TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG, NGUYỄN ÁI QUỐC - Pdf 37

MỤC LỤC

A. MỞ ĐẦU
I.

Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam
Suốt 75 năm qua kể từ ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930),
dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi
vẻ vang, lập nên những kì tích trong thế kỉ XX. Cũng chính từ thực tiễn lãnh đạo
cách mạng, Đảng ta đã trở thành người lãnh đạo duy nhất của dân tộc Việt Nam,
được toàn thể dân tộc coi là Đảng của mình. Gần 20 năm Đảng lãnh đạo nhân dân
ta tiến hành công cuộc đổi mới và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.
Hiện nay, tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, công tác xây dựng Đảng
là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc ta. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ những sáng tạo của Nguyễn
Ái Quốc_Hồ Chí Minh trên con đường thành lập Đảng để vận dụng vào giai đoạn
cách mạng hiện nay là việc làm cần thiết vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa
thực tiễn.

II.

Nguyễn Ái Quốc_ người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng Sản Việt Nam
“ Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn
và bất khả xâm phạm; Trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho
môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển thêm nữa về
mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”. Những lời nói đó
của Lênin cũng là tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc , tư tưởng chung của học thuyết
Mác Lênin mà Bác đã đi theo trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng của

I.
Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước
1. Tình hình thế giới và bối cảnh xã hội VN nửa sau thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
a. Thế giới
Vào giữa thế kỉ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thống trị ở Anh,
Pháp, Đức và một số nước khác ở Tây Âu, mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản ngày càng trở nên gay gắt. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
đối với giai cấp tư sản đòi hỏi phải có một lý luận tiên phong dẫn đường. Để đáp ứng
đòi hỏi đó, chủ nghĩa Mác ra đời với “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” trong đó
khẳng định quy luật diệt vong của chủ nghĩa tư bản, nhường bước cho xã hội mới, xã
hội cộng sản chủ nghĩa, đồng thời chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Đến cuối thế kỉ XIX, CNTB thế giới chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Các nước đế quốc tranh giành nhau thuộc địa và căn bản hoàn thành việc phân chia
thế giới , áp đặt ách áp bức thực dân lên khắp các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, trong đó
có Việt Nam. Thế giới lúc này phân chia làm 2: một khu vực gồm các nước công
nghiệp phát triển, thường gọi là phương Tây, và khu vực kia bao gồm các nước thuộc
địa gọi là phương Đông. Mâu thuẫn mới hình thành: Mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Điều này là lý do khách quan cho phép
phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa có thể gắn bó với phong trào cách mạng
quốc tế, đặc biệt là cách mạng vô sản ở chính quốc.
Đầu thế kỉ XX, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra do tranh giành quyền lợi
giữa các nước đế quốc (1914-1918). Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở
các nước đế quốc, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa bùng lên
mạnh mẽ tạo nên phong trào “ phương Đông thức tỉnh”, đó là nét đặc sắc nhất của
tình hình quốc tế trong giai đoạn này.
b. Việt Nam
Trong bối cảnh chung của thế giới, Việt Nam cũng bị chi phối bởi những điều
kiện lịch sử đó. Việt Nam là một quốc gia hình thành sớm. Ý thức quốc gia, dân tộc,
làm chủ đất nước của cộng đồng người Việt có từ ngàn xưa. Cuộc chiến đấu với thiên
nhiên và giặc ngoại xâm trong hàng ngàn năm lịch sử đã hun đúc cho dân tộc Việt

