BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ XUYÊN
BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Công Tài
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS. TS
Hà Công Tài - người thầy đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc
biệt là các thầy cô Phòng sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin gửi tới người thân – gia đình, bè bạn – những người đã luôn động
viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn sâu sắc.
Do kiều kiện thời gian có hạn luận văn không tránh khỏi những khiếm
khuyết nhất định. Kính mong các thầy giáo, cô giáo và bạn đọc lượng thứ và
góp ý.
Hà Nội, ngày….. tháng …. năm……
Người thực hiện
1.1.2.1. Khái lược về biểu tượng thơ ca .............................................. 14
1.1.2.2. Đặc điểm của biểu tượng thơ ca ............................................ 14
1.2. Hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ. .............................................. 15
1.2.1. Giai đoạn 1: 1963 – 1970 ............................................................. 16
1.2.2. Gai đoạn 2: 1971 – 1973 .............................................................. 20
1.2.3. Gai đoạn 3: 1974 – 1988 .............................................................. 23
CHƯƠNG 2. BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI BẦU TRỜI
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ .................................................................. 26
2.1. Biểu tượng mưa .................................................................................... 26
2.2. Biểu tượng gió ...................................................................................... 32
2.3. Biểu tượng mây .................................................................................... 38
2.4. Biểu tượng bầu trời, chân trời, mặt trời. .............................................. 40
2.5. Biểu tượng trăng sao ............................................................................ 43
2.6. Biểu tượng nắng ................................................................................... 46
2.7. Biểu tượng ban mai (bình minh, buổi sáng), mùa xuân ....................... 49
2.8. Biểu tượng trưa hè, mùa hạ .................................................................. 51
2.9. Biểu tượng chiều (hoàng hôn), mùa thu............................................... 53
2.10. Biểu tượng đêm, mùa đông ................................................................ 54
CHƯƠNG 3. BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI CẢNH VẬT
MẶT ĐẤT TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ ............................................... 57
3.1. Biểu tượng sông, suối, biển .................................................................. 57
3.2. Biểu tượng đất, bùn, bùn đất ................................................................ 61
3.3. Biểu tượng đồi núi, rừng ...................................................................... 64
3.4. Biểu tượng làn sương ........................................................................... 67
3.5. Biểu tượng lửa ...................................................................................... 69
3.6 Biểu tượng hoa, quả .............................................................................. 74
3.7. Biểu tượng cây, cỏ ............................................................................... 79
3.8. Biểu tượng loài vật ............................................................................... 84
đốt thiêu là bàn tay thắp lửa.
Có lúc thơ ông lại giống như một cánh rừng nguyên sinh rậm rịt đầy bí ẩn,
cần được khai phá. Có lúc lại giống những mỏ quặng ẩn mình dưới lòng đất.
2
1.2. Chọn đề tài “Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ”,
chính là qua những tầng vỉa ngôn từ giàu hình tượng để thấy được những khát
khao, trăn trở và cả những hoài nghi đầy nhân bản của một thi nhân luôn nặng
lòng với đời, với nhân dân, đất nước. Đồng thời chúng tôi muốn làm sáng rõ
hơn một tài năng, một bản lĩnh nghệ thuật cá tính mang tên Lưu Quang Vũ.
Bởi thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ chiếm một vị trí quan trọng. Việc đi
tìm, giải mã các tín hiệu nghệ thuật và đặc biệt là những biểu tượng thiên
nhiên là một con đường, một cách thức để tìm hiểu sự nghiệp thơ ca phong
phú, đa dạng và hết sức độc đáo của nhà thơ
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Thời gian qua, đặc biệt là sau sự ra đi đột ngột của Lưu Quang Vũ,
và Xuân Quỳnh, có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết rất sâu sắc
về Lưu Quang Vũ. Mỗi bài viết, mỗi công trình tìm hiểu những khía cạnh,
những biểu hiện khác nhau trong sự nghiệp của Lưu Quang Vũ. Nhưng có
một điểm chung thống nhất đều khẳng định Lưu Quang Vũ là một đỉnh cao
nghệ thuật “không thể thay thế”.
Về cuộc đời Lưu Quang Vũ có nhiều bài viết đáng chú ý như: Lưu
Quang Vũ một tài năng một đời người (Ngô Thảo, Vũ Hà), Lưu Quang Vũ
cuộc đời năm tháng (Vũ Thị Khánh), Tình yêu đau xót và hi vọng (Lưu
Khánh Thơ)…Đó là những tư liệu quý giá để chúng ta có cái nhìn khá toàn
diện về cuộc đời cũng như con người Lưu Quang Vũ.
