Một số biện pháp quản lí xây dựng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường THPT ba đình - Pdf 35

PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là truyền thụ tri thức các bộ môn khoa học,
hình thành các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó đó để rèn luyện kỹ năng theo
mục tiêu chương trình giáo dục. Công tác giáo dục vừa là một khoa học- khoa
học giáo dục, vừa là một nghệ thuật đòi hỏi nhà sư phạm phải thật linh hoạt,
phải tuân theo các nguyên lý giáo dục, cơ sở khoa học tâm lý và khoa học giáo
dục. Cùng hướng tới hình thành và hoàn thiện nhân cách HS có rất nhiều
phương diện cùng tác động: đó là người thầy, là mục tiêu nhiệm vụ của các nhà
trường, là môi trường giáo dục, các lực lượng trong và ngoài nhà trường, là nội
dung chương trình sách giáo khoa, công tác kiểm tra thi cử... với một hệ thống
các phương pháp và phương tiện tương ứng.. Trong các yếu tố tác động, yếu tố
người thầy đóng vai trò là nhân tố quyết định đến chất lượng nhân cách HS.
Trong nhà trường, nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục là hoạt động cơ bản. Hai
nhiệm vụ này có những đặc điểm với nội dung và cách thức tác động riêng
nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại, hỗ trợ nhau và
không có sự tách biệt. Nếu làm tốt công tác tổ chức lớp học từ khâu xây dựng kế
hoạch, xác định mục tiêu, công tác tổ chức cán bộ, đến sự quan tâm hỗ trợ của
phụ huynh để khuyến khích các phong trào học tập, đảm bảo nền nếp kỷ cương,
liên kết các khâu, các yếu tố trong lớp là nền tảng, là điều kiện để GV làm tốt
công tác giảng dạy. Thông qua dạy chữ để dạy cách làm người. Nói cách khác,
công tác tổ chức lớp học tốt sẽ tạo điều kiện, môi trường đầy đủ để khai thác tối
ưu các nhân tố, tạo động lực để HS vươn lên học tập rèn luyện.
Nhà trường bậc trung học phổ thông có 3 khối lớp là 10,11,12 với một chương
trình học thống nhất cả nước. Mỗi khối được chia thành nhiều lớp và mỗi lớp
được bố trí không quá 45 HS. HS của mỗi lớp được phân chia theo nhiều tiêu
chí, trong đó tiêu chí về trình độ học tập được đặt lên hàng đầu. Mỗi lớp có
nhiều môn học và mỗi môn được bố trí một hoặc một số GV nhất định làm công
tác giảng dạy và một GV làm công tác chủ nhiệm.
Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần thiết phải xây dựng, sắp xếp, chọn lựa
đội ngũ phù hợp, phải coi trọng cả GV giảng dạy và GVCN, tạo sự đồng bộ

dưỡng đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình” với suy tư góp thêm một giải
pháp nhằm góp phần chấn chỉnh nền nếp và nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
HS trong giai đoạn hiện nay.
2/ Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng đội ngũ GVCN lớp, nêu lên vị trí vai trò của
GVCN đối với công tác quản lý và giáo dục HS.
- Đề xuất các biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm tăng cường nâng cao
chất lượng giáo dục.
- Tìm ra được các giải pháp chỉ đạo bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý,
giáo dục HS của đội ngũ GVCN.
3- Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài, tôi lựa chọn nhiều phương pháp khác nhau: thống kê,
phân tích, so sánh, rút ra ưu nhược để lựa chọn nội dung và biện pháp.
4- Giới hạn nghiên cứu.
Đội ngũ GVCN lớp ở trường THPT Ba Đình năm học 2011- 2012.
5- Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc quản lý xây dựng,bồi dưỡng đội ngũ
GVCN nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Chương 2: Thực trạng đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình
Chương 3: Một số biện pháp xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GVCN ở trường
THPT Ba Đình
-2-


PHẦN II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ XÂY DỰNG, BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GVCN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở TRƯỜNG THPT

GV hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn,
cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai.

