viên Lịch sử, tuổi
đời, tuổi nghề còn trẻ, luôn trăn trở với nghề, bản thân đã nghiên cứu thực tiễn
đối tượng học sinh để tìm ra cách dạy phù hợp, hiệu quả. Sau một thời gian tìm
tòi và nghiên cứu, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT Ba Đình” làm sáng kiến kinh
nghiệm.
1
thi” đã làm cho môn Lịch sử trở nên xa lạ, xơ cứng và nhàm chán. Từ câu
chuyện học sinh xé đề cương môn Sử gây xôn xao dư luận thời gian qua, chúng
ta càng thấy rõ chế độ thi cử nặng nề đã tác động đến động cơ học tập của học
sinh theo chiều hướng tiêu cực.
Bên cạnh đó, trong khi chương trình không được phép dưới chuẩn, lượng
kiến thức quá nhiều lại bị gói trong khoảng thời gian ngắn nên đa số giáo viên
phải “chạy” để kịp chương trình. Vì học sinh tỏ ra không mặn mà với môn Sử,
coi đó là môn phụ, do đó không ít giáo viên Lịch sử cũng tự cho mình là giáo
viên môn phụ. Sự tâm huyết, tận tụy cũng dần hao mòn dẫn đến lối dạy nhồi
nhét, một chiều của một số giáo viên càng khiến cho học sinh không hứng thú.
Vì vậy trách nhiệm của người giáo viên Lịch sử là phải tìm ra những
phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả để tạo được hứng thú với học sinh, bởi
khi có hứng thú với môn học các em mới có động cơ, có nhu cầu lĩnh hội kiến
thức và tích cực tham gia vào quá trình nhận thức. Từ đó, kéo các em về gần với
lịch sử dân tộc, yêu thích môn Lịch sử.
Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin nêu ra một số biện pháp
dạy học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn mà bản thân đã áp dụng hiệu quả với
3
mong muốn được chia sẻ và trao đổi nhiều hơn nữa với đồng nghiệp. Phạm vi
nghiên cứu của sáng kiến giới hạn trong chương trình Lịch sử 10 và 12. Lớp
nghiên cứu thực nghiệm gồm: 12D, 12H, 10D và 10M.
2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
2.1. Biện pháp cho tình trạng chương trình SGK dàn trải, nặng kiến
thức, nhiều sự kiện
Vẫn biết chương trình SGK còn những hạn chế nhất định, nhưng vấn đề
này không thể giải quyết trong ngày một ngày hai, vì vậy tôi cho rằng người
sinh đánh giá thế nào về chính sách đó của giới cầm quyền Nhật? Mục II là phần
kiến thức cơ bản, trọng tâm nhất của bài. Trong mục này học sinh cần biết
những biểu hiện của giai đoạn phát triển “thần kỳ” ở Nhật Bản. Hiểu được tại
sao sau chiến tranh thế giới II, cả Nhật và Mĩ đều phát triển mạnh mẽ và trở
thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới, nhưng chỉ Nhật
Bản được gọi là “thần kỳ”? Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển “thần kỳ” của
Nhật là gì? Trong đó nguyên nhân nào là quan trọng nhất? Tại sao? Liên hệ với
Việt Nam.
Với mục III - Nhật Bản từ năm 1973 đến năm 1991 và mục IV - Nhật Bản
từ năm 1991 đến năm 2000. Tôi mạnh dạn sử dụng lượng nhỏ thời gian để phân
tích nét chính về tình hình kinh tế và chính sách đối ngoại của Nhật trong giai
đoạn này để tập trung thời gian cho mục I và mục II, phân tích về tình hình Nhật
Bản sau chiến tranh, so sánh với nước Mĩ để làm sáng tỏ sự “thần kỳ” của Nhật
Bản.
