THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên Sáng kiến: "Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tác
phẩm văn chương theo hướng đổi mới".
2. Lĩnh vực áp dụng Sáng kiến: Trong giảng dạy môn Ngữ văn THCS.
3. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Thị Anh.
Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 09/11/1973
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng trường THCS Đồng Tâm.
Điện thoại: 01668927488.
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THCS Đồng Tâm
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Đồng Tâm, địa chỉ:
Cầu Me, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, Hải Dương, điện thoại
03203767178
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng Sáng kiến:
+ Học sinh có ý thức học tập
+ Giáo viên giảng dạy nhiệt tình.
+ Đảm bảo cơ sở vật chất, đồ dùng, thiết bị phục vụ dạy và học.
+ Có đầy đủ SGK, STK và tài liệu liên quan.
- Thời gian áp dụng Sáng kiến: Từ năm học 2013 - 2014
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
(Ký, ghi rõ họ tên)
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
- Để sáng kiến áp dụng có hiệu quả cần có đủ cơ sở vật chất, đồ dùng,
thiết bị dạy học như máy tính, máy chiếu, bảng phụ, loa đài, SGK, STK... và
2
các tài liệu liên quan. Bên cạnh đó học sinh phải có ý thức học tập và hơn hết
là giáo viên phải nhiệt tình, tâm huyết với nghề.
- Sáng kiến được áp dụng từ năm học 2013-2014
- Đối tượng áp dụng sáng kiến rất rộng rãi cho cả học sinh giỏi, khá,
trung bình, yếu ở cấp học THCS và giáo viên dạy môn Ngữ văn cấp THCS.
3. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
Tôi đã nghiên cứu và hoàn thiện sáng kiến dựa trên quan điểm chỉ đạo
của Đảng và Nhà nước, của nghành GD&ĐT và qua thực tế giảng dạy, dự giờ
đồng nghiệp.
Điểm mới của sáng kiến là GV tạo cho HS được làm việc nhiều qua hệ
thống câu hỏi của mình. GV thực sự là người dẫn dắt, điều khiển còn HS chủ
động tìm kiến thức. Hệ thống câu hỏi phải phong phú để áp dụng cho nhiều
đối tượng học sinh và để giờ học sôi nổi, kết thúc giờ học là một sự nuối tiếc
mà HS phải thốt lên " Đã hết giờ rồi à?".
Câu hỏi của GV mang tính sáng tạo thì câu trả lời của HS cũng mang
tính sáng tạo, thậm chí ngoài sức tưởng tượng của GV. Công việc còn lại của
GV là bổ sung, uốn nắn câu trả lời cho đúng hướng. Điều đó sẽ hoàn toàn
khác trước là GV áp đặt HS công nhận kiến thức của mình tiết học sẽ rất nặng
nề. Có khi GV hỏi chỉ để hỏi làm cho giữa GV và HS xa rời nhau, GV không
để HS nhập cuộc bởi vậy các em không hứng thú với tiết học. Hệ thống câu
hỏi trong sáng kiến này sẽ giúp cho tất cả HS được trả lời có em còn được
hỏi. Như vậy sẽ giúp các em được nâng tầm và học tập tích cực hơn rất nhiều.
Trước đây hiểu biết của GV nông cạn bởi không chịu tìm hiểu thì giờ
đây phần câu hỏi dành cho GV buộc GV phải tìm hiểu kiến thức bài giảng sẽ
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
Nhà trường cần hỗ trợ về cơ sở vật chất để ngày càng hiện đại, đầy đủ
hơn.
Bộ phận thư viện thường xuyên bổ sung sách và các tài liệu tham khảo
của bộ môn.
Giáo viên phải tâm huyết với nghề, giàu tinh thần trách nhiệm, theo dõi
để nắm bắt tình hình học sinh có động viên, khích lệ kịp thời.
Nhà trường tích cực tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn liên
trường để mở rộng sáng kiến và sáng kiến được hoàn thiện hơn.