quyền của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, tư tưởng của cách mạng Pháp… Dưới
ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng trên, phong trào yêu nước Việt Nam chuyển sang
khuynh hướng mới mà ta thường gọi là cuộc vận động dân chủ tư sản mà tiêu biểu là
các phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn
Can, cải cách dân chủ của Phan Chu Trinh, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ… Sau
một thời gian phát triển rầm rộ, các phong trào trên cũng nối tiếp nhau tan rã trước sự
đàn áp man rợ của đế quốc Pháp. Mặc dù còn thụ động, ấu trĩ, chưa tin vào sức mạnh
của chính dân tộc mình mà nặng về cầu viện, cải cách nhưng giải pháp mới theo
khuynh hướng dân chủ tư sản này chí ít cũng đặt vấn đề của dân tộc Việt Nam trong
mối quan hệ quốc tế và thời đại nhất định.
Trong bối cảnh quốc tế và Việt Nam như vậy, giải phóng dân tộc là yêu cầu căn
bản của xã hội Việt Nam, là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, là nguyện vọng của
dân tộc Việt Nam. Rõ ràng, đến đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam đã diễn ra cuộc khủng
hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Cách mạng Việt Nam ở trong “tình
hình đen tối không có đường ra”.
3. Con đường của Nguyễn Ái Quốc
a. Hoàn cảnh xuất thân


Vượt qua sự hạn chế của điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vượt lên
trên những hạn chế của sĩ phu yêu nước đương thời, bằng thiên tài trí tuệ, bằng cuộc
cuộc “khảo sát thế giới” trong thập niên thứ 2 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc_Hồ
Chí Minh đã tìm ra giải pháp mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lúc đi học có tên là Nguyễn Tất
Thành, sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở đất Lam Hồng, tỉnh Nghệ An,
nơi có truyền thống cách mạng. Hoàn cảnh gia đình, quê hương, đất nước có ảnh
hưởng sâu sắc đến tư tưởng của Người. Thân phụ của Hồ Chí Minh là ông Nguyễn
Sinh Sắc, người giỏi nho học, đỗ phó bảng nhưng không chịu hợp tác với Pháp. Lúc
nhỏ Nguyễn Tất Thành được sự dạy dỗ của thầy Vương Thúc Quý, một “sĩ tử Cần
Vương” và với tư chất thông minh, Người đã nắm vững vốn kiến thức nho học và

hỏi ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là
Nhật, người khác nghĩ là Anh, người kia lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước
ngoài để xem cho rõ”. Như vậy, ngay từ lúc đó, quyết định của Người đã có mục đích
rõ ràng và có định hướng cụ thể.


Trước lúc ra đi tìm chân lý cách mạng, Nguyễn Tất Thành đã tiếp thu sâu sắc
truyền thống yêu nước của dân tộc, am hiểu văn hóa phương Đông, một phần văn hóa
phương Tây. Đó là vốn quý, là cơ sở quan trọng để tiếp thu chân lý cách mạng, là
nhân tố đầu tiên của quá trình hình thành con đường cách mạng giải phóng dân tộc
của Người.
b. Những năm bôn ba tìm đường cứu nước
• Quá trình tìm đến với phong trào cộng sản quốc tế
Trong lúc đất nước đang trong cơn khủng hoảng, thế giới bắt đầu bước vào thời
kỳ sôi động, năm 1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi lúc này là Văn Ba, lên tàu
Latútsơ Tơrêvin từ bến Nhà Rồng rời tổ quốc vượt trùng dương đi tìm chân lý cách
mạng. Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, có thể nói là bước mở đầu cho cách mạng
Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết
hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu
cơ từ trong bản chất giai cấp và trên tinh thần đấu tranh vì lợi ích của dân tộc và của
nhân loại. Trên hành trình cứu nước, Nguyễn Tất thành chấp nhận cuộc sống của
người lao động làm thuê. Đối với Người, đó chỉ là phương tiện nhằm thực hiện mục
đích. Động cơ thúc đẩy Người ra đi là tìm một giải pháp mới cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc Việt Nam, trước hết là tìm ở nước Pháp, nước có cuộc cách mạng 1789
điển hình, nhưng cũng là nước sản sinh ra chế độ thực dân đang thống trị tổ quốc của
Người. Ý nghĩ này xuất hiện trong đầu Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm, như sau này
Người nói: “ Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe 3 chữ Pháp: tự do, bình
đẳng, bác ái. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm
xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy. Tôi quyết định tìm cách đi ra nước
ngoài”. Đó là mục tiêu trực tiếp của chặng đầu cuộc hành trình. Muốn trở về giúp

