Chuyên đề văn học dân gian: Tìm hiểu mối quan hệ giữa Văn học dân gian và Văn học viết qua tác giả Tố Hữu - Pdf 37

A PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Văn học dân gian là nguồn mạch của dân tộc, nền tảng cho sự phát triển của văn hóa
văn học. Là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ, văn học dân gian và văn viết có mối
quan hệ tự nhiên rất mật thiết. Đó là mối quan hệ sáng tạo và có tính quy luật : văn học dân
gian là ngọn nguồn của nghệ thuật ngôn từ nói chung, là cái nôi thơ ca của nền văn học sơ
sinh ở mọi dân tộc, đóng vai trò lớn cho sự phát triển về sau của văn học viết.
Mối quan hệ văn học dân gian và văn học viết là một trong những mối quan hệ cơ bản
của của các nền văn học dân tộc đã trưởng thành, là một phương diện quan trọng trong
truyền thống của một nền văn học dân tộc. Mối quan hệ này là phổ biến và có tính quy luật
không chỉ đối với nền văn học trẻ tuổi mà cả đối với các nền văn học đã có lịch sử phát triển
lâu đời. Ở mỗi nền văn học dân tộc, trong từng giai đoạn lịch sử, mối quan hệ đó có những
xác định cụ thể, độc đáo trong khi thể hiện những qui luật chung, phổ biến. Ở Việt Nam
chúng ta do những điều kiện lịch sử riêng, văn học dân gian có vị trí và vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình xây dựng nền văn học dân tộc. Mối quan hệ văn học dân gian và văn
học viết hết sức chặt chẽ và sâu sắc, trở thành động lực thúc đẩy nền văn học dân tộc phát
triển mạnh mẽ.
Trước hết, phải nói rằng " không thể nghiên cứu văn học dân gian mà không tìm hiểu
tác động qua lại của nó đối với văn học viết. Càng không thể hiểu được văn học viết đầy đủ
và sâu sắc nếu không biết đến ảnh hưởng của văn học dân gian với nó. Nghiên cứu mối quan
hệ này chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn văn học dân gian và văn học viết nói riêng mà điều
quan trọng hơn là có thể góp phần tìm hiểu nhiều phương diện khác nhau của sự phát triển
bên trong có tính quy luật của nền văn học dân tộc". Tố Hữu là nhà thơ lớn củ dân tộc. Suốt
cuộc đời làm cách mạng và làm thơ của mình. Ông đã có một sự nghiệp thi ca rực rỡ, để lại
một di sản phong phú. Ông được xem là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại,
là con chim đầu đàn của thơ trữ tình chính trị. Cùng với các nhà thơ Nguyễn Bính, Nguyễn
Duy.... Tố Hữu đã có ý thức trong việc sử dụng các yếu tố dân gian trong sáng tác của mình.
Các nhà phê bình nghiên cứu không phủ nhận rằng thơ Tố Hữu đậm chất dân gian. "Mang
phong vị dân gian".
Thực chất mối quan hệ văn học dân gian và văn học viết là mối quan hệ tác động qua
lại giữa hai hình thái lịch sử của ngôn từ, hai hệ thống thẩm mỹ độc lập, ra đời, tồn tại và