-3-


- Chất lượng giáo dục: “Chất lượng giáo dục là mục tiêu cần đạt được của các
cơ sở giáo dục. Chất lượng giáo dục được hiểu chung nhất là những lợi ích, giá
trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài”.
Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu về mục tiêu của cá nhân và
yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục...
Luật Giáo dục đã khẳng định “1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
- Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng: Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: yếu tố con người như: đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên, học
sinh, phụ huynh, cấp uỷ chính quyền..; yếu tố nội dung chương trình, sách giáo khoa,
vấn đề đánh giá thi cử; yếu tố cơ sở vật chất trang thiết bị; yếu tố môi trường giáo
dục. Trong đó, yếu tố con người, nhất là đội ngũ người thầy giữ vị trí chủ đạo và
quyết định nhất. Vì vậy, xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đồng đều về chất lượng là yêu cầu đòi hỏi của các nhà trường. Nhiệm vụ của
các nhà quản lý giáo dục là phải xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV giỏi về chuyên
môn, vững về chính trị tư tưởng, thành thục về nghiệp vụ, tâm huyết và trách nhiệm
với nhà trường là nồng cốt; sắp xếp, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ trong giảng dạy
và giáo dục- nhất là công tác chủ nhiệm là điều kiện có tính quyết định.
1.1.2/ Vai trò, vị trí,chức năng và nhiệm vụ , quyền hạn của GVCN

- Ghi nhận xét, xác nhận các vấn đề thuộc về quản lý các hoạt động của lớp .
- Kết thúc thời gian chủ nhiệm lớp phải hoàn thành hồ sơ công tác chủ nhiệm
lớp cho nhà trường (hoặc người chủ nhiệm mới)
- Có thể nói nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm mang một đặc trưng mà GVBM
không thể thay thế được. Vì mỗi GVCN chính là cố vấn của tất cả HS trong lớp. Để
làm tốt nhiệm vụ của mình, GVCN cần huấn luyện, bồi dưỡng khả năng tự quản
cho HS để các em có khả năng tự quản lý và tổ chức mọi hoạt động của lớp
- Để HS đạt được sự chủ động, tích cực, GVCN phải xây dựng một ban cán sự
lớp đầy nhiệt huyết, tự tin và đoàn kết. Chọn HS nằm trong ban cán sự lớp phải
có năng lực học tập, có uy tín với bạn bè và có khả năng điều khiển điều khiển
mọi hoạt động tập thể lớp. Lúc này, GVCN giữ vai trò quan sát, giúp đỡ, uốn
nắn và điều chỉnh các em, không phải là người trực tiếp tổ chức và điều khiển
thay cho HS. GVCNcó kịp thời giúp các em điều chỉnh quá trình hoạt động thì
ban cán sự mới đạt được những kết quả mong muốn. GVCN phải biết khêu gợi
tiềm năng sáng tạo của các em trong việc đề xuất mọi hoạt động phù hợp với
yêu cầu chủ đề của từng tháng, từng học kì và cả năm học. Điều đó không có
nghĩa GVCN khoán trắng, đứng ngoài mọi hoạt động của HS mà sẽ tham gia để
giúp đỡ các em vào những lúc các em gặp khó khăn khi hoạt động. Có như vậy
GVCN mới đủ sức thuyết phục, thực sự chinh phục được HS để giáo dục các em
và như vậy mới có thể làm tốt nhiệm vụ của mình.
Thực tế cho thấy ở các trường tiên tiến bao giờ Hiệu trưởng cũng xây dựng được
đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thạo việc và tận tâm.
c/ Quyền hạn
- Được mời dự họp hoặc là thành viên hội đồng giải quyết các vấn đề về HS,
của lớp mình phụ trách.
- Được liên hệ với GV dạy lớp mình chủ nhiệm để phối hợp giáo dục HS.
- Được liên hệ với tổ trưởng bộ môn, các bộ phận có liên quan, Ban Giám hiệu
trường để phản ánh tình hình giảng dạy của GV, tình hình học tập, rèn luyện của
HS và bảo vệ quyền lợi chính đáng của HS lớp mình phụ trách.
- Được gọi HS cá biệt đến nơi làm việc để giáo dục HS và được mời CMHS