Về sự nghiệp sáng tác và những đóng góp của ông, có rất nhiều công
trình nghiên cứu, những bài viết có giá trị.
một tâm tình sâu sắc, tự nhiên không dứt ra được, nó như có tự bao giờ và
được đem san sẻ cho các bài thơ (14).
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương lại nhận thấy: Đọc thơ anh
có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người và làm thơ để sống với riêng
mình, Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất trong tâm hồn anh
4
(28,4). Vũ Quần Phương còn nhận thấy Lưu Quang Vũ có giọng thơ đắm
đuối: Đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi
cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh (28,4).
Lưu Khánh Thơ trong Tình yêu - đau xót và hi vọng cũng khẳng định:
Những năm tháng ngắn ngủi của đời mình, anh đã sống, đã yêu, đã làm việc
hối hả như một bó đuốc rừng rực cháy (42, tr.90). Theo Lưu Khánh Thơ “Lưu
Quang Vũ là một người đàn ông may mắn. Trong cuộc đời long đong, vất vả
của anh, hầu như ở giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn. Cho dù cái
tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời (42, tr.90).
Việt Nga khi bàn Vài nét về thơ tình Lưu Quang Vũ nhận thấy mọi sắc
màu dáng vẻ của tình yêu có cả trong thơ tình Lưu Quang Vũ từ hạnh phúc
đến đau khổ, từ ngọt ngào đến đắng cay, từ tin yêu đến hoài nghi thất vọng.
Nhưng nổi bật nhất là những dằn vặt ngổn ngang, những ngập ngừng, e ngại
của tình yêu (20).
Anh Ngọc nhận thấy ở Lưu Quang Vũ: Ấn tượng đầu tiên mà thơ Vũ
gây cho ta là một dòng cảm xúc dạt dào, tuôn trào dường như không bờ bến,
bất chấp mọi khuôn khổ của thơ ca thường tình. Hình như Vũ đã vượt qua
những phép tắc kỹ thuật, chẳng mấy quan tâm đến những cấu tứ, bố cục,
những ý tại ngôn ngoại vv... và vv và để mặc cho trái tim mình tự do ca hát
(42, tr.148).
Lê Minh Khuê trong Lưu Quang Vũ - Nhà thơ nhận xét thơ Lưu Quang
đề tài của chúng tôi. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện
về biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ.
6
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tuyển thơ Lưu Quang Vũ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (Nxb
Hội nhà văn - 2010) và các tập thơ Lưu Quang Vũ.
Thơ của một số nhà thơ cùng thời với Lưu Quang Vũ như Bằng Việt,
Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật… để so sánh và làm rõ các luận điểm.
4. Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ góp
phần làm sáng tỏ phong cách thơ Lưu Quang Vũ, thấy được diện mạo tâm
hồn cũng như tài năng của ông và những đóng góp to lớn của ông trong nền
văn học Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó
chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học: Luận văn nhìn các yếu tố
của tác phẩm trong sự thống nhất biện chứng của chỉnh thể nghệ thuật. Trong
đó tập trung nghiên cứu yếu tố hình thức mang tính nội dung, đặc biệt chú ý
vai trò và ý nghĩa của biểu tượng thơ ca trong các kết cấu thơ ca của Lưu
Quang Vũ.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Nhìn các yếu tố của tác phẩm
không phải là sự tồn tại rời rạc, ngẫu nhiên, mà trong một hệ thống, có sự
thống nhất thể hiện nội dung trên nhiều cấp độ, nhiều bình diện.Từ đó có thể
BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
THƠ LƯU QUANG VŨ
1.1. Biểu tượng
1.1.1. Quan niệm về biểu tượng và biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau
1.1.1.1. Quan niệm về biểu tượng
Biểu tượng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Jean
Chevalier khẳng định: Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn
còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta (4, tr.XIV).
Jean Chevalier cũng viết: Dẫu ta có nhận biết ra hay không, đêm ngày,
trong hành ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi
chúng ta đều sử dụng các biểu tượng. Chúng ta khoác lên các ước muốn một
diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào đó, chúng nhào nặn một lối ứng
xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại (4, tr.XIII).