Bởi vậy từ khi văn học bước vào quỹ đạo hiện đại hóa đến nay đã có nhiều nhà thơ sáng tác
theo lối thơ dân gian: Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Nguyễn Trọng Tạo,
Đồng Đức Bồn, Phạm Công Trứ,... Chúng ta đã khá quen thuộc với giọng than, trách móc ở
"Tương tư"; "Mưa Xuân" ... của Nguyễn Bính, giọng ngợi ca qua "Tuổi trẻ Việt Nam" của
Nguyễn Duy và hẳn khó có thể quên giọng thiết tha, ngọt ngào, ân tình ở Việt Bắc, kính gửi
cụ Nguyễn Du của Tố Hữu.
Đây không phải là thái độ bảo thủ theo kiểu:
"Ta về ta tắm ao ta.
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn".
mà là sự lựa chọn có ý thức. Thực tiễn cho rằng, đời sống càng hiện đại con người càng hoài
cổ. Bất cứ giai đoạn nào, cũng có những nhà thơ, nhà văn tìm về với cội nguồn để khẳng
định bản sắc cá nhân. Cái dân giã, giản dị của chốn quê mùa hóa ra càng hấp dẫn hơn khi nó
đi ra thành thị. Nguồn mạch dân gian là nguồn mạch dồi dào sinh lực mà nhiều nghệ sĩ đã
nương vào đó để "sinh lời", "sinh lãi". Tìm về văn hóa dân gian là một hiện tượng tất yếu
trong văn học Việt Nam hiện đại. Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu ảnh hưởng của văn học dân
gian trong thơ Tố Hữu trên hai bình diện tư tưởng và thi pháp để phần nào thấy rõ điều
này.
II. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ Tố Hữu.
1 Ảnh hưởng của văn học dân gian trong tư tưởng thơ của Tố Hữu.
a. Thơ Tố Hữu thể hiện tinh thần lạc quan tin tưởng:
Văn học dân gian luôn thấm nhuần một chủ nghĩa lạc quan sâu rộng. Đó là một cái nhìn
tích cực về diễn biến cộc sống, một niềm tin về sự chiến thắng tất yếu của ánh sabgs đối với
bóng tối, của sự sống đối với cái chết, của cái thiện đối với cái ác, của cái cao cả với thấp
hèn, của cái đẹp với sự tầm thường, của nhân tính với các thế lực phi nhân... có thể đơn cử
bất kỳ tác phẩm nào. Ví như bài ca dao nối về mười cái trứng. Được mười quả trứng thì bảy
quả trứng ung còn ba quả nở ra được ba con. Nhưng con thì bị diều tha, con thì bị quạ bắt,
con thì bị mắt cắt xơi. Người nông dân trở thành tay trắng. Một thực tại thật đen tối, rất dễ sa
vào tuyệt vọng. Thế mà dân gian vẫn kiên trì hy vọng:
“Chớ than phận khó ai ơi !
Còn da: lông mọc, còn chồi nảy cây”

công trong cuộc sống. Tố Hữu đã học tập được yếu tố này trong văn học dân gian. Trong
thơ, ông cũng đã xác định vị trí đứng của mình, của mỗi người. Trong thơ, ông cũng đã phản
ánh rõ quá trình đấu tranh dành độc lập cũng như trong cuộc sống mới sau này phải có tính
tập thể, tính cộng đồng mới có thể làm nên nghiệp lớn.
"Tên con đường đấu tranh
Tôi sẵn có trong mình
Đôi mắt thần chủ nghĩa
Đã đứng trong đoàn thể
Bênh vực quyền lợi chung
Sống chết có nhau cùng
Không được xa hàng ngũ".
(Con cá, chột nưa) .
Mặc dù là lời "lí trí" nói với "cái bụng đói" nhưng qua đó ta cũng thấy được Tố Hữu đã
mượn lời "lí trí" để nói rõ tấm lòng và suy nghĩ của mình. Trong những phút giây nguy nan,
một mình không thể chống chọi được chỉ có sức mạnh của một đoàn quân mới có thể thành
công. Không gì hăng hái sôi nổi bằng sức mạnh của đoàn quân, đoàn thể:
"Trong đoàn thể, đi tìm kho lực lượng
Phải, đây rồi, đang những phút nguy nan
Không gì hăng hái bằng sức một quân đoàn
Gương mặt chĩa vào quân thù độc ác".
Tố Hữu đã từ "cái tôi" tiến đến "cái ta" chung của dân tộc, của giai cấp. Từ những ngày
gian khổ trước cách mạng, trong những ngày cách mạng, trong các cuộc kháng chiến cũng
như những ngày hòa bình xây dựng lại đất nước, ta thấy thơ Tố Hữu đã trở thành tiếng nói
chung của nhân dân, của cách mạng. Chiến tranh do bọn xâm lược gây nên đã làm cho cuộc
sống nhân dân ta hết sức điêu tàn, đau thương. Nhưng thái độ lập trường của Tố Hữu vẫn là
tinh thần cách mạng triệt để, vẫn là chủ nghĩa tập thể kiên định không hề nao núng. Con
người trong thơ Tố Hữu không bao giờ ngã gục trước hoàn cảnh khó khăn, mà ngược lại,
hok vì tập thể, đứng trong nhân dân đạp bằng mọi hiểm nguy gian khổ để chiến thắng kẻ thù.