Làm chủ nhiệm là một nghệ thuật, đòi hỏi người GV phải là tấm gương sáng
về đạo đức, mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ
chuyên môn; quan hệ với học trò như là một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa
đáng tin cậy; kiên trì trong giáo dục HS theo kiểu mưa dầm thấm lâu; giáo dục
đạo đức phải trở thành thói quen của mình. Có người thì quan niệm rằng, sau
cha mẹ, thầy cô là người gần gũi với HS hơn ai hết nên hiểu các em và nắm rõ
hoàn cảnh để có định hướng đúng trong dạy dỗ là then chốt của thành công
trong giáo dục.
Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy nghĩ, cư
xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của HS và phụ huynh về GV.
1.2/ Cơ sở pháp lý
Để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà trường
và ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành luật giáo dục, Bộ Giáo dục - Đào tạo
đã ban hành điều lệ trường THPT kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT
ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
-6-


- Luật giáo dục.
Điều 15 chương nói rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo
chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương
tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách
bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện
nhiệm vụ của mình…".
Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu
chuẩn, trong đó có các tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt
trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ" ( Điều 70).
Điều 2 - Chương V nêu nhiệm vụ của nhà giáo: "Rèn luyện đạo đức, học tập
văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên môn
nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".



- Việc chọn lựa giáo viên làm công tác giảng dạy đã khó, xây dựng đội ngũ giáo
viên chủ nhiệm có năng lực, thạo việc, tâm huyết và trách nhiệm đối với nhà trường ,
với phụ huynh và học sinh lại càng khó hơn. Vì vậy, nhiều giáo viên ngại, thậm chí
né tránh làm chủ nhiệm.
- Thực tế cho thấy, trong các nhà trường , cơ chế đảm bảo cho giáo viên chủ nhiệm
và giải quyết các mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, giữa quyền và nghĩa vụ
chưa thật sự thoả đáng. Các nhà trường chỉ chú trọng đến chất lượng chuyên môn,
chất lượng học sinh giỏi, học sinh thi đỗ vào các trường đại học chứ ít chú trọng đến
kỹ năng sống của học sinh sau khi tốt nghiệp đại học và công tác.
- Trên thực tế, nhiệm vụ của GVCN là rất nhiều, GVCN hết giờ nhưng không hết
việc. Ngoài công việc quản lý học sinh, GVCN còn phải chuẩn bị một cách thường
xuyên các hoạt động sinh hoạt 15 phút, bsinh hoạt cuối tuần, chào cờ đầu tuần, các
tiết hoạt động GDNGLL và hướng nghiệp. Trong khi đó, thời lượng trừ cho GVCN
có 4 tiết/ tuần.
Ở các nhà trường, Hiệu trưởng là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước Nhà
nước về quản lý và giáo dục học sinh, nhưng Hiệu trưởng không thể làm tất thẩy mọi
việc mà trước hết phải thông qua đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên, nhất là đội ngũ
GVCN lớp. Chất lượng công tác quản lý đến đâu tuỳ thuộc rất lớn vào chất lượng
đội ngũ GVCN lớp. Vì vậy, xây dựng đội ngũ GVCN lớp đủ về số lượng, đồng bộ
về cơ cấu ( Giữa các tổ chuyên môn, các lứa tuổi, giới tính...)và đồng đều về chất
lượng là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý.
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÂY DỰNG, BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
2.1) Đôi nét về giáo dục Nga Sơn
Nga Sơn là huyện thuần nông ven biển phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá với 27 xã
thị trấn, hơn 15 nghìn dân, trong đó 1/3 theo đạo Thiên chúa. Đây là vùng chiêm