Ví dụ 2: khi dạy bài 25. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá dưới triều
Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (Lịch sử 10); giáo viên cần xác định đúng trọng tâm
để khai thác sâu kiến thức: Nội dung về tình hình văn hoá - giáo dục, giáo viên
nên đầu tư ít thời gian vì phần này đã được học ở hai giai đoạn thế kỷ X - XV và
thế kỷ XVI - XVIII; đến giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX vẫn là sự kế thừa và phát
triển những thành tựu văn hoá, giáo dục của các giai đoạn trước. Thời gian nên
dành cho mục 1 - Xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước, chính sách ngoại giao
và mục 2 - Tình hình kinh tế và chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn. Ở hai
mục này, giáo viên tập trung khai thác sâu về chính sách ngoại giao “đóng cửa”
đất nước và chính sách kinh tế độc quyền về ngoại thương, hạn chế thương
nghiệp của nhà Nguyễn để học sinh hiểu rằng đó là chính sách sai lầm và gây
phương hại đến vận mệnh quốc gia sau này.
Thứ hai: Dạy học theo chủ đề
Ví dụ 1: với bài 16. Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (Lịch sử
trị. Tôi cho rằng đây là một vấn đề thú vị và quan trọng cần khai thác để học
sinh thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng, của Bác đối với thắng lợi của cách
mạng tháng Tám. Từ bài học của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 rút ra
những bài học lịch sử trong các cuộc đấu tranh của dân tộc cũng như trong giai
đoạn hiện nay.
Tiết 4: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Nguyên nhân thắng lợi, ý
nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.
Khi thiết kế dạy bài 16 (Lịch sử 12) theo chuyên đề, kết hợp với sử dụng
công nghệ thông tin, phương pháp kể chuyện lịch sử, sử dụng hình ảnh và phim
tư liệu sẽ tạo được hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh. Việc dạy học
theo chuyên đề - khai thác sâu vào một đơn vị kiến thức sẽ giúp học sinh dễ tiếp
cận vấn đề, biết và hiểu vấn đề có chiều sâu, từ đó có thể vận dụng vào thực tiễn
một cách hiệu quả.
Ví dụ 2: Theo như phân phối chương trình Lịch sử 12: bài 1. Sự hình
thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949), học 1
tiết và bài 9. Quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ chiến tranh lạnh, học 2 tiết.
Trong quá trình dạy tôi nhận thấy, nội dung của hai bài này thực chất nói về một
6
vấn đề và được thiết kế trong hai bài. Nhưng vì khoảng cách giữa hai bài này
khá xa nhau, khi dạy đến bài 9 giáo viên sẽ phải yêu cầu học sinh nhắc lại kiến
thức của bài 1 để kết nối với nội dung bài 9. Vì vậy tôi cho rằng khi dạy hai bài
này nên thiết kế thành một chuyên đề để đảm bảo sự thông suốt của kiến thức,
thuận lợi cho việc khai thác tư liệu lịch sử của giáo viên, giúp cho học sinh tiếp
cận nội dung theo hệ thống từ đó việc hiểu và nhớ kiến thức cũng dễ dàng hơn.
Tôi thiết kế thành chuyên đề: “Quan hệ quốc tế 1945 - 2000” và dạy trong
3 tiết với những nội dung chính:
1. Hội nghị Ianta (2/45) và những thoả thuận của 3 cường quốc
Để rồi:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
( Nguyễn Đình Thi)
Với bài 22. Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm
lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất 1965 - 1973 (Lịch sử 12),
khi nhấn mạnh vai trò hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước, giáo viên minh hoạ:
Hỡi Miền Bắc đó nặng đôi vai
Gánh cả non sông vượt dặm dài
Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Ví dụ 2: Sử dụng kiến thức Ngữ văn để khai thác kiến thức
Ở bài 18. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỷ X - XV
(Lịch sử 10). Khi dạy về sự phát triển nông nghiệp của giai đoạn này, giáo viên
trích dẫn câu thơ:
Đứng mãi nào hay ngày đã tận
Khắp đồng lúa tốt tựa mây xanh
(Bùi Tông Quán)
Hoặc nhân dân thời Lê có câu:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.
Sau đó giáo viên cho học sinh nhận xét về tình hình kinh tế nông nghiệp
nước ta từ thế kỷ X - XV.