trong thơ ông đều là những con người anh hùng trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh. Thơ Tố
Hữu tính chất anh hùng bộc lộ rõ trong các bài thơ sôi nổi tinh thần đấu tranh. Từ các em
nhỏ đến các anh chiến sỹ, bộ đội, từ những chị phụ nữ dân công đến những bà mẹ anh
hùng ...
Tinh thần chiến đấu, anh dũng đã ăn sâu vào trong máu thịt của mỗi con người Việt
Nam. Khi có cơ hội tất cả đều có thể bộc lộ. Khi đất nước nguy nan, những em thiếu nhi
cũng có thể thể hiện tinh thần anh dũng của mình. Một em Lượm nhỏ tuổi cũng thấy vui và


tự hào về công việc nguy hiểm của mình. Chỉ cần đất nước cần em là em sẵn sàng, bất chấp
hiểm nguy:
“Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vèo.
Thư đề " Thượng khẩn"
Sợ chi hiểm nghèo”
Và cả những anh giải phóng quân - Tố Hữu cũng dành cho họ những vần thơ đẹp nhất:
" Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang, bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi”
(Bài ca Xuân 68)
Cả chị Lý anh hùng trong " Người con gái Việt Nam". Tố Hữu cũng nghiêng mình kính
phục một ý chí sắt đá, người con gái kiên cường của dân tộc. Dù bị địch bắt tra tấn dã man
nhưng vẫn một lòng kiên trung với cách mạng:
" Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung.
Không giết được em, người con gái anh hùng"
Và đây nữa những bà má hậu giang, bà mẹ Tơm, mẹ Suốt... bất chấp hiểm nguy nuôi
dấu bộ đội, đưa đò cho bộ đội qua sông dưới mua bom bạo đạn...Bà má Hậu Giang thà chết
nhưng không chịu khai du kích ở đâu, mặc cho " Lũ sói hung hạn dọa dẫm, lưỡi gươm kề
hông vẫn không hề run sợ :
" Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây.

dụng các chát liệu truyền thống nhưng lại cháê tác nó biến nó thành của riêng mình. Một
trong những biểu hiện của thơ Tố Hữu gần với văn học dân gian đó là lối xây dựng hình ảnh.
Ông lấy thiên nhiên làm chất liệu để xây dựng hình ảnh con người.
Dân gian ta xưa kia thường gắn con người với thiên nhiên, cho nên trong văn học cũng
lấy thiên nhiên để làm chất liệu xây dựng hình ảnh con người, thậm chí còn đồng nhất con
người với thiên nhiên. Họ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để so sánh:
"Thân em như chẽn lúa đòng...
Thân em như củ ấu gai...".
Hay cách dặt tên nhân vật trong các truyện cổ tích truyền thuyết cũng lấy những tên
như: anh Khoai, Sọ Dừa,... người em trong "Cây khế" giàu có lên là nhờ cây khế...
Đến văn học hiện đại mặc dù đã có rất nhiều thay đổi nhưng một số nhà thơ, nhà văn
vẫn học tập văn học dân gian thủ pháp xây dựng nhân vật này, trong đó có Tố Hữu. Tố Hữu
đã biết tiếp thu kế thừa trong hoàn cảnh mới, với nhiều sáng tạo mới. Các nhân vật trong thơ
ông vừa mang dáng dấp của nhân vật văn học dân gian lại vừa mang dáng vẻ của thời đại
cách mạng.