muốn nâng cao chất lượng văn hoá cần thiết phải tăng cường các biện pháp quản lý,
giáo dục nền nếp kỷ cương, tác phong, hình thành ý thức động cơ học tập đúng đắn
cho học sinh. Điều đó đồng nghĩa với việc phải chọn lựa đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm tốt, đáp ứng yêu cầu của phụ huynh và mục tiêu giáo dục của nhà trường .
2.3) Đánh giá đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình
2.3.1. Đánh giá chung.
Đội ngũ sư phạm trường THPT Ba Đình hiện nay có 80 cán bộ giáo viên nhân
viên với tuổi đời bình quân là 40.Trong đó có 40% đạt giáo viên giỏi và CSTĐ
cấp tỉnh, hầu hết là giáo viên giỏi và CSTĐ cơ sở. 100% giáo viên đạt trình độ
đào tạo chuẩn, trong đó có 12% đạt trình độ trên chuẩn, 15% đạt trình độ lý luận
chính trị từ trung cấp trở lên. Qua đánh giá thi đua hàng năm, nhà trường có
50% giáo viên chủ nhiệm được công nhận giáo viên chủ nhiệm tiên tiến và giáo
viên chủ nhiệm giỏi. So với mặt bằng chung trong toàn tỉnh bậc THPT, đội ngũ
sư phạm nhà trường được đánh giá là khá đồng đều về chất lượng, tâm huyết với
sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, luôn đoàn kết nhất trí.
Tuy vậy, trong những năm gần đây, nhất là trong khoảng 5 năm tới, các thầy
cô giáo có kinh nghiệm, đã đạt thành tích trong quản lý, giáo dục và có tinh thần
trách nhiệm cao đến tuổi nghỉ chế độ, thế hệ giáo viên trẻ mặc dù được đào tạo
cơ bản song thiếu kinh nghiệm, hạn chế về phương pháp làm việc khoa học.
Trong khi đó, chất lượng tuyển sinh đầu cấp quá thấp và sự tác động đa chiều
của xã hội đã làm cho một bộ phận học sinh sa sút về động cơ và thái độ học tập.
Do yêu cầu về nguồn nhân lực xã hội và áp lực thi cử, hầu hết thời gian của đại
đa số học sinh tập trung vào học, ôn thi vào các trường đại học, cao đẳng. Nhận
thức về vai trò vị trí của giáo viên chủ nhiệm chưa được khẳng định đúng tầm,
thậm chí có nơi, có lúc xem giáo viên chủ nhiệm có cũng được, không có cũng
-9-


chẳng sao. Vì vậy, chất lượng quản lý, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục đạo đức,
lý tưởng, nếp sống văn hoá ít được quan tâm. Các nhà trường nếu không có sự

tin, là chỗ dựa tinh thần của các em, gần gũi, chia sẻ, động viên, khích lệ HS
phấn đấu vươn lên. Thành công của công tác chủ nhiệm không những biểu hiện
ở nền nếp kỷ cương, sự đoàn kết trong tập thể lớp mà còn thể hiện ở môi trường
tập thể tin cậy, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau. Ở đó, các em được phát triển toàn
diện nhân cách, được khuyến khích các năng lực sáng tạo, được thể hiện và rèn
cái “ tôi” theo hệ giá trị chuẩn mực của cộng đồng.
Ở lứa tuổi HS đang tập làm người lớn, có những biểu hiện không đúng theo
yêu cầu đặt ra- đó cũng là lẽ tự nhiên. Nhiệm vụ của người GVCN phải luôn là
người bạn đồng hành, luôn luôn lắng nghe, thấu hiểu, là chỗ dựa tin cậy với tấm
- 10 -


lòng bao dung, độ lượng, vị tha để các em bọc bạch tâm tư tình cảm, những sắc
thái trái chiều. Trên cơ sở đó, GVCN định hướng cho các em giá trị sống, rèn
luyện kỹ năng và kiểm soát được hành vi.
Thực tế, đội ngũ GVCN của nhà trường đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản.
Trong những chừng mực nhất định, GVCN chưa quán xuyến, kiểm soát hết
được hành vi của các em, chưa có những tác động đúng tâm lý, thậm chí có
những lúc tỏ ra thờ ơ, vô tình. Trước những sai lầm của các em, các thầy cô đề
nghị các hình thức kỷ luật cao như đưa các em ra khỏi lớp coi như hết trách
nhiệm mà không chú ý đến hoàn cảnh riêng tư, đến đặc điểm tâm lý lứa tuổi.
c. Về năng lực chủ nhiệm.
Năng lực chủ nhiệm của GV có thể được thể hiện ở 10 lĩnh vực. Đây là
điểm cốt yếu của người làm công tác quản lý HS. Đó là khả năng nắm vững mục
tiêu, kế hoạch, khoa học tâm lý, khoa học giáo dục và vận dụng vào từng đối
tượng HS cụ thể. Đó là:
1.Kỹ năng tìm hiểu đối tượng HS
2.Kỹ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp
3.Kỹ năng quản lí toàn diện hoạt động của HS trong một lớp
4.Kỹ năng giáo dục toàn diện HS và giáo dục HS cá biệt

h Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển
Để đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng, bên cạnh công tác bồi dưỡng
của nhà trường, mỗi CB,GV không ngừng tự học, tự bồi dưỡng bằng nhiều cách
khác nhau nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực
quản lý nhà trường và tư tưởng tình cảm đúng mực. Số GV giỏi và CSTĐ không
ngừng tăng lên, ý thức thái độ và trách nhiệm đối với công việc ngày càng cao.
Do thiếu thời gian vật chất, áp lực chuyên môn nặng nề, việc tự học, tự bồi
dưỡng của GV không đồng đều giữa các tổ nhóm chuyên môn. Chất lượng công
tác, hồ sơ và các hoạt động nhiều khi mang tính hình thức.
2.4. Một số vấn đề đặt ra trong việc quản lý xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ
GVCN ở trường THPT Ba Đình
Từ thực tiễn công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GVCN ở trường THPT
Ba Đình đặt ra:
- Phải nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí của đội ngũ GVCN trong công tác quản
lý và giáo dục HS. Nhà trường là cơ thể thống nhất hữu cơ của các yếu tố. Lớp
học là mắt xích quan trọng và GVCN là “thủ trưởng” của mắt xích ấy. Chất
lượng giáo dục không thể chỉ chú trọng đến việc thi đỗ tốt nghiệp, đại học mà
phải là sự phát triển toàn diện về nhân cách. Giáo dục không cho phép có phế
phẩm trong sản phẩm đào tạo của mình.
- Nhiệm vụ của công tác quản lý ở trường THPT Ba Đình hiện nay là phải
chú trọng đến tất cả các khâu, các yếu tố của quá trình giáo dục, nhưng trong đó
nền tảng phải chú trọng đến đội ngũ GVCN.
- Yêu cầu của quá trình xây dựng , bồi dưỡng phải thường xuyên, liên tục,
đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Đảm bảo đội ngũ chủ nhiệm vừa phải tinh
thông bộ môn khoa học mình giảng dạy, vừa phải nghệ thuật trong quản lý, lại
vừa phải tâm huyết, trách nhiệm trước HS.

- 12 -



nhóm chuyên môn, trong đó có 45 đảng viên, có 30% trên 50 tuổi và 30% dưới 35
tuổi; có 28 nữ và 22 nam.
3.2) Lựa chọn đội ngũ GVCN vào đầu mỗi năm học.
- Rà soát đội ngũ hiện có trong năm học, dự kiến lao động cho mỗi thành viên:
Đầu mỗi năm học, trên cơ sở tình hình thực tế, Ban giám Hiệu, các tổ nhóm chuyên
môn căn cứ quy hoạch để lựa chọn đội ngũ GVCN. Việc lựa chọn đảm bảo tính khách
quan, phù hợp năng lực sở trường, điều kiện và xu thế phát triển của mỗi người, tránh
việc lắp ghép chủ nhiệm cho đủ số lượng. Trên cơ sở đó, Hiệu trưởng ra Quyết định
phân công, giao nhiệm vụ cho GVCN, thành lập khối chủ nhiệm và bổ nhiệm khối
- 13 -