phần nhiều là tốt, song những người Pháp thực dân thì cực kì hung ác và vô nhân đạo.
Điều đó cắt nghĩa, khi bắt đầu hoạt động chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã có quan niệm
vững vàng về sự đoàn kết giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản ở chính quốc.
Cuối 1912, Người tiếp tục theo tàu vượt đại dương đến Mỹ, nước đã sản sinh ra
bản “tuyên ngôn độc lập” năm 1776. Tại đây Người cũng nhanh chóng phát hiện ra
đằng sau những tòa nhà chọc trời với cuộc sống xa hoa của thành phố Niu Oóc là
những con người khốn khổ sống vật vờ dưới bóng đổ của những tòa nhà đó. Người
thường xuyên lui tới khu Háclem và rất xúc động trước cảnh sống thảm hại của
những người da đen ở đây. Tham quan tượng thần tự do, người nhận xét: “Ánh sáng
trên đầu thần tự do tỏa ra trên bầu trời xanh, còn dưới chân tượng thần tự do này thì
người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới được bình đẳng với người
da trắng…”.
Cuối năm 1913, Nguyễn Ái Quốc theo tàu đến nước Anh giữa lúc chính phủ Anh
đang ráo riết chuẩn bị cho chiến tranh thế giới thứ nhất. Tại đây Người đã hòa mình
vào phong trào công nhân và công đoàn, tham dự nhiều buổi diễn thuyết chính trị, lên
tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Ailen. Đặc biệt Người đã tham
gia tổ chức Công đoàn lao động hải ngoại, một tổ chức bí mật của những người lao
động của các thuộc địa sống trên đất Anh. Điều đó báo trước một chuyển biến mới
của Nguyễn Ái Quốc: Từ một người yêu nước, một người lao động làm thuê bắt đầu
bước vào một tổ chức gắn bó với những người dân thuộc địa nhằm chống lại chủ
nghĩa đế quốc, thực dân.
Cuối năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại nước Pháp, tới Pari, trung tâm văn hóa
và những sự kiện chính trị không chỉ của Pháp mà cả của châu Âu lúc đó. Pari dưới
con mắt của Người lúc đó phản chiếu rõ nét nhất 2 thái cực của xã hội tư bản: Bộ mặt
của bọn thống trị tư sản phơi bày rõ rệt nhất, cuộc sống và nguyện vọng của người lao


động cũng thể hiện rõ nhất. Người nhanh chóng đồng cảm với giai cấp vô sản Pháp,
thấy được sự giống nhau giữa giai cấp ấy và nhân dân các nước thuộc địa, cả 2 cùng
cực khổ, cùng 1 kẻ thù, cùng 1 khát vọng. Một lần nữa thể hiện sự nhạy bén, sắc sảo


Đặc biệt trong cuộc khảo sát này, Nguyễn Ái Quốc dừng chân lâu ở 3 nước đế
quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh, Pháp, có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu cuộc cách
mạng Mỹ 1776, cuộc cách mạng Pháp 1789 và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân. Từ đó Người nhận ra những nhận xét
chính xác rằng cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp tuy nêu cao khẩu hiệu “tự do, bình
đẳng, bác ái” nhưng lại không đưa lại tự do, bình đẳng, bác ái thật sự cho quần chúng
lao động, tiếng là cộng hòa, dân chủ nhưng thực chất là tước đoạt quyền lợi của giai
cấp công nông trong nước và bên ngoài thì áp bức các dân tộc thuộc địa. Người khâm
phục ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục tinh thần đấu tranh của
nhân dân Pháp, nhưng Người cho rằng đó đều là cách mạng tư sản, cách mạng không
đến nơi. Sau này, trong tác phẩm “Đường Cách Mệnh”, Người có biết: “Mỹ tuy rằng
cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ
lo cách mệnh lần 2. Còn Pháp thì cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp
hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi ách áp bức”. Như vậy
Người cho rằng việc giải phóng các dân tộc bị áp bức không thể đi theo con đường
của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp mà phải đi theo 1 con đường cách mạng khác.
Nhận xét đó của Nguyễn Ái Quốc chứa đựng hạt nhân của lập trường đấu tranh giai
cấp.