4
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Bác Hồ đã từng nói "Giáo dục là quốc sách hàng đầu". Sinh thời
Người đã rất quan tâm tới giáo dục bởi GD&ĐT có nhiệm vụ đào tạo nguồn
nhân lực có tính quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Phát triển giáo
dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của toàn xã hội trong đó có đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục, đặc biệt khi nước ta đang
đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục như hiện nay. Thân Nhân Trung
khẳng định "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Người nắm trong tay
nguyên khí ấy chính là người thầy. Với ý nghĩa đó người thầy đang gánh trên
vai một trọng trách vinh quang nhưng đầy thách thức. Sứ mệnh của người
thầy là đào tạo những thế hệ tương lai có đủ phẩm chất và năng lực, năng
động và sáng tạo để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ hội
nhập. Chất lượng giáo dục đang là vấn đề nóng bỏng của toàn xã hội nhất là
trong giai đoạn hiện nay, người người quan tâm, nhà nhà quan tâm. Đảng và
Nhà nước ta đang chuẩn bị đề án "Đổi mới căn bản và toàn diện trong
người học phải tiến hành tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng nỗ lực
của chính mình, nhờ đó tâm lí được thay đổi và phát triển dần dần, tự hoàn
thiện nhân cách, hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học chính là việc làm của
giáo viên nhằm tạo ra được tính tích cực trong hoạt động của học sinh, giúp
học sinh lấy đó để tự học, tự bộc lộ năng lực cảm xúc và tư duy.
Thành tựu của lí luận dạy học hiện đại khẳng định: " GV phải hướng
dẫn HS tự mình chiếm lĩnh kiến thức. " Một GV sáng tạo là một GV biết giúp
đỡ HS hơn là chỉ đóng vai trò truyền đạt tri thức" - Trần Bá Hoành. Hệ thống
câu hỏi hợp lí, khoa học sẽ tạo được hoạt động cho cả thầy và trò đúng với vai
trò chức năng mới. Xây dựng hệ thống câu hỏi chính là đã tạo ra một hệ thống
việc làm cho HS. Đây là một cách hữu hiệu đề cao vai trò trung tâm, vai trò
chủ thể của người học.
2. Cơ sở thực tế
2.1. Thực trạng dạy tác phẩm văn chương ở trường THCS
Xây dựng hệ thống câu hỏi là một trong những tiêu chí đánh giá khả
năng sư phạm của GV. Trong thực tế hoạt động đổi mới phương pháp dạy học
6
ở trường THCS chưa mang lại hiệu quả cao. Truyền thụ tri thức một chiều
vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên ngữ văn.
Qua dự giờ tôi thấy giáo viên có nhiều câu hỏi chưa phù hợp đối tượng
học sinh hoặc chưa tường minh làm cho các em lúng túng khi trả lời.
Câu hỏi có khi vụn vặt quá hoặc chưa đặt trong hệ thống. Điều đó đã
dẫn đến khai thác văn bản chưa sâu không lắng đọng trong học sinh, trò sẽ
quên ngay.
Có những tiết giảng câu hỏi không phát huy được năng lực học sinh,
giờ học trầm hoặc buồn tẻ. Nhiều giáo viên độc thoại, độc diễn trên bục
giảng.
Có những tiết giảng đáng tiếc vì không có câu hỏi gắn với giải quyết
3.1.3. Phương pháp điều tra
Tiến hành khảo sát trước và sau khi nghiên cứu để khẳng định kết quả
của sáng kiến.
Trực tiếp giảng dạy để điều tra mức độ phát biểu xây dựng bài.
3.2. Một số nguyên tắc khi thiết kế hệ thống câu hỏi trong giờ dạy
học văn.
3.2.1. Các câu hỏi phải phong phú, đa dạng, phù hợp với đối tượng
học sinh.