trưởng, khối phó. Đây là cơ sở pháp lý trong công tác quản lý để các tổ nhóm, các
khối, các tổ chức chủ động trong triển khai và phối hợp thực hiện nhiệm vụ.
- Tổ chức hội nghị công tác chủ nhiệm đầu năm :
Sau khi ổn định năm học, tổ chức hội nghị khối chủ nhiệm, rút kinh nghiệm công
tác năm trước, triển khai nhiệm vụ năm học mới, triển khai các SKKN được xếp loại
cấp tỉnh về công tác chủ nhiệm, triển khai các văn bản quy định. Hội nghị bàn bạc,
thống nhất kế hoạch, biện pháp quản lý, giáo dục HS, thống nhất các tiêu chí đánh
giá thi đua, xếp loại HS và các lớp, xếp loại GVCN, phát động các phong trào thi đua
và ký cam kết thi đua giữa các khối và các lớp.
Căn cứ kế hoạch chung, GVCN xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cho lớp và kế hoạch 3
năm học đối với khối 10, điều chỉnh kế hoạch đối với khối 11,12 và hoàn thiện các hồ sơ,
kiện toàn công tác tổ chức lớp học, kiện toàn Ban đại diện cha mẹ HS của lớp, xây dựng
nội quy. Sau khai giảng năm học, Ban giám hiệu kiểm tra và duyệt hồ sơ của các lớp.
3.3) Bồi dưỡng đội ngũ
3 3 3 Nội dung bồi dưỡng
* Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức và ý thức trách nhiệm
GVCN như người mẹ hiền thứ 2 của HS, để lại dấu ấn sâu sắc trong nhân cách của
các em. Vì vậy, để giáo dục toàn diện các em, mỗi thầy cô giáo cũng phải toàn diện,

hướng tới đạt những mục tiêu nhất định nên còn có kế hoạch mục tiêu hoặc kế
hoạch chuyên môn của lớp chủ nhiệm.
Trong quá trình lập kế hoạch, các câu hỏi cơ bản sau sẽ được trả lời:Lớp chúng
ta đang ở đâu?Lớp chúng ta sẽ đi tới đâu?Lớp chúng ta sẽ làm gì? làm như thế
nào? bằng phương tiện nào để tới được đó?Làm thế nào để biết lớp chúng ta đi
đúng hướng và tới đích?
Kế hoạch công tác tháng cần xác định:Nguồn thông tin lập kế hoạch tháng bao
gồm: Các công việc trong kế hoạch năm; Các công việc tháng trước còn tồn lại;
Các công việc mới phát sinh do trường giao thêm cho lớp, cho Chi đoàn.
Nội dung kế hoạch tháng: Các công việc quan trọng trong tháng; Phần các công
việc cụ thể gồm: nội dung công việc, thời gian thực hiện, người thực hiện; Các
công việc chưa xác định được lịch cụ thể (nhưng phải làm trong tháng hoặc làm
trong tháng sau)
Kế hoạch công tác tuần cần xác định: Nguồn thông tin để lập kế hoạch tuần: Các
công việc trong kế hoạch tháng; Các công việc trong tuần trước chưa thực hiện
xong; Các công việc mới phát sinh do Trường giao thêm cho Lớp, cho Chi đoàn.
Nội dung kế hoạch tuần: Các công việc quan trọng trong tuần Phần các công
việc cụ thể gồm: nội dung công việc, thời gian thực hiện, người thực hiện, ghi
chú (yêu cầu kết quả); Các công việc chưa xác định được lịch (nhưng phải làm
trong tuần hoặc làm trong tuần sau).
+ Thiết lập ban cán bộ lớp: Ban cán bộ lớp là xương sống của lớp. Ban cán
bộ lớp gồm lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, các tổ phó, cán sự bộ môn, BCH chi
đoàn, chi hội. Nhiệm vụ của GVCN là nghiên cứu kỹ HS trong lớp và định hướng
cho lớp bầu dân chủ, công khai cán bộ của mình trong từng học kỳ và năm học.
GVCN phải thường xuyên bồi dưỡng năng lực cán bộ cho đội ngũ quản lý của lớp
để chuyển từ vai trò quản lý sang tự quản lý, xây dựng phong trào tự quản tốt. Ở cấp
độ chung, nhà trường tổ chức gặp gỡ, tập huấn các kỹ năng cơ bản cho Lớp trưởng
và Bí thư chi đoàn của các lớp.
+ Bầu Ban đại diện CMHS: Cũng như Ban cán sự lớp, Ban đại diện CMHS
là người đại diện quyền lợi và trách nhiệm của phụ huynh của lớp, trực tiếp làm việc