Nguyễn Ái Quốc đã đặt mình vào chỗ đứng của giai cấp cần lao, khảo sát thế giới
và rút ra kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có 2 giống người là
giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có 1 mối tình hữu ái là
thật mà thôi, đó là tình hữu ái vô sản”. Đến đây, vấn đề bạn thù đã được Nguyễn Ái
Quốc xác định dứt khoát, rằng sự áp bức giai cấp và áp bức dân tộc có chung một
nguồn gốc là chủ nghĩa đế quốc. Đó là những tiền đề rất quan trọng để Nguyễn Ái
Quốc tiếp thu nhanh chóng học thuyết Mác Lênin là cơ sở thực tiễn quan trọng hình
thành con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.
• Nguyễn Ái Quốc trở thành người chiến sĩ cộng sản quốc tế
Trong thời gian ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào

viết nhiều bài cho các báo nhằm giới thiệu về Quốc tế cộng sản, về Đảng cộng sản
Liên Xô, về lãnh tụ Lênin, về nước Nga Xô Viết… Các bài viết này đều hướng tới
mục đích tuyên truyền chủ nghĩa Mác Lênin trong các nước thuộc địa, cung cấp cho
quốc tế cộng sản và các Đảng cộng sản ở chính quốc hiểu hơn về “Phương Đông thức
tỉnh”, từ đó mà có sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các dân
tộc thuộc địa phương Đông và giai cấp công nhân phương Tây trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc, thực dân.
Hoạt động quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Liên Xô là tham gia
các đại hội và hội nghị của quốc tế cộng sản. Tháng 10/1925, người tham gia hội nghị


quốc tế nông dân họp trong điện Kremli, là đại biểu thuộc địa duy nhất trên diễn đàn
nhưng người đã nhiều lần phát biểu, nêu lên quan điểm của mình và được đánh giá
cao, được bầu vào Đoàn chủ tịch hội đồng quốc tế nông dân và là đại biểu thuộc địa
duy nhất được bầu vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của tổ chức nông dân quốc tế, trở
thành 1 chiến sĩ cộng sản quốc tế mang nhiều trọng trách. Người đã dịch “Lời kêu
gọi” của quốc tế cộng sản gửi nông dân các nước thuộc địa ra tiếng Việt cho đài phát
thanh Mátxcơva và gửi về Việt Nam.Người được phân công đặc trách công tác thuộc
địa, nghiên cứu giúp đỡ cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc phương Đông
trong đó có Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc luôn luôn đấu tranh bảo vệ và phát triển những nguyên tắc cách
mạng của Luận cương chính trị mà Lênin đã soạn thảo, xây dựng lập trường giai cấp
đúng đắn cho các Đảng cộng sản và các chiến sĩ cách mạng về vấn đề dân tộc và
thuộc địa.
Ngay từ khi nhận thức được con đường cứu nước đúng đắn, hoài bão trở về tổ
quốc tổ chức, lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam thành 1 bộ phận của phong
trào cách mạng thế giới đã nung nấu tâm trí Nguyễn Ái Quốc. Vào giữa những năm
20 của thế kỉ XX, quốc tế cộng sản tăng cường hơn việc tuyên truyền và giúp đỡ cách
mạng thuộc địa, đây là cơ hội để Nguyễn Ái Quốc thực hiện hoài bão bấy lâu của
mình. Giữa năm 1924, Người đề nghị quốc tế cộng sản cử Người xuống phía Nam

nước như “Hội thân ái”, “Hội hợp tác”, “Hội phụ nữ”, “Hội thiếu niên”… Tháng
7/1928, Người ở Bản Đông, huyện Phìchịt. Giữa tháng 7, Người đến Uđon. Đầu năm
1929, Người đi Sacôn. Từ tháng 7/1929 đến cuối năm, Người đến Mụcđahan,
Nọongkhai… để hoạt động trong Việt Kiều và làm nhiệm vụ quốc tế. Tại đây, cùng
với việc xúc tiến mạnh mẽ cho phong trào cách mạng Việt Nam và để thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc còn đóng góp tích cực cho phong trào cách
mạng ở châu Á.
Những năm tháng hoạt động ở châu Á, ngoài nhiệm vụ quốc tế, nhiệm vụ chính
của Nguyễn Ái Quốc là chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập
một Đảng cộng sản ở Việt Nam để đưa phong trào cách mạng Việt Nam đi đúng quỹ
đạo của cách mạng vô sản thế giới, tiến lên giành độc lập, tự do.
II.

Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Người đã tìm cách tiếp xúc với
những người yêu nước Việt Nam đang hoạt động ở Quảng Châu nhằm xây dựng tổ
chức cách mạng. Trước hết, Người tiếp xúc với những thanh niên hăng hái nhất trong
nhóm Tâm Tâm Xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… tại Huệ
Quần Y Xã. Thông qua họ, Người xúc tiến kế hoạch xây dựng một tổ chức cách
mạng đi theo phương hướng đã vạch ra. Như vậy, đến cuối năm 1924, Nguyễn Ái
Quốc đã tìm được lực lượng để “gieo mầm cộng sản” ở Việt Nam, đó là những thanh
niên có học vấn khát khao tiếp thu tư tưởng mới và hành động cách mạng, từ đó hình
thành tổ chức tiền thân của cách mạng Việt Nam.
Sau khi tiếp xúc, tìm hiểu những người Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu, Người
mở một lớp huấn luyện về công tác tổ chức và tuyên truyền. Trong số đó Người chọn
được 9 người tích cực nhất lập ra nhóm bí mật làm hạt nhân cho tổ chức rộng lớn sau
đó, đó là Cộng Sản Đoàn, lập vào tháng 2/1925. Từ hoạt động của nhóm đầu tiên đó,
tháng 6/1925, Người lập ra tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một tổ chức
cách mạng theo chủ nghĩa Mác Lênin. Hội công bố chương trình và điều lệ, nói rõ
mục đích là làm cách mạng dân tộc, sau đó làm cách mạng thế giới. Về đối nội, thành

đoàn lãnh đạo cuộc bãi công Hương Cảng_Quảng Châu đến báo cáo thực tế cuộc đấu
tranh của công nhân. Người còn bố trí cho học viên tham dự các chuyên đề do nông
hội tỉnh Quảng Đông tổ chức…
Người còn sử dụng phương thức đào tạo khác là lựa chọn, gửi học sinh đi học ở
các trường đại học Phương Đông ( Liên Xô) và trường quân sự Hoàng Phố (Trung
Quốc), nhằm tranh thủ thời gian đào tạo được đội ngũ cán bộ đa dạng đáp ứng yêu
cầu cách mạng trong nước và tạo được mối quan hệ quốc tế giữa cách mạng Việt
Nam và cách mạng thế giới.
Từ năm 1925 đến tháng 4/1927, Nguyễn Ái Quốc đã đào tạo được nhiều cán bộ
cho phong trào vận động cách mạng chuẩn bị cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam.
Theo kinh nghiệm của Người và thực hiện lời chỉ dẫn của Lênin, “báo chí là
người cổ động chính trị tập thể”, vì thế, cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Người
xuất bản báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên. Đây là tờ báo vô sản đầu tiên ở nước ta. Tờ báo được bí mật đưa về và phát
hành trong nước, góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, thức
tỉnh quần chúng, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách
mạng, chống những biểu hiện tư tưởng tư sản trong phong trào yêu nước, nêu những
quan điểm đầu tiên về xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Ngoài báo Thanh Niên,
Người còn cho xuất bản nhiều báo khác như Công Nông, Lính Cách Mệnh, Việt Nam
Tiền Phong, nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho các tầng lớp trong nhân dân
Việt Nam.
Đầu năm 1927, cuốn sách Đường Cách Mệnh được xuất bản tại Quảng Châu. Đây
là cuốn sách tập trung các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở trường huấn luyện chính
trị của Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. “Đường Cách Mệnh” có giá trị
lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền bá
chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vào Việt Nam.
Có thể nói việc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, mở trường huấn
luyện chính trị, ra báo Thanh Niên là bước chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, chính trị và
tổ chức, là một sáng tạo lớn và vững chắc của Nguyễn Ái Quốc cho việc thành lập