Bài 19. Công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X - XV (Lịch
sử 10), khi tìm hiểu về các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên thế kỷ XIII, giáo viên có thể trích dẫn một đoạn trong “Hịch tướng sĩ”
của Trần Hưng Đạo: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như
cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ hận chưa thể lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
cách mạng chính là một trang sử bằng âm thanh để cho thế hệ hôm nay nhìn lại
quá khứ. Vì vậy, lịch sử dân tộc luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho âm nhạc.
Những ca khúc cách mạng có thể như một kênh thông tin để khai thác kiến thức,
cũng có thể như một công cụ để minh hoạ sự kiện lịch sử. Nhưng hơn nữa tôi
muốn đưa âm nhạc vào giảng dạy để rèn luyện kỹ năng sống, khơi dậy niềm
đam mê, hứng thú của học sinh.
Khi nói về sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, giáo viên cho học sinh
nghe bài hát Đảng cho ta mùa xuân do nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác năm 1960,
nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng.
Hay khi dạy về cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong dòng người tiến
vào nội thành Hà Nội để đấu tranh giành chính quyền có chàng thanh niên 23
tuổi Xuân Oanh. Cảm xúc bất chợt đến trong tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, giai
điệu và ca từ bài hát cứ thế trào ra theo từng bước chân của nhạc sĩ trẻ tuổi. Sáng
tác đến đâu, đoàn người hát theo đến đó và đúng khi đoàn người tiến đến trước
Nhà hát Lớn thì bài hát cũng vừa vặn hoàn thành.
9
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung…
(Mười chín tháng Tám)
Bài hát thậm chí còn chưa được đặt tên đã nhanh chóng theo mọi ngả
đường truyền đi khắp đất nước, trở thành nguồn động viên cho nhân dân khắp
nơi đấu tranh giành chính quyền.
Rồi sau đó, “Chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ, nên thiên sử
vàng”, không khí ngày chiến thắng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954 được nhạc sĩ Đỗ Nhuận thể hiện trong ca khúc “Giải phóng Điện Biên”.
sống biết trân trọng giá trị của lịch sử.
Một nghịch lý hiện nay là trong khi các em rất mơ hồ về lịch sử dân tộc
nhưng lại rất thạo lịch sử Trung Hoa. Trong khi không biết Trần Quốc Tuấn và
Trần Hưng Đạo là một người hay hai người? Triều Lý do ai sáng lập, có vai trò
như thế nào trong lịch sử phong kiến Đại Việt? Nhưng lại rất hiểu Tần Thuỷ
Hoàng, Chu Nguyên Chương đã gây dựng nghiệp lớn ra sao, hay cuộc đời và sự
nghiệp của Tôn Trung Sơn thế nào?... Bởi vì những trang sử Trung Hoa được
trình bày gắn với những con người lịch sử và được thể hiện bằng nhiều hình
thức, qua nhiều con đường phong phú, đa dạng và dễ tiếp nhận.
Giáo sư Nguyễn Thị Côi, trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng: “Lịch
sử là phải có con người, nhưng trong sách giáo khoa từ lớp 9 đến lớp 12 đều
thiếu vắng con người”. Chính vì thực tế này nên khi giảng dạy người giáo viên
cần tìm tòi, sáng tạo, cập nhật thông tin thường xuyên để bổ sung kiến thức kịp
thời cho học sinh.
Thứ nhất: Sử dụng phim tư liệu, kể chuyện nhân vật vào dạy học Lịch
sử
Ví dụ 1: Bài 20. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc 1953 - 1954 (Lịch sử 12). Bài này nói về cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 với đỉnh cao là Hiệp
định Giơnevơ. Và khi nhắc đến Điện Biên Phủ thần thánh là ta sẽ nhớ ngay đến
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khó có thể thống kê hết có bao nhiêu cuốn sách
viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp của các tác giả trong và ngoài nước, chỉ biết
rằng cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho rất
nhiều ngòi bút. Những cuốn Võ Nguyên Giáp (nguyên bản tiếng Pháp là Giap)
của tác giả người Pháp Georges Boudarel, hay cuốn Võ Nguyên Giáp - Chiến
thắng bằng mọi giá của tác giả người Mỹ Cecil B. Currey đã được dịch thành
nhiều thứ tiếng và lưu hành khắp các châu lục. Ở trong nước, cuốn Đại tướng
Võ Nguyên Giáp, tư lệnh của các tư lệnh, chính ủy của các chính ủy do Vũ
Trọng Đại làm chủ biên và viết lời dẫn nhập cũng là một cuốn sách ảnh nổi tiếng
tập hợp 100 sự kiện tiêu biểu nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng.
Thế nhưng, trong bài này, tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp không hề xuất
Tàu Trung Quốc tấn công tàu
kiểm ngư Việt Nam
12
Vì vậy, cập nhật thường xuyên và truyền tải đến học sinh để các em nhận
thức vấn đề và ứng xử một cách đúng đắn là trách nhiệm của các thầy cô giáo,
đặc biệt là giáo viên Lịch sử.
2.4. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
a. Tổ chức đóng vai lịch sử
Đây là một hình thức tổ chức dạy học khiến học sinh rất thích thú. Với
phương pháp này học sinh như được tham gia vào lịch sử, được đặt bản thân vào
hoàn cảnh lịch sử để hiểu và có nhận xét, đánh giá khách quan về lịch sử dân
tộc. Bởi vì: Nói cho tôi nghe, tôi sẽ quên; chỉ cho tôi thấy, tôi sẽ nhớ; cho tôi
tham gia, tôi sẽ hiểu.
Ví dụ: với bài 19. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ
X - XV (Lịch sử 10). Khi dạy về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên ở thế kỷ XIII, giáo viên có thể tổ chức cho 3 học sinh đóng vai các nhân
vật lịch sử: Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo. Cả lớp đóng vai
các quần thần và phụ lão trong cả nước dự hội nghị Diên Hồng.
b. Tổ chức các trò chơi Lịch sử
Thứ nhất: Tổ chức trò chơi ô chữ
Ví dụ: với bài 27. Tổng kết lịch sử Việt Nam từ 1919 đến năm 2000 (Lịch
sử 12). Đây là bài tổng kết toàn bộ lịch sử Việt Nam hiện đại, lượng kiến thức
nhiều, người dạy cũng thấy khó khăn trong việc ôn tập, tổng kết; còn người học
thì thường không thích những bài kiểu này. Vì vậy, kết hợp với việc ôn tập, tôi
thiết kế “trò chơi ô chữ” - Mở các ô chữ bí mật để tìm ra từ khoá cho trò chơi:
1
2
Ví dụ: trong bài 20. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc 1953 - 1954. Phần cuộc Tiến công chiến lược đông xuân 1953 - 1954, giáo
viên chuẩn bị 4 bản đồ trống về hình thái chiến trường đông xuân 1953 - 1954,
bút màu, miếng giấy nhỏ có băng keo hai mặt. Giáo viên chia lớp thành 4 đội thi
với nội dung: Trình bày cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 - 1954 của
quân ta trên bản đồ trống.
Việc tổ chức trò chơi này khiến cho học sinh hiểu tại sao Bộ chính trị quyết
định mở chiến dịch tấn công địch ở khắp chiến trường Đông Dương? Tại sao kế
hoạch Nava thất bại? Hiểu về nghệ thuật quân sự lấy yếu địch mạnh, lấy ít địch
nhiều của ta.
c. Tổ chức hoạt động nhóm
Phương pháp hoạt động nhóm kích thích lòng ham mê học tập của học
sinh, tránh lối học thụ động. Việc tranh luận để bảo vệ quan điểm của nhóm
khiến cho học sinh hiểu vấn đề sâu hơn, nhớ lâu hơn. Từ phương pháp hoạt động
nhóm còn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng như: Kĩ năng hợp tác, kĩ năng
hùng biện, kĩ năng xử lý tình huống.
14
Hoạt động nhóm không nhất thiết là mỗi nhóm một vấn đề bởi nếu tổ chức
theo cách đó, sẽ không thể so sánh mức độ hoạt động giữa các nhóm, không gây
ra tranh luận và các nhóm chỉ tìm hiểu một vấn đề của mình mà bỏ qua phần tìm
hiểu kiến thức của nhóm khác. Để hoạt động nhóm hiệu quả giáo viên nên tung
ra một vấn đề có tính mâu thuẫn để học sinh lựa chọn và bảo vệ quan điểm của
nhóm mình trước sự phản đối của các nhóm khác.