Một lớp học giống như một cộng đồng dân cư thu nhỏ với những tính
cách, sở thích, khả năng, trình độ, cách nhìn, cách hiểu về thế giới nghệ thuật
khác nhau. Vì vậy mà giáo viên không thể máy móc áp đặt bất kì một loại câu
hỏi nào cho tất cả học sinh trong lớp. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy
trình giải mã một văn bản văn học. Từ phát hiện chỉ cần trí nhớ đến cảm nhận,
thưởng thức(Tái tạo sáng tạo) cần tư duy trí tuệ của học sinh. Tất nhiên hệ
thống câu hỏi từ dễ đến khó, trong dễ có khó này hoàn toàn không phải để
chia đối tượng học sinh thành từng nhóm; Giỏi, khá, trung bình, yếu và đối
tượng học sinh nào thì tương ứng với loại câu hỏi đó.
Bất kì đối tượng học sinh nào muốn phát triển tư duy cũng phải bắt đầu
từ những kiến thức cơ bản nhất và" Từ kiến thức sẽ gọi ra kiến thức". Kiến
thức khi được học sinh làm chủ sẽ trở thành kiến thức nền, để từ đó học sinh
tiếp tục thu nhận, lĩnh hội những kiến thức mới ở mức độ cao hơn, khó hơn. Ở
đây tinh thần cơ bản của dạy học lấy học sinh làm trung tâm của dạy học tích
8
cực là bằng năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm. Giáo viên phải đưa ra
được các mức độ câu hỏi, đặt trong các tình huống cụ thể để làm sao yêu cầu
của câu hỏi đó không quá dễ( Không cần học sinh động não suy nghĩ) cũng
không quá khó( Làm giảm sự hứng thú, say mê, tích cực tìm kiếm lời giải
đáp). Các nhà tâm lí học xếp các câu hỏi ở mức độ đó là đã chạm tới được "
Nhan đề đặt dấu phẩy ở giữa là một cách nhấn mạnh và mở rộng
nghĩa: Ở đây tác giả không chỉ muốn nói thuốc lá, hút thuốc lá là ôn dịch
nguy hiểm và khó trừ mà còn tỏ thái độ lên án, nguyền rủa việc hút thuốc lá:
9
thuốc lá, ngươi là đồ ôn dịch, đồ chết toi, mà cái tác hại rõ ràng nhất là đe dọa
sức khỏe và tính mạng loài người.
=> Tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ với những phẩm
chất tốt đẹp: dũng cảm, lạc quan, sẵn sàng hi sinh vì Tổ Quốc...)
3.2.2. Câu hỏi về kiến thức cơ bản
Câu hỏi này dành cho tất cả các đối tượng học sinh. Nó chiếm số lượng
tương đối lớn trong 1 tiết dạy học văn. Bởi muốn trả lời được những câu hỏi
khó trước hết phải trả lời được những câu hỏi về kiến thức cơ bản. Có những
giáo viên ngộ nhận về đặc trưng của phương pháp đổi mới, cho rằng trong giờ
dạy học văn, câu hỏi nào cũng phải “lạ”, “lạ” đến mức học sinh khó hiểu, khó
trả lời. Thực ra loại câu hỏi này càng giản dị, dể hiểu càng tốt để làm sao học
sinh trung bình, thậm chí 1 số em yếu kém nếu được giáo viên khuyến khích
động viên vẫn trả lời tốt.
Ví dụ 1: Dạy bài “Đồng chí” của Chính Hữu (Ngữ văn 9)
? Quê hương anh bộ đội được tác giả giới thiệu qua những câu thơ nào?
Tác giả sử dụng nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
=>
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Kết cấu sóng đôi, vận dụng thành ngữ, ngôn ngữ mộc mạc diễn tả cái
nghèo của cả anh và tôi -> những người lính có cùng hoàn cảnh xuất thân ->
dễ cảm thông.