Vì biểu tượng có vai trò quan trọng như vậy nên việc tìm hiểu cách
thức hình thành, lối xếp đặt, cách giải thích các biểu tượng nhiều ngành khoa
học quan tâm như: Khoa lịch sử các nên văn minh và các tôn giáo, khoa ngôn
ngữ học, khoa văn hóa nhân chủng học, khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm
lý học, khoa y học...
Vậy biểu tượng là gì? Biểu tượng trong tiếng Pháp là Symbole, tiếng
Anh là Symbol. Nói một cách hình ảnh như Jean Chevalier: Nó giống như
mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không năm
bắt được... Biểu tượng bộc lộ rồi lủi trốn, càng tự phơi bày sáng rõ nó càng
tự giấu mình đi (4, tr.XIV). Nói như Georges Gurvitch: Các biểu tượng tiết lộ
mà che giấu và che giấu mà tiết lộ (4, tr.XIV). Vì thế thật khó để đưa ra một
định nghĩa hoàn chỉnh về biểu tượng. Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các
khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong một ý niệm.
9
pháp biểu trưng hóa của hoạt động ý thức, con người đã phản ánh sự vật
khách quan vào trí óc của mình, cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin. Từ đó
tạo nên một thế giới bên trong – thế giới ý niệm. Đó là thế giới vô hình, vô
hạn, vô khả tri. Nó vừa phản ánh thực tại, vừa từ thực tại mà tưởng tượng, suy
luận, đem lại cho con người một khả năng vô tận, khả năng trí tuệ, khả năng
tâm linh để con người có thể tư duy, thông báo với nhau. Như vậy bằng cách
mô phỏng tự nhiên, con người đã sáng tạo một thế giới biểu tượng đa dạng,
phong phú và vô cùng sống động.
Biểu tượng không chỉ tồn tại trong một nghành khoa học riêng mà còn
là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, phân tâm
học, mỹ học, thần học, ngôn ngữ học, văn học... Dựa trên phạm vi và mục
đích nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung tìm hiểu biểu tượng thiên nhiên
trong thơ Lưu Quang Vũ.
1.1.1.2. Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau
Từ góc độ triết học, biểu tượng là: hình ảnh cảm tính, cụ thể về những
hiện tượng của thế giới bên ngoài. Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác
tạo nên nhận thức cảm tính, hay theo thuật ngữ của Paplop, tạo nên thệ thống
tín hiệu thứ nhất của hiện thực. Biểu tượng khác tri giác ở hai điểm: tri giác
phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những
trường hợp cụ thể nhất định; biểu tượng là sự phản ánh khái quát và trừu
tượng hơn.
Trên cơ sở cảm giác, tri giác, trong đầu óc con người xuất hiện một
hình thức cao hơn, đó là biểu tượng, bởi bộ não con người có khả năng tái
sinh trong ý thức hình ảnh của đối tượng đã được tri giác phản ánh trước đây.
Biểu tượng là hình ảnh được tái hiện, được hình dung lại với những thuộc tính
nổi bật của sự vật. Những biểu tượng này nhìn chung còn ở cấp độ thấp, giản
đơn, do trực quan hình ảnh đem lại. Còn một loại biểu tượng cao hơn hẳn đó
12
Hàng loạt biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng tín ngưỡng, thể hiện ở
phong tục, náu mình trong thần tích, ký thác ở tâm linh, ẩn tàng trong văn hóa
dân gian, trong nghệ thuật truyền thống, lý giải được nó sẽ mở ra những giá
trị khoa học và nhân văn vô cùng to lớn. Đó là một thế giới có sức hấp dẫn
đặc biệt do nó quy tụ nhiều tính chất dường như đối lập nhau, vừa hiện diện,
vừa tiềm ẩn, vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa rõ ràng, vừa mông lung.
Từ góc độ văn học. Các tác giả “Từ điển thuật ngữ văn học” đã có
những kiến giải về biểu tượng.
Biểu tượng được xây dựng trên hai cấp độ: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng
của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức
chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng
truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đó vừa
thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay triết lý về con người và cuộc đời.
Biểu tượng văn học có những đặc điểm, ý nghĩa khác với những khái
niệm có nội hàm gần gũi như ẩn dụ và hình tượng.
Thứ nhất, cần phân biệt giữa biểu tượng và ẩn dụ. (Tất nhiên sự phân
biệt chỉ mang tính tương đối). Trong văn học, nói đến biểu tượng người ta chú
ý đến hai dấu hiệu nhận biết: biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực
khách quan; biểu tượng không chỉ mang nghĩa biểu vật mà còn nói đến hiện
tượng chuyển nghĩa (nghĩa bóng và nghĩa biểu cảm).
