Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
MỤC LỤC
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY CỔ PHẦN
TƯ VẤN, ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG HẢI DƯƠNG.................................................................................37
2.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất vầ tổ chức quản lý sản xuất ở Công ty cổ phần tư vấn, đầu tư và
xây dựng Hải Dương........................................................................................................................37
2.3.5.2 Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu xuất kho.........................................................................80
- Các trường hợp xuất nguyên vật liệu ở Công ty : .........................................................................85
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp nhập-xuất-tồn nguyên liệu tháng 1/2015................................................95
Kiểm kê nguyên vật liệu ở Công ty cổ phần tư vấn, đầu tư và xây dựng Hải Dương:...................109
CHƯƠNG III...................................................................................................................................110
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY CỔ
PHẦN TƯ VẤN, ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG HẢI DƯƠNG.....................................................................110
3.1. Nhận xét chung về quá trình tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần tư
vấn đầu tư và xây dựng Hải Dương...............................................................................................110
- Công tác phân tích tình hình quản lý và sử dụng nguyên vật liệu ở Công ty...............................113
KẾT LUẬN.......................................................................................................................................118
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
i
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Hình 2.10: Màn hình thao tác tính giá thành xuất kho vật tư..........................................................82
Hình 2.11: Màn hình khai báo công trình vụ việc trong Misa..........................................................83
Hình 2.12: Màn hình nhập liệu phiếu xuất vật tư thi công..............................................................91
Hình 2.13: Màn hình nhập liệu nghiệp vụ xuất bán nguyên vật liệu..............................................101
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
iii
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, xây dựng cơ bản đã và đang trở thành một
ngành sản xuất vật chất quan trọng đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân và là tiền đề vật chất cho xã hội. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế
ngày càng phát triển hơn bao giờ hết ngành xây dựng ngày càng chiếm một vị trí
quan trọng trong việc tạo dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước.
Vì vậy, để ngành xây dựng nói chung và công ty cổ phần tư vấn, đầu tư
và xây dựng Hải Dương nói riêng ngày càng phát triển và có đóng góp cho
nền kinh tế nước nhà thì mục tiêu hàng đầu là tăng lợi nhuận và cơ bản là hạ
thấp được giá thành sản phẩm. Muốn vậy Kế toán với tư cách là công cụ quản
lý phải ngày càng củng cố và hoàn thiện mục tiêu giảm chi phí Nguyên vật
liệu để từ đó có thể hạ thấp được chi phí sản xuất. Điều này đòi hỏi doanh
nghiệp phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ
vốn ra cho đến khi thu hồi vốn, không ngừng tiết kiệm chi phí hạ giá thành
Về mặt kết cấu luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương I: Những lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán nguyên
vật liệu ở các doanh nghiệp sản xuất.
Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại
công ty cổ phần tư vấn, đầu tư và xây dựng Hải Dương.
Chương III: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kế
toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần tư vấn, đầu tư và xây dựng Hải
Dương.
Do trình độ và thời gian thực tập có hạn, công tác quản lý vật liệu rất
phức tạp nên bản luận văn này mới chỉ đi sâu vào tìm hiểu một số vấn đề cơ
bản và chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em kính mong được sự đóng
góp ý kiến của thầy cô và các cô chú trong phòng Tài chính- Kế toán để hoàn
thiện đề tài hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
2
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
1.1.2. Vai trò kế toán nguyên vật liệu trong tổ chức quản lý sử dụng
Theo xu hướng nền kinh tế thị trường hiện nay,
Doanh nghiệp muốn tồn tại phải có năng lực sản xuất đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Muốn làm được vậy cần phải tạo ra được sản phẩm đạt chất
lượng tốt đa dạng giá cả hợp lý. Những yêu cầu đó đều cần yếu tố quan trọng
là nguyên vật liệu. Vì vậy tổ chức quản lý nguyên vật liệu là một vấn đề cấp
thiết cầnd trong công tác quản lý của doanh nghiệp. Nhưng do phạm vi mức
độ và trình độ của các doanh nghiệp là khác nhau nên cách thức quản lý
nguyên vật liệu cũng khác nhau.
Với sự đa dạng và phong phú của nguyên vật liệu như hiện nay thì yêu
cầu quản lý doanh nghiệp đối với từng loại hình cụ thể cũng khác nhau nhưng
cơ bản vẫn dựa trên tinh thần tiết kiệm đúng mức, rõ ràng về số lượng và chất
lượng… để đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất.