Ví dụ 2: Dạy văn bản “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng (Ngữ
văn 9)
?Bé Thu phản ứng như thế nào khi nghe tiếng ông Sáu “Thôi! Ba đi
nghe con!” Em có nhận xét gì về phản ứng của bé Thu “Kêu thét lên.... chạy
dang đôi tay ôm chặt lấy cổ ba nó... hôn cùng khắp”
=> Phản ứng hết sức bất ngờ, mãnh liệt, nó là biểu hiện của tình yêu
thương bị dồn nén.Tình cảm ùa ra cuống quýt nồng thắm, cháy bỏng.
túng mượn rượu giải khuây vẫn không thôi mơ vẽ cho mình một bức tranh
kiệt tác, nhưng lại là một ông già rất tốt bụng bởi tính kiên cường, mạnh mẽ,
giàu tình yêu thương con người. Cụ lẳng lặng vẽ bức tranh lá trong gió tuyết
hoàn toàn chỉ nhằm mục đích duy nhất là cứu Giônxi. Khi vẽ, cụ hoàn toàn
không nghĩ mình đang làm một kiệt tác cho cả một đời, không báo trước cho
Giônxi cũng không báo trước cho Xiu. Bản chất tốt đẹp của cụ là thế!
12
? Có thể gọi bức tranh “Chiếc lá cuối cùng” của cụ BơMen là một kiệt
tác được không? Tạo sao?
=> Được vì có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao:
+ Nó rất đẹp, rất giống lá thật
+ Giá trị nhân sinh cao
+ Nó được vẽ trong đêm mưa gió
+ Nó phải đổi bằng tính mạng con người
Ví dụ 2: Khi dạy văn bản " Quê hương" của Tế Hanh ( Ngữ văn 8)
? Cảm nhận của em về 2 câu thơ:
" Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió"
Có em đã cảm nhận: Hình ảnh cánh buồm trắng căng gió biển khơi vốn
gần gũi quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng vừa
hùng tráng. Nhà thơ chợt nhận ra linh hồn của làng chài quê hương trong
trong hình ảnh cánh buồm. Câu thơ vừa vẽ ra chính xác hình thể vừa gợi ra
cái linh hồn của sự vật. Bao trìu mến thiêng liêng, bao hi vọng mưu sinh của
người dân làng chài gửi vào cánh buồm no gió.
3.2.4. Câu hỏi gợi mở
Khi soạn giáo án trên cơ sở nắm vững đối tượng HS, GV phải lường
trước được các tình huống xảy ra: HS có trả lời được không? Nếu không trả
Câu hỏi gợi mở: Những chi tiết nào trong truyện có liên quan đến
những ngôi sao? Vì sao có tính chất gì? Hàm ý của tác giả?
Ví dụ 3: Khi dạy bài " Nói với con" của Y Phương (Ngữ văn 9).
Em hiểu thế nào về câu thơ:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Câu hỏi gợi mở: Từ "nhỏ bé" ở đây được hiểu nhỏ về thể xác hay tâm
hồn?
3.2.5. Câu hỏi tích hợp, liên môn
Đây là dạng câu hỏi mang tính chất mở rộng để kích thích tư duy, rèn
luyện trí nhớ cho HS. Các em không chỉ biết đến bài đang học mà có thế biết
bài ngoài chương trình hay môn học có nội dung kiến thức liên quan hoặc
những bài đã học để các em có lập trình một hệ thống kiến thức. Dạng câu hỏi
14
này tập cho các em biết hệ thống hoá kiến thức, tư duy nhiều chiều sự hiểu
biết đa dạng và nhận thấy các môn học, phân môn có liên quan chặt chẽ và hỗ
trợ lẫn nhau. Những câu hỏi tích hợp làm cho HS có ý thức học tập tích cực
hơn. Đây là những câu hỏi không mới song không khéo sẽ trở lên khiên
cưỡng, gượng ép.
Ví dụ 1: Em học tập được gì về phương pháp nghị luận qua văn bản:
“Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn (Ngữ văn 8)
(Tích hợp với phân môn Tập làm văn)
=> Dẫn chứng xác thực; lí lẽ sắc sảo kết hợp với tình cảm chân thành,
lập luận chặt chẽ; giọng văn lúc tha thiết lúc hùng hồn, đanh thép; sử dụng
nhiều biện pháp tu từ.