Ví dụ: trong bài 17. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ sau ngày
2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946 (Lịch sử 12). Mục II - Bước đầu xây dựng
chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính.
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm và thảo luận vấn đề: Sau cách mạng tháng
Không hào hứng
Hào hứng, thích thú
SL (HS)
Tỉ lệ (%)
SL (HS)
Tỉ lệ (%)
Lớp 12D
Lớp 12H
4/47
42/47
8,5
89,4
43/47
5/47
91,5
10,6
BẢNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP QUA KIỂM TRA
Điểm
Điểm
Điểm dưới
KẾT QUẢ HỌC TẬP
khá, giỏi
trung bình
trung bình
SL (HS)
Biểu đồ đánh giá ý thức trong tiết học
%
63,8%
29,8%
6,4%
57,5%
31,9%
10,6%
(ĐốiBiểu
với hai
lớp 10D
choqua
kết kiểm
quả tương
đồ đánh
giávà
kết10M
quảcũng
học tập
tra tự).
16
Thứ hai: Các trường phổ thông nên trang bị hệ thống máy móc, thiết bị đầy
đủ phục vụ cho giảng dạy và khai thác kiến thức của giáo viên.
Thứ ba: Mong rằng trong lần biên soạn SGK sắp tới sẽ khắc phục được một
số bất cập hiện nay, đáp ứng được với sự phát triển của xã hội.
Sáng kiến mặc dù đã mang lại hiệu quả thiết thực song cũng không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Xin chân thành cảm ơn!
ĐƠN VỊ
Nga Sơn, ngày 20 tháng 05 năm
2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Tác giả
Nguyễn Tuấn Anh
Vũ Thị Duyên
18
MỤC LỤC
1
2
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Thực trạng của việc dạy và học Lịch sử ở trường THPT Ba Đình
càng lún sâu vào thế bị động, đối phó.
+ Tại sao ta chọn Đông Khê làm điểm tấn công đầu tiên và mở màn cho chiến
dịch?
- Học sinh vận dụng: Nhận xét về nghệ thuật tác chiến của ta trong chiến dịch
Biên giới thu đông 1950.
1.2. Tư tưởng
- Giúp học sinh hiểu được bản chất của chủ nghĩa thực dân nói chung và thực
dân Pháp nói riêng, từ đó có thái độ căm thù chủ nghĩa thực dân, niềm tự hào về
tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ
độc lập cho tổ quốc. Củng cố niềm tin vào Đảng và Hồ Chủ tịch.
1.3. Kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá và rút ra những nhận định lịch
sử
- Kĩ năng đọc lược đồ, kĩ năng khai thác tranh ảnh lịch sử.
1.4. Định hướng năng lực được hình thành
- Năng lực chung:
+ Năng lực tự học: Phát hiện kiến thức cơ bản trong SGK. Khả năng hệ thống
hóa kiến thức, so sánh, liên hệ.
+ Năng lực sáng tạo: Rút ra ý nghĩa của chiến dịch Biên giới thu - đông 1950.
Nhận xét về nghệ thuật tác chiến của ta trong chiến dịch Biên giới thu đông
1950.
+ Năng lực hợp tác: Học sinh hợp tác với bạn bè để giải quyết vấn đề của bản
thân hoặc cả nhóm.
- Năng lực chuyên biệt:
20
+ Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề: Tại sao ta chọn Đông Khê làm điểm
tấn công đầu tiên mở màn cho chiến dịch Biên giới thu đông 1950? Nghệ thuật
định mở chiến dịch Biên giới thu - đông
1950.
Vậy, sau chiến thắng Việt Bắc ta có những
Nội dung cần đạt
IV. Hoàn cảnh lịch sử mới và
chiến dịch biên giới thu đông
1950
1. Hoàn cảnh lịch sử mới của
cuộc kháng chiến
a. Thuận lợi
- 1/10/1949 Cách mạng Trung
Quốc thành công.
- Tháng 1/1950, Trung Quốc,
21
thuận lợi gì?
- Đại diện HS trả lời, những học sinh khác
bổ sung ý kiến
- GV kết luận, làm rõ vấn đề.
Hoạt động 1.2: Khai thác lược đồ, tích hợp
với Địa lý
- GV nêu vấn đề: Về phía địch, tháng
5/1949, được sự giúp đỡ của Mĩ, Pháp đề ra
kế hoạch Rơve.
- GV yêu cầu HS dựa vào “Lược đồ chiến
dịch Biên giới thu - đông 1950” để phân
tích về kế hoạch Rơve và âm mưu của Pháp
âm mưu:
+ Tăng cường hệ thống phòng
ngự đường 4
+ Thiết lập “Hành lang Đông Tây
+ Chuẩn bị kế hoạch tấn công
lên Việt Bắc lần thứ hai để kết
thúc chiến tranh.
Ta xác định thuận lợi vẫn là
cơ bản nên ta quyết tâm mở
chiến dịch Biên giới thu đông
1950.
2. Chiến dịch Biên giới Thu đông năm 1950.
a. Chủ trương của ta: Tháng
6/1950, Đảng và Chính phủ
quyết định mở chiến dịch Biên
giới nhằm:
- Tiêu hao một bộ phận lực lượng
địch
- Khai thông biên giới Việt Trung
- Mở rộng và củng cố căn cứ địa
Việt Bắc
22
Hồ thăm một đơn vị tham gia chiến dịch
Biên giới thu - đông 1950; Bác ngồi quan
sát trận địa, Bác Hồ cùng Đại tướng Võ
Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ
- GV nhận xét, đánh giá và mở rộng vấn đề.
Phương pháp đánh của ta là “đánh điểm,
b. Diễn biến
- Ngày 16/9/1950, ta mở màn
đánh Đông Khê, Thất Khê bị uy
hiếp, thị xã Cao Bằng bị cô lập.
Pháp phải rút khỏi Cao Bằng
theo đường số 4.
- Quân ta chặn đánh nhiều nơi
trên đường 4, buộc Pháp phải rút
khỏi Thất Khê, Na Sầm..., đường
số 4 được giải phóng ngày
22/10/1950.
23
diệt viện” - Lối đánh đã được sử dụng
trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn “vây thành,
diệt viện”. Chiến dịch Biên Giới thu - đông
1950 diễn ra vô cùng ác liệt, căng thẳng, có
nhiều anh hùng đã ngã xuống cho thắng lợi
của chiến dịch, tiêu biểu là tinh thần chiến
đấu dũng cảm của anh La Văn Cầu và Trần
Văn Cừ.
- GV cung cấp hình ảnh và kể chuyện lịch
sử về tấm gương hy sinh của anh La Văn
Cầu và Trần Văn Cừ.
- GV yêu cầu HS trình bày kết quả, ý nghĩa
1950 với chiến dịch Việt Bắc thu - đông
1947.
- Yêu cầu HS điền vào bảng so sánh
Nội dung so Chiến dịch Việt Bắc thu sánh
đông 1947
Hoàn cảnh
Pháp mở cuộc tấn công lên
Việt Bắc
Bắt sống bộ chỉ huy của ta;
Âm mưu của tiêu diệt lực lượng chủ lực của
Pháp
ta, tiến tới kết thúc chiến tranh
“Phải phá tan cuộc hành
Chủ trương quân mùa đông của Pháp”
của ta
Bảo vệ cơ quan đầu não kháng
chiến, quân chủ lực và căn cứ
Việt Bắc
Phương pháp Du kích chiến
đánh
Làm thất bại âm mưu “Đánh
Kết quả - Ý nhanh thắng nhanh” của
nghĩa
Pháp, buộc Pháp phải chuyển
sang “đánh lâu dài” với ta.
Chiến dịch Biên giới thu đông 1950
Ta chủ động tấn công địch
Kế hoạch Rơve
giặc Pháp”. Chỉ thị đó được Đảng đề ra trong
chiến dịch nào?
25