3.2. Phương pháp vận động quần chúng: Xây dựng tập thể vững mạnh thực
chất là vận động, giáo dục đưa HS vào hoạt động có nề nếp, kỷ luật chặt chẽ, với
các hoạt động phong phú…..Vận động gia đình và các đoàn thể xã hội cùng
tham gia, thống nhất mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục .
3.3. Phương pháp tổ chức sinh hoạt tập thể:
- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp: Mỗi lứa
tuổi HS có những yêu cầu riêng, hứng thú riêng đối với hoạt động. Vì vậy, sự thay
đổi nội dung và các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp cho phù hợp với lứa tuổi
HS khác nhau là đòi hỏi tất yếu đối với nhà trường. Sức hấp dẫn HS, sự lôi cuốn
các em tham gia tích cực vào hoạt động phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi nội dung
và các hình thức tổ chức. Do đó, nội dung tiết sinh hoạt tập thể hàng tuần phải cụ
thể, bổ ích, phải gắn với nhu cầu và hứng thú của HS và chúng phải phù hợp với
kinh nghiệm và trình độ hiểu biết của họ, huy động đến mức cao nhất trí tuệ và tình
cảm tập thể của HS….
- Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn
của GV nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS: Sự tham gia của HS vào các hoạt
động, công việc của lớp, của trường vừa là nhu cầu, vừa là quyền của mỗi HS. Việc
tham gia của tất cả HS vào giờ sinh hoạt lớp sẽ tạo ra môi trường chung để HS
cùng trải nghiệm những xúc cảm tích cực, tăng cường giao lưu giữa các em, tạo ra
môi trường lớp học mang bầu không khí tin tưởng, thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp
- 16 -


đỡ và lắng nghe ý kiến của nhau. Từ đó tình cảm gắn bó, chia sẻ giữa các em được
hình thành và củng cố.
- Tăng cường những nội dung sinh hoạt có liên quan đến các công việc
chung của lớp, phù hợp với nhu cầu và sở thích của HS: Mỗi lớp, mỗi tập thể đều
có những công việc chung cần giải quyết, ví dụ như xây dựng các qui định riêng
của lớp, xác định chỉ tiêu thi đua, xử lí các tình huống nảy sinh trong tập thể
lớp…., vì thế cần để cho HS tự thảo luận, trao đổi và quyết định. Mục đích là

quản lý. Cách thức đánh giá cho từng HS và cho các lớp đã được hội nghị GVCN thống
nhất đầu năm học. Máy tính tự động tính ra điểm của HS hàng tuần, tổng hợp thành
từng tháng và học kỳ, từ đó quy ra mức đánh giá hạnh kiểm. Từ kết quả của HS, máy
tính tự động cập nhật kết quả của từng lớp có xếp loại trong từng tuần và tổng hợp trong
- 17 -


học kỳ và năm học. Đây là số liệu tương đối chính xác trợ giúp cho GVCN và khối chủ
nhiệm đánh giá, xếp loại HS và các lớp.
- Kết quả phấn đấu của các lớp được đưa vào đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm
vụ của GVCN
3.5) Cơ chế phối hợp giữa GVCN với GVBM và các tổ chức
- Nhà trường giao nhiệm vụ cho GVCN đấu mối với GVBM và các tổ chức để tổ
chức thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, các hoạt động giáo dục NGLL.
GVCN chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về toàn bộ hoạt động của tập thể HS .
- GVCN thông qua GVBM và các tổ chức để đánh giá, xếp loại HS trong từng
tháng, học kỳ và năm học.
3.6) Hiệu quả của đề tài
- Công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GVCN lớp áp dụng trong năm học
2011- 2012 và đã đem lại hiệu quả thiết thực. Nhận thức quan điểm và năng lực
nghiệp vụ của đội ngũ đã được nâng lên một bước. Chất lượng công tác quản lý và
giáo dục HS đang dần đi vào chất lượng. Nề nếp học đường ngày càng thể hiện rõ nét.
- So sánh chất lượng đội ngũ GVCN năm học 2010- 2011 với năm học 20112012.
Kết quả do khối chủ nhiệm đề xuất và hội đồng thi đua khen thưởng nhà trường
đánh giá, xếp loại:
TT

1
2



2010- 2011 36
5
13.9 15 41.7 16 44.4
2011- 2012 36
9
25.0 19 52.8 7
22.2
- Hiệu quả công tác chủ nhiệm năm học 2011 2012 so với năm học 2010- 2011:

TT

1
2

Năm học

2010- 2011
2011- 2012

Số lớp Lớp xuất sắc

36
36

Lớp tiên
tiến

Lớp chưa đạt
tiên tiến

119

1072

391

138

1098

345

Yếu

53
17

Xếp loại hạnh kiểm
Kém

Tốt

Khá

1466 147
1458

113

TB

thành các yếu tố ấy. Không thể xem nhẹ yếu tố nào, lực lượng nào. Cơ sở giáo
dục nào làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, quan tâm đến đội ngũ
GVCN thì đó sẽ là nền tảng tạo nên chất lượng.
- Có chiến lược trong quy hoạch, chọn lựa, bồi dưỡng, bố trí phù hợp, vừa đảm
bảo yêu cầu trước mắt, vừa đảm bảo mục đích lâu dài. Việc bồi dưỡng phải
được tiến hành thường xuyên, kiên trì, bài bản, dân chủ, khoa học, kế thừa. Đó
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong nhà trường. Hiệu quả của công tác
bồi dưỡng là xây dựng được đội ngũ GVCN vừa phải tận tâm, vừa phải thạo
việc và hiệu quả cuối cùng là sự trưởng thành của thế hệ HS. Nói cách khác,
phải xây dựng đội ngũ GVCN có tâm, đủ tầm và được tín.
3/ Kiến nghị
3 1 Đối với nhà trường: Cần quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ GVCN
lớp, tăng cường vai trò quyền hạn và chế độ trách nhiệm đối với khối trưởng chủ
nhiệm. Trong đó, việc chuyển giao kinh nghiệm trong chủ nhiệm là cực kỳ cần thiết
và có tác dụng rất lớn trong công tác bồi dưỡng đội ngũ làm công tác chủ nhiệm.
Tăng cường vai trò hỗ trợ và gắn kết mối quan hệ giữa GVCN và Ban đại diện
CMHS của lớp là một trong những giải pháp phối hợp có hiệu quả nhất.

- 19 -


3 2 Đối với Bộ giáo dục và các trường Đại học
- Bộ giáo dục chỉ đạo việc xây dựng chương trình bộ môn tâm lý học, giáo dục
học và thực nghiệm giáo dục phù hợp điều kiện xã hội hiện nay để làm tư liệu giảng
dạy cho sinh viên các trường sư phạm.
-Các trường Đại học sư phạm trong quá trình đào tạo cần tổ chức các hoạt động
thực nghiệm giáo dục cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục để sinh viên làm quen với
môi trường. Nhất là phải hướng dẫn sinh viên phương pháp quản lý và giáo dục HS.
Có thể biên soạn các tình huống sư phạm và có thể dàn dựng trên băng đĩa làm tài
liệu để GV các trường tham khảo.

3.3) Bồi dưỡng đội ngũ
3.4) Công tác kiểm tra, đánh giá và thi đua
3.5) Cơ chế phối hợp giữa GVCN với GVBM và các tổ chức
3.6) Hiệu quả của đề tài

1
2
2
2
2
3
3
6
7

8
8
9
12

13
13
14
17
18
18

PHẦN III- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1/ Kết luận
2) Bài học kinh nghiệm


CB

Cán bộ

4

HS

Học sinh

5

GV

Giáo viên

6

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

7

GVBM

Giáo viên bộ môn

8


TB

trung bình

14

BGH

Ban Giám hiệu

- 22 -


tt
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Giáo dục 2005 đã được Quốc hội khoá X kỳ họp thứ thông qua
ngày 14/6/2005 và được Quốc hội khoá X /200 sửa đổi bổ sung một số
điều.

2

Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông
có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT
ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

3


9

Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011 và sơ kết học kỳ năm học 20112012 của trường THPT Ba Đình

- 23 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status