Ví dụ 2: Khi dạy bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (Ngữ văn
9)
Qua bài thơ em học tập được cách miêu tả và biểu cảm như thế nào?
lá em sẽ làm gì? ( HS tự bộc lộ)
Ví dụ 2: Dạy bài “Bài toán dân số” (Ngữ văn 8)
? Em đã hiểu tác hại của sự gia tăng dân số? Vậy hành động của em
trong hiện tại và tương lai là gì? ( HS tự bộc lộ)
Ví dụ 3: Dạy bài “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê (Ngữ văn
9)
? Tác phẩm đã đề cập đến phẩm chất tốt đẹp của ba nữ thanh niên xung
phong. Một trong những phẩm chất khiến ta khâm phục là tinh thần dũng cảm
không sợ hi sinh. Nếu đất nước lại xảy ra chiến tranh em sẽ làm gì? ( HS tự
bộc lộ)
3.2.7. Câu hỏi dành cho chính giáo viên
Loại câu hỏi này có thể không khó nhưng nó đòi hỏi phải có sự đầu tư,
tìm tòi cho bài học, bài dạy. Đây thường là những câu hỏi rộng hơn, xa hơn so
với nội dung trọng tâm của tác phẩm.Ví dụ như câu hỏi bàn về bản thân tác
giả (SGK chưa đề cập), câu hỏi về một tác phẩm khác cùng thể loại, cùng đề
tài, câu hỏi về những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học về một tác giả, tác phẩm nào đó, tâm sự của chính tác giả về tác phẩm...
Sở dĩ gọi là câu hỏi dành cho chính GV vì giáo viên tự đặt câu hỏi và
tìm cách trả lời như là một sự chuẩn bị bài dạy. Thông thường đa số HS
16
không chủ động, không có điều kiện tìm hiểu, chuẩn bị trước. Tác dụng của
loại câu hỏi này là rèn luyện cho HS một cách rất tự nhiên vào việc tìm hiểu
một tác phẩm văn chương một cách toàn diện như thế nào? Khi học sinh vận
dụng để viết bài văn chắc chắn bài viết sẽ sinh động, phong phú, hấp dẫn và
giàu chất văn hơn.
Ví dụ 1: Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - tác giả “Chiếc lược ngà” đã
qua đời vào ngày 13/2/2014.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm
Bác là Hồ Chí Minh
Nghĩa là với Hồ Chí Minh, cái việc thức suốt đêm vì giấc ngủ của các
cháu bộ đội, dân công là một việc đã hoá tự nhiên, bình thường trong cuộc đời
“Không ngủ mà Người đã nguyện hiến dâng cho hạnh phúc của dân tộc”
Cho nên khi tôi trăn trở, vật vã mãi để tìm ra âm hưởng:
Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
là tôi muốn ngầm chuyển hoá từ nét hoạ sang hình khối khác, từ hình ảnh Bác
trong tranh thành bức tượng Hồ Chí Minh cháy lên đời đời như chính ngọn
lửa bất diệt của Người, ngọn lửa chiến đấu, ngọn lửa tình thương, ngọn lửa
nhân văn..
(Minh Huệ - Tâm tình về “Đêm nay Bác không ngủ”)
Ví dụ 4: Khi dạy bài Nói với con của Y Phương (Ngữ văn 9):
GV cho HS biết thêm thông tin: "Khi sáng tác bài thơ Nói với con
những năm 80 của TK XX, thế hệ của tôi vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh. Đất
nước vừa mới thống nhất, nền kinh tế nước ta như một người bệnh trọng mới
ốm dậy. Trong bối cảnh khốn khó đó, kẻ xấu người tốt được bộc lộ. Bối cảnh
xã hội tác động rất mạnh mẽ đến đời sống con người, nhất là đối với các dân
tộc miền núi. Cái nghèo đói hiện lên từng con phố, bản làng, vào từng nhà và
từng con người cụ thể. Chúng tôi nghĩ chỉ có thể tựa vào văn hoá truyền thống
mới đững vững được trong lúc này.Vì thế tôi viết bài thơ nhằm tôn vinh dân
tộc Tày của tôi, dưới hình thức tâm sự của người cha với con.(Lúc này chúng
tôi sinh con gái, cháu mới được 1 tuổi). Tình yêu con lớn dần cùng tình yêu
dân tộc, tâm trạng tôi lúc này thật nhiều nỗi niềm thiêng liêng da diết và nó đã
thổn thức trong tôi thành những ý thơ.