thắng lập trường dân tộc chủ nghĩa tư bản và tiểu tư sản.
Những người tiên tiến trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã sớm nhận ra
nhu cầu bức thiết phải thành lập một Đảng cộng sản mới có thể đưa cách mạng Việt
Nam tiếp tục tiến lên. Với ý thức đó, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ đã quyết
định thành lập chi bộ cộng sản Việt Nam đầu tiên tại số nhà 5D, phố Hàm Long, Hà
Nội vào tháng 3/1929. Đây là sự khởi đầu quá trình Bônsêvích hóa Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên. Ngày 28/3/1929, Đại hội Kỳ bộ Bắc Kỳ dưới sự lãnh đạo của
Chi bộ cộng sản đầu tiên đã nhất trí chủ trương thành lập Đảng Cộng sản. Nhưng để
bảo đảm sự thống nhất, Đại hội đồng ý với đề nghị không nên tổ chức ngay Đảng
cộng sản mà đợi đến Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên với
đầy đủ đại diện Bắc Trung Nam thống nhất ý kiến. Nhưng đến ngày 1/5/1929, Đại hội
lần thứ nhất Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã không chấp nhận đề nghị trên
nên đại biểu Bắc Kỳ ra về, xúc tiến thành lập Đảng. Tháng 6/1929, tại ngôi nhà số
312, phố Khâm Thiên, Hà Nội, kỳ bộ Bắc Kỳ quyết định thành lập Đông Dương cộng
sản Đảng.
Tình hình đó nói lên rằng nhu cầu về thành lập một Đảng cộng sản lãnh đạo
phong trào cách mạng là rất bức thiết. Trước ảnh hưởng rất lớn của Đông Dương
cộng sản Đảng, Tổng bộ và Kỳ bộ Nam Kỳ quyết định thành lập A Nam cộng sản
Đảng vào tháng 8/1929. Cánh tả trong đảng Tân Việt cũng tuyên bố thành lập Đông
Dương cộng sản liên đoàn vào tháng 1/1930. Trong vòng 7 tháng, 3 tổ chức cộng sản
nối tiếp nhau ra đời ở Việt Nam, đều ra tuyên ngôn, chính cương và điều lệ, khẳng
định đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc Việt Nam tiến lên chủ nghĩa cộng sản
và cũng đều nhận sự chỉ đạo của quốc tế cộng sản. Đây là sự kiện vô cùng mới mẻ, là


bước phát triển mới ở phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, tạo
ra xung lực mới cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam tiến lên mạnh mẽ và
vững chắc. Đến đây có thể nói ngoài nhiệm vụ quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện
một nhiệm vụ trọng đại, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam là đã đào tạo
ra lực lượng nòng cốt cho cách mạng Việt Nam, gây dựng được các tổ chức tiền thân

Hội nghị thống nhất đặt tên Đảng là Đảng cộng sản Viêt Nam, thông qua chính
cướng vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt và điều lệ vắn tắt của Đảng.
Như vậy hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một Đại hội thành
lập Đảng.
Sau công lao to lớn đầu tiên là xác định con đường cứu nước đúng đắn, việc thống
nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, gắn cách mạng Việt
Nam thành một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế là công lao lớn thứ 2 của
Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
C. KẾT LUẬN


Theo dõi quá trình gần 20 năm Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước cho
đến khi Người trở về thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng ta có thể thấy
những nỗ lực không ngừng của Người. Với 2 bàn tay trắng, Người đã làm việc để
sống, để đi và để học tập, nghiên cứu, thâm nhập vào thực tế ở hầu hết các nước
Âu, Á, Phi… Nguyễn Ái Quốc có vai trò cực kì quan trọng, là người có công lao
đầu tiên và vĩ đại nhất đối với sự khai sinh của Đảng cộng sản Việt Nam năm
1930 và sau này suốt 39 năm sau đó Người đã cùng Đảng lãnh đạo nhân dân đi
đến thắng lợi cuối cùng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status