Trước hết ta phải kể đến hình ảnh Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Nếu trong văn
học dân gian hình ảnh của vị lãnh tụ, của người đứng đầu một bộ lạc được xây dựng với
nhiều chi tiết kì vĩ lớn lao, mang tính hoang đường kì ảo, mặc dù lấy thiên nhiên để làm chất
liệu miêu tả những chi tiết ấy phải là những chi tiết hoành tráng làm thế nào để người đọc có
thể cảm nhận được đó là một bậc vĩ nhân, siêu phàm, thần thánh. Chẳng hạn như Đam San người đứng đàu bộ lạc, cộng đồng là người có sức mạnh phi thường đón ngã được cây thần
của dòng họ bên vợ, hay là phải hỏi được nữ thần mặt trời về làm vợ của mình...v.v. Thì
trong thơ Tố Hữu hình ảnh của vị lãnh tụ lại được xây dựng bằng những chi tiết rất gần gũi
với mỗi chúng ta.
"Bác sống như trời đất của ta.
Yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa".
"Bác vui nư ánh buổi bình minh.
Vui mỗi mần non trái chín cành".
(Bác ơi).

Ngoài ra, Tố Hữu cũng lấy thiên nhiên làm chất liệu để xây dựng hình ảnh của người
phụ nữ. Có thể nói từ văn học dân gian trở về sau này hình ảnh người phụ nữ được quan tâm
nhiều. Người phụ nữ trong ca dao, dân ca, trong các chuyện thần thoại, cổ tích, truyền
thuyết... cũng được xây dựng bằng bút pháp ấy... Trong thần thoại, người phụ nữ hiện lên vô
cùng lớn lao, vĩ đại. Họ được xây dựng bằng trí tượng tưởng phong phú và lãng mạn như Nữ
Oa đội đá vá trời, Bà Đùng cùng chông khai xông khơi biển, hay là truyền thuyết về Bà
Trưng, Bà Triệu anh hùng. Trong ca dao người phụ nữ lại được xuất hiện hết sức phong phú,
đa dạng. Nhắc đến họ , người ta nghĩ ngay đến thân phận nhỏ bé tội nghiệp.
"Thân em như hạt mưa sa..."
"Thân em như miếng cau khô...".
"Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non"..v.v.
Thơ ca cách mạng nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng đã viết nhiều về hình ảnh người phụ
nữ nhưng lại xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới, người phụ nữ vừa mang những nét đệp
truyền thống lại vừa mang những phẩm chất mới của con người mới, con người của thời đại
cách mạng. Ông kết hợp hài hòa thủ pháp xây dựng hình ảnh của văn học dân gian và văn
học cách mạng.
Đầu tiên ta phải kể đến hình ảnh bà má Hậu Giang:
"Nước non muôn quý ngàn yêu
Còn in bóng Má sớm chiều Hậu Giang".
Sự hy sinh kiên cường của bà má Hậu Giang đã được nhà thơ dùng những hình ảnh lớn
lao để khắc họa. Sự hy sinh của Má có ý nghĩa to lớn đối với xóm làng quê hương, với
những người ở lại hình ảnh Má sẽ tồn tại mãi cùng thời gian năm tháng. Giữa quê hương
sông nước Hậu Giang, hình bóng Má, cuộc đời Má như đã "Hóa núi sông ta"...
Rồi đến mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ, sớm hôm đưa đò cho bộ đội qua sông, nhà thơ
cũng miêu tả bằng những hình ảnh thiên nhiên thật lãng mạn và hùng tráng:
"Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung trắng bờ".
Ở "Mẹ Tơm" , tình yêu thương, lo lắng cho con được tác giả diễn tả :
"Máu con đỏ cát đường thôn lạnh