18
(Gặp nhà thơ Y Phương - Phương Thu)
=>Hoàn cảnh sáng tác của nhiều bài thơ rất thú vị:
Dạng câu hỏi dành cho GV giúp tôi thấm thía câu nói “Dạy học tức là
học 2 lần”, nội dung giáo viên tìm hiểu ngoài tác phẩm đưa ra sẽ tăng độ chân
thực, kiến thức mới mẻ cuốn hút học sinh tạo nên niềm tin tưởng. Và hơn thế
với các tác phẩm thơ giúp cho cảm xúc các em thăng hoa và biết cách sáng
tác thơ nữa.
3. 3. Các câu hỏi phải đảm bảo nội dung bài học
Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo tinh thần đổi mới vẫn
yêu cầu GV “Khám phá bài văn thật sâu sắc, tự mình rung cảm thật sự” để
trước hết nắm vững yêu cầu trọng tâm của bài học, xây dựng một hệ thống
câu hỏi hợp lí, khoa học. Hệ thống câu hỏi này không thế nằm ngoài nội dung
mà bài học đặt ra. GV phải xác định đâu là nội dung trọng tâm, nội dung liên
tưởng...để hướng dẫn HS khai thác tác phẩm văn học, khai thác hình tượng
nhân vật...
3.4. Các câu hỏi phải trong 1 hệ thống
Các câu hỏi trong một bài dạy học văn phải đảm bảo một trình tự hợp
lí, khoa học. Cả bài học là một thể thống nhất không rời rạc. Muốn làm tốt
được việc này GV phải xác định bố cục bài dạy văn một cách rõ ràng các câu
hỏi sẽ đi theo bố cục ấy. Nhìn vào hệ thống câu hỏi khoa học, hợp lí có thể
hình dung được nội dung tác phẩm, hình dung được con đường chiếm lĩnh
khám phá tác phẩm văn chương của thầy và trò như thế nào?
Để làm rõ tính hệ thống của câu hỏi, GV phải chú ý tới các câu hỏi
chuyển tiếp giữa các ý, các phần trong bài giảng. Các câu hỏi chuyển tiếp này
giúp cho bài giảng chặt chẽ, uyển chuyển, nhịp nhàng.
Ví dụ 1: Dạy văn bản “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận (Ngữ văn 9)
?Bài thơ có câu hát căng buồm ra khơi, còn khi đánh cá trên biển thì
sao?
(chuyển sang phần 2)
?Một đêm lao động mãn nguyện, khí thế của đoàn thuyền khi trở về
như thế nào?
động, máy móc trong công việc cảm nhận tác phẩm văn chương vẫn còn. Thứ
hai là quan điểm đạo lí thầy trò theo truyền thống Á Đông. Thứ ba là bản thân
người thầy không thích, ngại HS hỏi. Vì thế mà né tránh câu hỏi của HS,
không tạo cơ hội cho HS hỏi lại.
Thực ra nếu GV đã thực sự làm chủ kiến thức của bài dạy thì sẽ
chẳng ngại bất cứ câu hỏi nào của HS. Trong giờ dạy văn bản GV tổ chức
21
hướng dẫn cho HS có những câu hỏi tự khai thác nội dung bài học sẽ là giờ
dạy phát huy cao nhất tính chủ động, tích cực, sáng tạo của các em. Với
những câu hỏi "gan ruột", "tâm đắc" của mình, học sinh đã thực sự có niềm
say mê chân thành, niềm đồng cảm sâu sắc với số phận nhân vật trong tác
phẩm, thực sự có hoạt động tư duy phát triển năng lực trong cảm nhận văn
chương.
Ví dụ: Trong tác phẩm " Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng
( Ngữ văn 9), khi GV đưa ra yêu cầu: Hãy tự đặt một số câu hỏi từ nội dung
tác phẩm này để các bạn thảo luận, trả lời, HS đã có những câu hỏi sau:
? Ba ngày ông Sáu nghỉ phép ngắn ngủi là 3 ngày bé Thu không nhận
cha, không thèm gọi một tiếng "ba".Thế nhưng ta vẫn nhận thấy bên trong sự
bướng bỉnh đầy cá tính ấy là một tình yêu cha vẹn nguyên và mãnh liệt. Suy
nghĩ của bạn về lời nhận xét này?
? Trong đêm được bà ngoại giải thích và bé Thu đã hiểu và nhận ra cha
mình, tại sao bé không nhanh chóng nhận cha mà mãi đến phút giây cuối
cùng, sau khi nghe ông Sáu nói " Thôi ba đi nghe con" bé Thu mới thét gọi và
ôm chầm lấy ba?
? Theo bạn, chiếc lược ngà bé nhỏ có giá trị gì trong việc thể hiện tình
cha con sâu nặng và rất cảm động kia?
Không phải HS nào cũng có thể nghĩ ra được những câu hỏi hay như
vậy, lại trong thời gian rất ngắn, đây thực sự là những câu hỏi cảm nhận, loại
5. Kết quả đạt được
KẾT QUẢ
Trước khi áp dụng sáng kiến - Năm học 2012 - 2013
Lớp
Số
Số HS
HS
phát
Tỉ lệ
Bài KS trên TB
Số
8A
28
07 - 10
25% - 36%
lượng
16
trong giờ
28
học
15-28
Tỉ lệ
54% - 100%
Điểm 8 - 10
Số
Tỉ
Số
lượng
27
lệ
96%
lượng
14
Tỉ lệ
50%
27% - 38%
lượng
12
Tỉ lệ
41%
Điểm 8 - 10
Số
lượng
3
Tỉ lệ
10,3%
Sau khi áp dụng sáng kiến - Năm học 2013 - 2014
Lớp
9B
Số HS
Bài KS trên
Số
phát biểu
TB
Có thể nói xây dựng hệ thống câu hỏi, là khâu then chốt giúp học sinh
chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Để có chất văn và cảm xúc thăng hoa cũng
là từ đây. Không hiểu được thông điệp nhà văn gửi gắm trong tác phẩm thì
còn đâu là học văn?
Bên cạnh những biện pháp như sử dụng đồ dùng dạy học, sử dụng công
nghệ thông tin, sử dụng tư liệu, hình ảnh thì xây dựng hệ thống câu hỏi là yếu
tố quyết định đến chất lượng đào tạo, điều đó giúp cho học sinh tự phát hiện
những sức mạnh tiềm ẩn của bản thân cũng như sức mạnh của văn chương, có
thể tự tiếp xúc với các tác phẩm khác một cách tự chủ.
24
Quả thực, nếu GV đầu tư để xây dựng được một hệ thống câu hỏi tốt
thì hệ thống câu hỏi này chính là "bộ khung" là "hình hài", là "xương sống"
của một tiết dạy học. Qua hệ thống câu hỏi, có thể hình dung được GV định
dạy cái gì (nội dung) và dạy như thế nào (phương pháp). Bởi các câu hỏi
chính là các vấn đề, các tình huống mà GV dự liệu sẽ đưa ra trong tiết dạy.
Hệ thống câu hỏi hợp lí cũng thể hiện rất rõ vai trò trung tâm, chủ thể tích cực
của người học - Học sinh.
Với cách xây dựng hệ thống câu hỏi này điều đáng mừng là HS rất hăng
say với môn học
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Để tạo được hệ thống câu hỏi mang tính đổi mới GV dạy văn cần có
những yêu cầu sau:
- Đầu tiên là phải có lòng nhiệt tình tâm huyết với nghề, tận tâm, tận
lực, dành nhiều thời gian nghiên cứu tác phẩm.
- Muốn có một hệ thống câu hỏi tốt đảm bảo các yếu tố về nội dung và
phương pháp mới, GV phải vững vàng về chuyên môn, có khả năng sư phạm.
- Một giờ dạy tác phẩm văn chương luôn có sự hiện diện của tập thể
học sinh với những thế giới tâm hồn, những hoàn cảnh sống, thói quen, thẩm