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm trên việc quản lý nguyên vật liệu đòi hỏi
phải khách quan khoa học ở tất cả các khâu từ thu mua đến bảo quản dự trữ
và xuất ra sử dụng. Cụ thể:
- Khâu thu mua: Khối lượng nguyên vật liệu phải được đảm bảo
thường xuyên đúng đủ chủng loại số lượng, khối lượng để quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường. Hoạch
định kế hoạch thu mua đáp ứng nhu cầu sản xuất, thường xuyên
kiểm tra đánh giá tình hình thực tế từ đó đảm bảo số lượng giá cả và
chi phí thấp nhất.
- Khâu dự trữ: Quản lý nguyên vật liệu một cách hợp lý đúng yêu
cầu trách thất thoát đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục
không bị gián đoạn tiết kiệm thời gian mà cũng không gây ra tình
trạng ứ đọng vốn tồn kho nguyên vật liệu quá nhiều.
kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu cho từng mục đích khác nhau
Kế toán nguyên vật cần phải được tổ chức khoa học hợp lý để đáp ứng
kịp thời đầy đủ thông tin phục vụ cho nhu cầu quản trị của doanh nghiệp.
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ sở cho kế toán nguyên vật liệu trong
doanh nghiệp
1.2.1 Một số vấn đề lý luận cơ sở cho kế toán doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh trong doanh nghiệp
- Các khái niệm cơ bản của khoa học kế toán và giả định kế toán.
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
5
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Khái niệm đơn vị kế toán
Khái niệm này tương đồng với khái niệm đơn vị kinh doanh. Theo khái
niệm này, thông tin tài chính được phản ánh cho một đơn vị kế toán cụ thể.
Mỗi đơn vị kinh tế riêng biệt phải được phân biệt là một đơn vị kế toán độc
lập, có bộ báo cáo tài chính của riêng mình. Khái niệm đơn vị kế toán đòi hỏi
các báo cáo tài chính được lập chỉ phản ánh các thông tin về tình hình tài
chính của đơn vị kế toán mà không bao hàm thông tin tài chính về các chủ thể
kinh tế khác như tài sản riêng của chủ sở hữu hay các thông tin tài chính của
các đơn vị kinh tế độc lập khác. Nói cách khác khái niệm đơn vị kế toán quy
định giới hạn về thông tin tài chính mà hệ thống kế toán cần phải thu thập và
các hoạt động sản xuất kinh doanh ngưng lại và mọi tài sản đều được bán
xong kế toán mới lập báo cáo tài chính thì sẽ không có tác dụng gì trong việc
điều hành hoạt động của Ban Giám đốc. Để kịp thời cung cấp các thông tin
cần thiết cho việc quản lý doanh nghiệp, kế toán phải chia hoạt động lâu dài
của đơn vị thành nhiều kỳ có độ dài về thời gian bằng nhau, từ đó dễ dàng so
sánh, đánh giá và kiểm soát doanh thu, chi phí và lãi (lỗ) của từng kỳ. Giả
định này dựa trên giả thiết hoạt động của đơn vị sẽ ngưng lại vào một thời
điểm nào đó để kế toán có thể lập các báo cáo có tính chất tổng kết tình hình
hoạt động trong thời gian qua và cung cấp các thông tin về kết quả đạt được
lúc cuối kỳ.
Giả định hoạt động liên tục.
Kế toán phải đặt giả thiết là doanh nghiệp sẽ hoạt động liên tục trong
một thời gian vô hạn định hay sẽ hoạt động cho đến khi nào các tài sản cố
định hoàn toàn bị hư hỏng và tất cả trách nhiệm cung cấp sản phẩm, hàng hóa
hay dịch vụ của đơn vị đã được hoàn tất hoặc ít nhất là không bị giải thể trong
tương lai gần. Giả định này được vận dụng trong việc định giá các loại tài sản
đang sử dụng trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp đang sử dụng cho nên chưa
bán hoặc không thể bán được do đó giá trị của những tài sản này sẽ được tính
toán và phản ánh trên cơ sở giá gốc và sự đã hao mòn do sử dụng. Tức là giá
trị tài sản hiện còn là tính theo số tiền mà thực sự doanh nghiệp đã phải trả khi
mua sắm hay xây dựng trừ đi giá trị đã hao mòn chứ không phải là giá mua
bán ra trên thị trường. Mặt khác giả thiết về sự hoạt động lâu dài của doanh
nghiệp còn là cơ sở cho các phương pháp tính khấu hao để phân chia giá phí
của các loại tài sản cố định vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp theo thời
gian sử dụng của nó.
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
7
Lớp: CQ49/21.10
Nguyên tắc giá gốc cho phép kế toán ghi nhận các đối tượng theo giá
vốn ban đầu khi hình thành và không cần điều chỉnh theo sự thay đổi của giá
thị trường trong suốt thời gian tồn tại đối tượng kế toán đó ở đơn vị kế toán.
Nguyên tắc giá thị trường cho phép kế toán ghi nhận sự thay đổi giá
của các đối tượng kế toán theo thị trường.
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
8
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Nguyên tắc giá thấp hơn giữa giá gốc và gí thị trường cho phép kế toán
chọn giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường để phản ảnh các đối tượng kế
toán trên báo cáo kế toán.
*Nhóm các nguyên tắc là cơ sở ghi nhận và đo lường thu nhập, chi phí,
kết quả:
Nguyên tắc kế toán tiền cho phép kế toán ghi nhận và đo lường thu
nhập, chi phí khi và chỉ khi đơn vị kế toán thu hoặc chi tiền đối với các giao
dịch liên quan thu nhập và chi phí.
Nguyên tắc kế toán dồn tích cho phép kế toán ghi nhận thu nhập và
chi phí khi chúng phát sinh đủ điều kiện ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí mà
không nhất thiết phải gắn với dòng tiền thu hoặc chi.
Nguyên tắc phù hợp yêu cầu thu nhập và chi phí của đơn vị kế toán
phải được ghi nhận một cách tương ứng trong kì kế toán nhằm đảm bảo việc
xác định kết quả của kì kế toán được chính xác và tin cậy.
Nguyên tắc thận trọng xuất phát từ yêu cầu về tính tin cậy của thông
tin kế toán. Một hệ thống thông tin kế toán có độ thận trọng cao sẽ đang tin
cậy hơn so với một hệ thống thông tin kế toán không thận trọng. Nguyên tắc
này đặt ra yêu cầu cơ bản đối với việc ghi nhận sự tăng giảm vốn chủ sở hữu
và do đó có ảnh hưởng nhất định đến việc ghi nhận thu nhập và chi phí. Kế
toán sẽ ghi nhận sự tăng lên của vốn chủ khi và chỉ khi có chứng cớ chắc
chắn. Ngược lại, sự giảm đi của vốn chủ sẽ được kế toán ghi nhận ngay khi có
chứng cớ cụ thể.
Các nguyên tắc kế toán mở ra cho kế toán khả năng linh hoạt trong
việc xử lí thông tin. Tuy nhiên, việc lạm dụng các nguyên tắc xử lí thông
tin khác nhau đối với các nghiệp vụ kinh tế tài chính cùng bản chất trong
hoàn cảnh tương tự vì một mục đích nào đó có thể làm cho tính linh hoạt
trở thành tùy tiện thiếu nhất quán và làm vô hiệu hóa tác dụng tích cực của
thông tin kế toán.
- Cơ sở kế toán
Hiện nay,Việt nam cũng như các quốc gia trên toàn thế giới thực hiện
công tác kế toán dựa trên 2 cơ sở: cơ sở tiền và cơ sở dồn tích. Mỗi cơ sở có
một nguyên tắc và quy định ghi sổ riêng.
Cơ sở dồn tích
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
10
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
11
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Luận thuyết thứ nhất đặt trọng tâm vào chủ thể quản lí vi mô do đó
nhấn mạnh tính kinh tế cảu kế toán khi nó được sử dụng để phản ánh các đối
tượng quản lí kinh tế tài chính của đơn vị
Luận thuyết thứ hai lại đặt trọng tâm vào chủ thể quản lý vĩ mô do đó
nhấn mạnh tính pháp lý của kế toán khi nó được Nhà nước thể chế hóa.
Trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, việc chỉ theo đuổi một
trong hai luận thuyết trên đều dẫn đến những sai lầm. Khung hướng thứ hai
tồn sung pháp lý một mặt làm mờ nhạt đi ranh giới giữa hệ thống lý luận kế
toán với các quy định pháp luật về kế toán, mặt khác làm mất tính chủ động
của đơn vị kế toán trong việc thiết lập một hệ thống kế toán linh hoạt có khả
năng thích ứng với đặc điểm và điều kiện cụ thể của đơn vị trong từng giai
đoạn phát triển. Việc thể chế hóa kế toán một cách thái quá sẽ dẫn đến sự can
thiệp sâu của Nhà nước và Chính phủ vào hoạt động quản lí kinh tế của các
đơn vị, kế toán sẽ không thực hiện đúng, đầy đủ vai trò “ ngôn ngữ kinh
doanh” của nó thậm chí còn có thể gây ra hiệu ứng ngược. Tuy nhiên nếu chỉ
theo luận thuyết đầu tiên, khuynh hướng thoát ly khỏi sự dàng buộc về pháp
lý có thể làm cho kế toán rơi vào tình trạng lệ thuộc vào mục đích của chủ thể
quản lí vi mô, sự tự chủ thái quá của các đơn vị kế toán có thể dẫn đến tình
quan tương đương như Quốc vụ khanh, hoặc Thượng viện ban hành. Luật kế
toán quy định những vấn đề chung có tính nguyên tắc làm nền tảng cho các
quy định cụ thể ở Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán của quốc gia. Chuẩn
mực kế toán là những quy tắc cơ bản và các quy định có tính mực thước về
phương pháp hạch toán, đánh giá, thuyết minh và trình bày thông tin, số liệu
kế toán được áp dụng để hạch toán và lập các báo cáo tài chính đảm bảo hoàn
toàn trung thực và khách quan về tình trạng hoạt động tài chính của đơn vị.
Hay nói cách khác, Chuẩn mực kế toán quy định và hướng dẫn những nội
dung, nguyên tắc, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất để làm
cơ sở ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính. Chế độ kế toán được quy định
và hướng dẫn những nội dung, phương pháp kế toán cụ thể mang tính chất
đặc thù trong một số lĩnh vực hoặc ngành nghề kinh doanh và loại hình đơn vị
kế toán cụ thể. Ở Việt Nam hệ thống pháp lí kế toán cũng bao gồm ba bộ
phận như trên.
-
Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về
vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản
ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp
với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo
cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
13
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.
Sự khác nhau
* Mục đích:
- Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành
hoạt động sản xuất kinh doanh. Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ
cho việc lập các báo cáo tài chính.
* Đối tượng phục vụ:
- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý
doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc) Trong khi, đối tượng sử dụng
thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối
tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan
tài chính, cơ quan thống kê)
* Đặc điểm của thông tin:
- Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số
liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông
tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến
động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh
giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình
thái giá trị và hình thái hiện vật. Còn kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy
ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông
tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.
*Nguyên tắc cung cấp thông tin:
- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn
quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của
doanh nghiệp. Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được
thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải
để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.
* Tính bắt buộc theo luật định:
- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc. Kế toán tài chính có tính bắt
buộc theo luật định. Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa
là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc
thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó
sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành).
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
16
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
-
Học viện Tài chính
Chính sách kế toán
Bất kể một Doanh nghiệp nào cũng đều phải áp dụng các chính sách kế
toán trong quá trình hoạt động để đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Bởi vì,
chính sách kế toán là các chủ trương và các hành động trên phương diện kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 8, chính sách kế toán bao gồm các quy
định, hướng dẫn, quy ước, nguyên tắc và các định mức được Doanh nghiệp áp
dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính .. Ví dụ như tại các doanh
nghiệp có các chính sách về: Hình thức kế toán áp dụng (Nhật ký chung,
chứng từ ghi số, nhật ký -chứng từ…), Chế độ kế toán áp dụng, Niên độ kế
Học viện Tài chính
• Căn cứ và nguồn hình thành: Nguyên vật liệu chia thành
- Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: do mua ngoài, nhận góp vốn
kinh doanh hoặc biếu tặng
- Nguyên vật liệu tự chế: do doanh nghiệp tự sản xuất .
• Căn cứ vào mục đích công dụng của nguyên vật liệu có thể chia
nguyên vật liệu thành:
- Nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh gồm:
Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm
Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các xưởng các bộ phận
liên quan như bán hàng quản lý doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác
Nhượng bán
Góp vốn liên doanh
Đem quyên tặng
• Căn cứ nội dung kinh tế nguyên vật liệu chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động cấu thành chính nên
thực thể của sản phẩm được sản xuất ra như sắt thép gạch xi
măng… ở các doanh nghiệp xây dựng. Nửa thành phẩm mua ngoài
với đối tượng được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất
- Vật liêu phụ: là những vật liệu khi dùng chỉ có tác dung làm tăng
chất lượng sản phẩm, hoàn thiện hoặc đảm bảo cho các công cụ hoạt
động bình thường như vôi, ve …
- Nhiên liệu : Là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng
cho quá trình sản xuất như xăng dầu.. phục vụ cho máy móc thiết bị
thi công
- Phụ tùng thay thế: là những vật tư, phụ tùng chi tiết được dùng để
thay thế sửa chữa máy móc thiết bị phương tiện vật tải
- Vật liệu khác: Là những loại vật liệu chưa được xếp hạng vào các
thời điểm nhất định và theo những nguyên tắc nhất định.
- Nguyên tắc giá gốc: Theo chuẩn mực 02 - Hàng tồn kho vật liêu
phải được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc hay được gọi là trị giá vốn thực tế
của vật liệu là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được
những vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
- Nguyên tắc thận trọng: Vật liệu được đánh giá theo giá gốc, nhưng
trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo
giá trị thuần có thể được thực hiện. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá
bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí
ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu
thụ chúng.
Sinh viên: Nguyễn Trung Kiên
19
Lớp: CQ49/21.10
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh
giá vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã chọn phương pháp
nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán.
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo
phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực
và hơp lý hơn, đồng thời phải giải thích được ảnh hưởng của sự thay đổi đó.
1.2.3.2 Các phương pháp đánh giá nguyên vật liệu
Sự hình thành trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu được phân biệt ở
ngoài gia công chế biến cộng (+) số tiền phải trả cho người nhận gia công chế
biến cộng (+) các chi phí vận chuyển bốc dỡ khi giao nhận.
- Nhập vật tư do nhận vốn góp liên doanh: Trị giá vốn thực tế của
nguyên vật liệu nhập kho là giá do hội đồng liên doanh thỏa thuận cộng (+)
các chi phí khác khi tiếp nhận nguyên vật liệu.
- Nhập do được cấp: Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho
là giá ghi trên bản giao nhận cộng (+) các chi phí phát sinh khi nhận.
- Nhập do được biếu, tặng, tài trợ: Trị giá vốn thực tế của nguyên vật
liệu nhập kho là giá trị hợp lý cộng (+) các chi phí khác phát sinh.
b/Ở thời điểm xuất kho:
Nguyên vật liệu được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời
điểm khác nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó, khi xuất kho nguyên vật
liệu tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình tự quản lý và điều kiện
trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn một
trong các phương pháp sau đây để tính trị giá vốn thực tế xuất kho của
nguyên vật liệu:
* Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này, khi
xuất kho nguyên vật liệu thì căn cứ vào số lượng xuất kho thuộc lô nào và
đơn giá thực tế của lô ấy để tính trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất
kho. Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp có chủng loại
vật tư ít và nhận diện được từng lô hàng.
* Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, trị giá
vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho được tính căn cứ vào số lượng
nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền, tính theo công thức:
Trị giá vốn thực tế
nguyên vật liệu
=
Số lượng
đầu kỳ
+
+
Trị giá vốn thực tế nguyên vật
liệu nhập trong kỳ
Số lượng nguyên vật liệu nhập
trong kỳ
Đơn giá bình quân gia quyền đựơc tính cho từng thứ nguyên vật liệu.
Nếu đơn giá bình quân gia quyền xác định cho cả kỳ đựơc gọi là đơn giá bình
quân cả kỳ hay đơn giá bình quân cố định. Theo cách tính này, khối lượng
tính toán có giảm nhưng chỉ tính được trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu
vào thời điểm cuối kỳ nên không thể cung cấp thông tin kịp thời.
Đơn giá bình quân cũng có thể được xác định sau mỗi lần xuất được gọi
là đơn giá bình quân liên hoàn hay đơn giá bình quân di động. Cách tính này xác
định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho hàng ngày, nên có thể cung
cấp thông tin một cách kịp thời. Tuy nhiên khối lượng công việc tính toán nhiều
cho nên nó chỉ thích hợp với những doanh nghiệp đã kế toán máy.
- Phương pháp nhập trước xuất trước: Phương pháp này dựa trên giả
định hàng nào nhập trước sẽ được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá
nhập. Trị giá của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của
những lần nhập sau cùng.
- Phương pháp nhập sau xuất trước: Phương pháp này dựa trên giả
định hàng nào nhập sau được xuất trước, lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập.
Trị giá nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần
nhập đầu tiên.
- Phương pháp tính theo giá hạch toán: Giá hạch toán của nguyên vật
liệu là giá do doanh nghiệp tự quy định(có thể lấy giá kế hoạch hoặc giá tại