pháp dân gian để xây dựng hình ảnh. Có thể những thủ pháp này đã giúp ông chuyển tải
được những gì ông định viết, chuyển tải được mục đích ông đặt ra đó là tuyên truyền cách
mạng. Chính vì thế những hình ảnh trong thơ ông phải là những hình ảnh vừa mang vẻ đẹp
sử thi vừa mang vẻ đẹp lãng mạn lại vừa có vẻ đời thường chân thật.
b. Thơ Tố Hữu vận dụng phong phú các thể loại của văn học dân gian.
Tố Hữu sáng tác nhiều thể loại thơ khác nhau: lục bát, 5 chữ, 7 chữ... Ở mỗi thể thơ ông
đều cố đưa phong vị dân gian vào trong tác phẩm của mình, vừa thể hiện chất trữ tình lại có
cả chất tự sự dân gian. Chất trữ tình dân gian thể hiện rõ nhất trong thể thơ lục bát. Thơ lục
bát của Tố Hữu thể hiện tình cảm ân tình thủy chung. Một trong những nội dung của ca dao:
Thuyền về có nhớ bến chăng.
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
(Ca dao).
Anh đi anh nhớ quê nhà.
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai giãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
(Ca dao)
Trước hết là tình cảm yêu thương mặn nồng, là sự vỗ về của tình bà cháu, tình mẫu tử
trong sự hòa hợp với tinh yêu đất nước:
" Xa xôi đầu xóm tre xanh
Có bà ru cháu nằm khoanh lòng bà
Cháu ơi cháu ngủ với bà


Bố mày đi đánh giặc xa chưa về".
(Cá nước).
Tình cảm của con đối với mẹ, mẹ đối với con lại càng mặn nồng tha thiết hơn bao giờ
hết trong bài Bầm ơi:
"Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu"

"Bay coi Tây - Nhật là cha
Sướng chi bay hại nước nhà, bà con
Liệu hồn bỏ thói du côn
Bằng không đòn trả lại đòn cho coi ".


(Tiếng hát trên đê).
Cái tha thiết, ngọt ngào, đằm thắm, thủy chung thể hiện qua khúc hát đẫm tình người:
"Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi đổ rụng mang mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
Mình về có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa".
Âm điệu ngọt ngào như lời ru, lời thủ thỉ êm ái đã đưa người đọc vào một thế giới nặng
ân tình. Mọi chi tiết, mọi hình ảnh, con người trong thơ như một ánh hồ quang đưa người
đọc vào một htế giới hoài niệm về những kỉ niệm trong quá khứ. Thơ ca dân gian hay diễn tả
nỗi nhớ nhung thì thơ Tố Hữu cũng vậy. Bao trùm toàn bộ bài thơ "Việt Bắc" là nỗi nhớ.
Nỗi nhớ được diễn tả theo mạch cảm xúc, theo từng sự việc khác nhau. Toàn bài thơ có 35
từ nhớ, vị trí từ nhớ cũng thay đổi khác nhau, có khi đứng gần cuối, có khi đứng ở đầu, có
khi đứng giữa... sự lặp đi lặp lại ấy chính là sự dồn nén cảm xúc, tình cảm.
Tố Hữu lớn lên trong tiếng ru ngọt ngào êm ái của bà mẹ hiền xứ Huế, trong cái thú sưu
tầm ca dao dân ca của cha, tâm hồn ông sớm được tắm trong những làn điệu hát ru trữ tình
cho nên hồn thơ ông là một hồn thơ trữ tình. Chính vì vậy trong thơ ông, đặc biệt là thể loại

thường mà lại rất "thời sự" này.
Đến "Mẹ Suốt" nhà thơ lại đưa "hơi thở dân gian" đến với người đọc bằng cách mở đầu:
"Lặng nghe mẹ kể ngày xưa
Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình"
Với lối mở đầu này làm cho người đọc háo hức, chờ mong câu chuyện dân gian:
"Mẹ rằng quê mẹ, Bảo Ninh
Mênh mông sông biển, lênh đênh mạn thuyền"