Như vậy, nếu theo hai dấu hiệu nhận biết trên thì biểu tượng rất giống
với ẩn dụ. Do vậy muốn phân biệt giữa ẩn dụ và biểu tượng cần phải xác định
rõ đối tượng. Theo nhà nghiên cứu văn học Nga V.I Eremina: Ẩn dụ thơ ca
được sinh ra nhất thời và mất đi khá nhanh. Biểu tượng được hình thành trong
quá trình dài và sau đó sống hàng trăm năm. Ẩn dụ là yếu tố biến đổi, còn
biểu tượng thì không đổi, bền vững. Ẩn dụ là phạm trù thẩm mỹ và phần lớn
14
đang tồn tại khách quan thì biểu tượng giúp ta khám phá ra điều ước muốn,
nỗi sợ hãi, niềm tham vọng... là những cái khiến cho cuộc đời đượm một ý
nghĩa bí ẩn (Jean Chevalier) chính đặc tính này khiến cho một hình tượng văn
học có khi diễn tả được nhiều biểu tượng.
Trên đây là những so sánh để chúng ta phân biệt giữa biểu tượng và ẩn
dụ, giữa biểu tượng và hình tượng. Giữa chúng có những khác biệt cơ bản,
song những thuật ngữ trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, không thể tách
rời. Vì vậy khi nhắc đến biểu tượng người ta thường nhắc đến ẩn dụ, hình
tượng và hình ảnh.
1.1.2. Biểu tượng thơ ca
1.1.2.1. Khái lược về biểu tượng thơ ca
Biểu tượng thơ ca là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây dựng bằng
ngôn từ nghệ thuật. Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm,
nhận thức của nhà văn về đời sống xã hội và con người. Nhưng thơ ca (loại
trữ tình) có cách thể hiện riêng không hoàn toàn giống cách thể hiện trong tự
sự hay kịch. Nếu tác phẩm tự sự, nhà văn thường phản ánh đời sống qua
những mâu thuẫn xung đột, thì trong thơ ca các thi nhân gửi gắm tình cảm,
cảm xúc qua những hình ảnh mang tính biểu tượng. Vì vậy biểu tượng trong
thơ ca xuất hiện rất nhiều. Việc giải mã các biểu tượng trong thơ ca là một
thách đố đầy khó khăn nhưng hết sức thú vị, giúp ta vén một bức màn nhung
bí ẩn trong thế giới tâm hồn nhà thơ.
1.1.2.2. Đặc điểm của biểu tượng thơ ca
Ngôn ngữ thơ mang tính cô đọng, hàm súc, đa nghĩa. Để đáp ứng nhu
cầu này, việc sử dụng các biểu tượng là điều tất yếu. Thông qua biểu tượng
người đọc khám phá ra những tầng ý nghĩa khác nhau qua đó thấy được tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc của các nhà thơ.
lu mờ, che lấp đi tư cách của một nhà thơ giàu cảm xúc. Bằng sự nhạy cảm,
16
tinh tế, hơn hết là sự hiểu nghề đồng thời là một tri kỷ trong sáng tạo nghệ
thuật. Vũ Quần Phương đã nhận thấy: Đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi
thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ
thắng được thời gian, Đọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi
người, và làm thơ để sống mới riêng mình (28).
Đúng vậy! Thơ Lưu Quang Vũ thể hiện một cái tôi đầy nhân bản.
Những trang thơ ông luôn ngồn ngộn những suy tư, trăn trở, dằn vặt và cả
những khát khao đến cháy lòng mong cho nhân dân, đất nước được yên ấm,
hạnh phúc.
Cũng như hầu hết các nhà thơ khác, hành trình sáng tạo thơ của Lưu
Quang Vũ chia thành các giai đoạn khác nhau thể hiện những nhận thức, đổi
thay và sự trưởng thành trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Với hơn 20 năm
cầm bút, thời gian không dài nhưng Lưu Quang Vũ đã kịp để lại cho chúng ta
sự nghiệp văn học đáng nể. Ông viết cả ba lĩnh vực thơ, truyện và kịch nhưng
thành công hơn cả là thơ và kịch.
Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ đề
cập đến hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ.
Đời thơ Lưu Quang Vũ được chia thành ba giai đoạn.