Bằng cách kể mộc mạc đơn giản, bình dị, gần với cách cảm, cách nghĩ của người dân.
Đọc bài thơ ta có cảm giác đang lạc vào thế giới cổ tích . Câu chuyện kể về một "bà bụt" vất
vả, cực nhọc từ thuở chín, mười. Thế mà bà vẫn vượt qua cái khó khăn cực nhọc đời thường.
Cao cả hơn, đẹp đẽ hơn là hình ảnh bà mẹ vượt qua cái hiểm của mưa bom, bão đạn để phục
vụ kháng chiến:
"Chẳng bằng con gái con trai
Sáu mươi còn một chút tài đò dưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc sớm trưa đưa đò".
Cái mới của Tố Hữu so với văn học dân gian ở đây là nếu trong văn học dân gian, các
chuyện kể chỉ có người kể chuyện thì ở thơ Tố Hữu có sự tham gia của tác giả vào câu
chuyện, có thêm lời bình của tác giả đối với nhân vật trong truyện:
"Gan chi gan rứa, mẹ nờ?"
Và: " Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:
Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo".
Cái lối kể chuyện mới mẻ ấy chúng ta lại gặp ở "Chuyện em". Chuyện kể về nhân vật
em hòa 14 tuổi mà anh dũng xin mẹ đi đánh giặc. Người dân Việt Nam bất cứ già trẻ, lớn
nhỏ, gái trai không kể tuổi tác giới tính khi đất nước lâm nguy thì ai ai cũng đứng lên để cứu
nước. Câu chuyện về em Hòa được tác giả kể dưới hình thức thơ lục bát, trong đó nhà thơ cố
xen lời bình luận của mình:
"Vui chăng, hỡi mẹ làng yên!

Nhà em con bế con bồng..."
Với những bà mẹ Tố Hữu xưng hô "me con" mặc dù mẹ không phải sinh ra nhưng ở
đâu Tố Hữu cũng có mẹ "Mẹ Tơm", "Mẹ Suốt", "Bầm ơi"..v.v. Trong thơ Tố Hữu còn bắt
gặp nhiều cách xưng hô thân thương, trìu mến: Chị - Tôi, bạn đời, bạn lòng, ông cụ, Người,
bác, cha... Đặc biệt cách xưng hô trong bài "Việt Bắc" lại càng mang đậm chất dân gian.
Ngoài cách xưng hô ngọt ngào thân thiết, giọng điệu trữ tình kiểu ca dao trong thơ Tố
Hữu còn thể hiện ở cách gọi tên con người và sự vật. Thơ cũng như văn xuôi đều phản ánh
cuộc sống, mặc dù ở hai thể loại có những đặc trưng khác nhau, và thơ Tố hữu được nhận
xét "Thơ Tố Hữu nói chung(...) là thơ có tiếng đối đáp trò chuyện nhiều nhất". Với cô gái
giang hồ trên sông Hương ông gọi "cô" một cách trân trọng, thương cảm và dành cho cô
những lời động viên an ủi khích lệ cô tin ở ngày mai tươi sáng. Với một anh lính gác, Tố
Hữu đã dành cho sự cảm thương sâu sắc:
"Hỡi anh lính gác đêm ơi
Ngoài anh đứng đó, trong tôi chưa nằm".
Giọng điệu ngọt ngào kiểu ca dao này còn được thể hiện qua cách dùng từ, sử dụng
thanh điệu. Ta thấy thơ Tố Hữu rất hay dùng thanh bằng. Có lẽ vì thanh bằng tạo được cảm
giác nhịp nhàng, đều đều, bâng khuâng man mác giống với ca dao cho nên thơ Tố Hữu đã
dùng nhiều thanh bằng:
"Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao".
(Ca dao)
Thơ Tố Hữu:
"Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn".


(Em ơi.. Ba Lan).
"Lắng nghe quan họ đêm thu

Bập bùng ngọn lửa
Má kể nguồn cơn
Chuyện nhà chuyện cửa"
Nghe như kiểu vè kể chuyện, nhưng mở đầu bằng không gian thời gian vừa rõ ràng cụ
thể lại vừa không cụ thể kiểu cổ tích, bằng giọng điệu cứ đều đều, bà mẹ Việt Bắc kể hết mọi
hoàn cảnh gia đình, mọi nguồn sự việc...
Có thể nói, trong thơ Tố Hữu đã có ý thức tìm về ngọn nguồn dân tộc. Ông học tập ở
ca dao dân ca, truyện cổ tích có khi ngọt ngào đằm thắm có khi là kể lệ sự việc. Tuy nhiên,
chúng ta vẫn nhận thấy rằng, mặc dù Tố Hữu học tập giọng điệu nhưng ông đã có sự sáng


tạo mới cho thơ ông, làm cho thơ ông không hòa lẫn với bất cứ thơ ai. Giọng điệu ấy đã làm
nên phong cách thơ Tố Hữu.
d. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu đậm đà phong vị dân gian.
Chúng ta biết rằng, các nhà văn thơ nổi tiếng thế giới là những nhà văn, nhà thơ có ảnh
hưởng của yếu tố dân gian (Sêchxpia, Bairon, Puskin, Bồ Tùng Linh...). Những thiên tài văn
học ấy đều biết gắn bó nền văn học với cuộc sống của nhân dân, dùng văn học phản ánh
cuộc sống và nhờ đó văn học có mảnh đất màu mỡ để sinh tồn. Lịch sử văn học Việt Nam
cũng đã không phủ nhận được sự đóng góp lớn lao của các nhà văn, nhà thơ như thế:
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Nguyễn
Huy Thiệp... và các nhà thơ khác. Bởi họ được sinh ra lớn lên từ cái nôi của nền văn học dân
gian: lời ca ngọt ngào của ca dao dân ca, câu chuyện cổ tích lí thú... Cho nên văn học của họ
có sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố dân gian trong đó có yếu tố ngôn ngữ: Ở đây ta đề cập đến
yếu tố ngôn ngữ dân gian trong thơ Tố Hữu. Trước hết, ta phải thừa nhận rằng ngôn ngữ thơ
ông rất bình dị, bình dị ngay cả những lúc ông phản ánh vấn đề lớn lao của thời đại. Trong
thơ ông đầy những hình ảnh từ ngữ: Lúa, ngô, khoai, sắn, mạ non, cơm dé, nhà tranh, vườn
cà, dưa muối, áo tứ thân, ruộng trũng, đồi cao, cơm chấm muối, rừng nứa bờ tre, hoa chuối..
Ông có ý thức trong việc đưa những hình ảnh, lớp từ ngữ bình dị gắn với cuộc sống của
người dân vào trong thơ để thơ ông cũng trở nên bình dị gần gũi với họ. Đọc thơ Tố Hữu họ
như được gặp mình, thấy rõ hình ảnh của mình trong ấy . Không những thế, Tố Hữu còn có

(Ca dao)
Thơ Tố Hữu:
"Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương Bầm bấy nhiêu"
(Bầm ơi)
"Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu"
(Việt Bắc)
"Đường đi mấy núi mấy đèo
Núi bao nhiêu ngọn bấy nhiêu anh hùng"
Thậm chí có nhiều câu thơ đọc lên ta không thể phân biệt được là thơ Tố Hữu hay là ca
dao:
"Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
(Việt Bắc)
Ngay cách xưng hô "mình- ta" cũng đã làm cho người đọc cảm thấy man mác hơi thở
của dân gian:
"Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta"
(Ca dao)
Có câu thì Tố Hữu bê nguyên xi văn học dân gian vào thơ:
"Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân"
(Ta đi tới)
Thơ Tố Hữu còn sử dụng nhiều thành ngữ, quán ngữ tục ngữ của văn học dân gian.
"Quản chi lên thác xuống ghềnh
Một vầng cờ đỏ đinh ninh lời thề"
(Tiếng sáo ly quê)
"Lạnh tay lạnh chân
Đứng trơ như đá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status