1.2.1. Giai đoạn 1: 1963 – 1970
Đây là chặng đường đầu tiên trong hành trình sáng tác thơ Lưu Quang
Vũ. Đặc trưng của giai đoạn này là một cái tôi nhiều mơ mộng, cảm xúc tươi
trong, giàu tin yêu. Lưu Quang Vũ có cái tươi tắn chung của những người làm
thơ hồi ấy. Cũng một cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan quay về phía nào cũng
thấy sự hài hòa ưu ái (Vũ Quần Phương) (28). Tình cảm của nhà thơ lúc này
chủ yếu hướng về quê hương đất nước, về mẹ, về em... như một điểm tựa
sinh, gian khổ mà mẹ phải trải qua. Càng thương yêu mẹ bao nhiêu, càng căm
thù giặc bấy nhiêu. Tình cảm ấy được gửi gắm qua những câu thơ thật xúc
động:
18
Đêm nay con nằm rừng xa gió lạnh
Mẹ nghỉ chưa hay đã thức rồi
Suốt một đời chưa có lúc nghỉ ngơi
Nghĩ thương mẹ, giận quân thù quá đỗi.
(Gửi mẹ)
Bên cạnh hình ảnh quê hương, đất nước, hình ảnh người mẹ, không thể
không nói tới hình bóng của người con gái thường xuất hiện trong thơ Lưu
Quang Vũ. Tình yêu là điều huyền diệu nhất trong những huyền diệu, là nỗi
khát khao muôn đời của con người. Tuổi nào cũng cần tình yêu, nhưng có lẽ
tình yêu của tuổi trẻ rực rỡ nhất, tươi mới nhất và nồng nhiệt nhất. Tình yêu
đầu đời có cái say mê của tuổi trẻ, có cái vụng dại của buổi ban đầu và có sự
trong trẻo, hồn nhiên của tuổi mới lớn... tất cả những xúc cảm ấy được Lưu
Quang Vũ ghi lại trong thơ vô cùng ấn tượng:
Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình
Điều chưa nói thì bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.
(Hơi ấm bàn tay)
Có thể nói, trước sau, dấu ấn sâu đậm nhất về một thi sĩ tài hoa, đa cảm
ở Lưu Quang Vũ vẫn là những bài thơ tình. Theo Lưu Khánh Thơ: Lưu
Quang Vũ là một người đàn ông may mắn. Trong cuộc đời long đong vất vả
của anh, hầu như giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn. Cho dù cái
mà tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời. Lưu
khắc khoải. Có lúc em là dòng suối trong trẻo, thuần khiết Em nông nổi như
một dòng suối chảy/ Tin bình minh nhưng chỉ gặp sương chiều. Có lúc em lại
như một trái xoài căng mọng, ngọt ngào, quyến rũ. Lúc khác em lại là một
khu vườn rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống để anh thành chú ong say sưa
20
kiếm mật lạc vào cõi thiên thai không muốn tìm lối ra. Có lúc em như trái cây
mùa hạ mát lành, ngọt ngào, lúc lại rực rỡ như bảy sắc cầu vồng... tất cả
những hình ảnh ấy còn neo đậu mãi trong lòng người đọc mọi thế hệ.
1.2.2. Gai đoạn 2: 1971 – 1973
Đây là giai đoạn sáng tác khá đặc biệt trong đời thơ Lưu Quang Vũ, với
tình cảnh long đong, lận đận và có lúc ông bế tắc. Hạnh phúc gia đình tan vỡ,
rời quân ngũ, quá nhọc nhằn trong kế mưu sinh, cuộc sống hàng ngày lâm vào
thiếu thốn. Thêm vào đó, chiến tranh ngày càng ác liệt... Cùng một lúc, tâm
hồn đa cảm của ông phải gánh chịu nỗi đau, sự mất mát từ hai phía: riêng,
chung. Vì thế dễ hiểu tại sao giai đoạn này không còn cảm xúc hồn hậu, tươi
trong mà thay vào đó là những dằn vặt, chiêm nghiệm, những suy tư, trăn trở.
Và có lúc nhà thơ rơi vào tâm trạng cô đơn, bế tắc cùng cực:
Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao.
(Mấy đoạn thơ…)
Thậm chí có lúc ông rơi vào tâm trạng trống rỗng, vô nghĩa:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát
Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn
Một tấm gương chẳng biết soi gì
Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì
Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng.