LUẬN án TIẾN SĨ - đổi mới các tổ CHỨC CHÍNH TRỊ xã hội TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG - Pdf 37

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Lịch sử loài người từ khi phân chia thành giai cấp đã mang lại cho chúng ta nhiều bằng
chứng cho thấy việc hình thành được một thiết chế dân chủ sẽ có tác động to lớn như thế
nào đến diện mạo chung của xã hội, đến sự tăng trưởng kinh tế và giải phóng năng lực
sáng tạo của con người. Song lịch sử cũng chứng minh rằng, hiệu quả tác động của dân
chủ đến sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội lại phụ thuộc một cách quyết định vào sự
hoàn thiện của hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong
xã hội tương ứng.
Nhận rõ mối quan hệ giữa dân chủ và hệ thống chính trị nói chung, giữa quá trình hình
thành nền dân chủ XHCN với việc hoàn thiện hệ thống chính trị của thời kỳ quá độ lên
CNXH nói riêng, các văn kiện được Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng ta thông qua đã
xem việc đổi mới hệ thống chính trị bằng cách dân chủ hoá toàn diện hệ thống đó nhằm
từng bước hình thành nền dân chủ XHCN là nhiệm vụ cấp bách của quá trình đổi mới.
Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta - như Cương lĩnh được
Đại hội VII thông qua và Hiến pháp 1992 khẳng định dưới hình thức pháp lý của quan
điểm đó - bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể khác của nhân dân.
Sau gần chục năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước - trong đó có hệ
thống chính trị, “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã coi trọng các hình thức
tập hợp đa dạng nhằm mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân thực hiện
nhiệm vụ chính trị, đẩy mạnh các hoạt động xã hội, chăm lo và bảo vệ lợi ích thiết thực


của nhân dân. Sự tham gia của Mặt trận và các đoàn thể trong công tác xây dựng luật
pháp, chính sách, xây dựng chính quyền các cấp, thực hiện các chính sách kinh tế - xã
hội... ngày càng được tăng cường” (4 - 9, tr. 13 - 14).
Trong khi đánh giá cao thành tựu của việc đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội của
nhân dân như vậy, Đảng ta cũng thấy rằng, Mặt trận và các đoàn thể còn lúng túng trong
nội dung và phương thức hoạt động; tình trạng quan liêu, dân chủ hình thức trong các tổ
chức đó còn nặng nề đã làm hạn chế đáng kể việc phát huy tiềm năng sáng tạo của các

đó, các tác giả đã nêu ra nhiều kiến nghị có giá trị nhằm đẩy mạnh quá trình đổi mới ở
nước ta.
Tuy vậy, đến nay không phải mọi vấn đề lý luận về đổi mới hệ thống chính trị nói
chung, đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội nói riêng đã được giải quyết. Công cuộc đổi
mới càng được triển khai về chiều rộng và chiều sâu càng đặt ra
(1) Xem: Chính trị và hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Chương trình khoa học công nghệ KX. 05; Hoàng Văn Hảo: Dân chủ hoá các tổ chức
chính trị - xã hội - một phương hướng cơ bản để tăng cường quyền lực của nhân dân ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1 - 1993; Phạm Ngọc Quang: vấn đề
quyền lực và cơ chế thực hiện quyền lực trong kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Tạp chí


Nghiên cứu lý luận, số 1 - 1993: Phạm Ngọc Quang: Hồ Chí Minh với những nguồn lực
trí tuệ của Đảng, Tạp chí thông tin lý luận, số 4 - 1993; Đặng Quang Uẩn: Nhân dịp kỷ
niệm cách mạng Tháng Mười nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng và giai cấp trong thời kỳ
thoái trào của chủ nghĩa xã hội, Tạp chí thông tin lý luận, số 11 - 1993; Đào Duy Cận Khoa Minh - Đỗ Nguyên Phương - Đậu Thế Biểu - Nguyễn Thế Phấn: Những vấn đề lý
luận của CNXH ở Việt Nam, tập III - chính sách xã hội và hệ thống chính trị; Đỗ Nguyên
Phương - Trần Ngọc Đường: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp
quyền...
nhiều vấn đề mới đòi hỏi giới lý luận phải nghiên cứu. Đổi mới các tổ chức chính trị xã hội của nhân dân trong mối quan hệ với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là một trong những vấn đề như vậy.
Chính vì vậy, người viết chọn đề tài này làm đối tượng trình bày trong luận án của
mình với hy vọng góp phần khắc phục điểm trống đó về lý luận.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Chọn đề tài này, người làm luận án nhằm nghiên cứu một cách tương đối hệ thống các
vấn đề có liên quan tới quá trình đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội trong mối tương
quan với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN; xác định nội dung cơ bản của đổi mới các tổ chức ấy; kiến nghị các
giải pháp thích hợp để đổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình chuyển sang kinh tế thị

trị, về các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở đó, người viết đi sâu vào nghiên cứu thực
tiễn đối với các tổ chức chính trị - xã hội để phân tích, khái quát rút ra những vấn đề cần
thiết phục vụ mục đích và yêu cầu của luận án.
Người viết cố gắng vận dụng nguyên tắc phương pháp luận của triết học, phương pháp
lịch sử...để tìm ra cách tiếp cận và giải quyết những vấn đề được đặt ra. Các phương pháp
lôgic - lịch sử; so sánh - phân tích - tổng hợp; phương pháp hệ thống cũng được đặc biệt
chú ý. Từ lý luận soi sáng thực tiễn và ngược lại, từ thực tiễn rút ra những vấn đề lý luận
thiết thực, không giáo điều xơ cứng.
Liên quan tới chủ đề của luận án, những luận điểm về mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế
và cơ cấu xã hội, giữa kinh tế và chính trị được người làm luận án đặc biệt quan tâm như
là những nền tảng phương pháp luận chủ yếu, trực tiếp nhất của toàn bộ quá trình thực
hiện đề tài.
Trong quá trình viết luận án, người viết cũng kế thừa thành quả nghiên cứu của giới lý
luận xung quanh vấn đề này; có tham khảo các quan điểm của giới lý luận nước ngoài
( kể cả giới lý luận không cộng sản).
6. Ý nghĩa của luận án.


Với kết quả mà luận án đạt được, người viết hy vọng góp phần vào nhận thức đúng vị
trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đề xuất ý kiến để đổi mới tổ chức và hoạt
động của chúng thích hợp với quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đang được tiến
hành ở nước ta.
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và
định hướng quá trình đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội.
7. Kết cấu của luận án.
Luận án gồm lời mở đầu, hai chương với 4 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo.
Chương I
TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA: KHÁI NIỆM, THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐANG

triển xã hội có nghĩa: một là, sự phát triển của xã hội là sự thống nhất giữa liên tục và
gián đoạn, sự chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã
hội khác là những cột mốc đánh dấu sự gián đoạn đó; hai là, sự phát triển xã hội nói


chung, sự chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác
nói riêng là do các quy luật khách quan chi phối.
Phát hiện đó của Mác là một trong những cơ sở để hình thành quan điểm duy vật về
lịch sử. Được soi sáng bởi quan điểm khoa học nêu trên, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã
hội khoa học đã nhìn thấy ở quần chúng nhân dân như là động lực cơ bản thúc đẩy sự
phát triển của lịch sử. Theo các ông, mọi sự kiện lớn lao trong đời sống xã hội, mọi biến
đổi cách mạng xảy ra trong lịch sử sẽ không thể thành công, nếu không có sự tham gia
tích cực của quần chúng.
Quan điểm vừa nêu của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đánh dấu bước ngoặt trong sự phát
triển của nhận thức lý luận về vai trò của quần chúng đối với sự phát triển xã hội.
Thật vậy, trong quan điểm của những học giả thuộc giai cấp bóc lột, quần chúng chỉ là
một lực lượng tiêu cực, là bày cừu ngoan ngoãn, là phương tiện và vĩ nhân cần đến để
thực hiện ý đồ chính trị của mình. Các - Lây - Lơ - nhà triết học, nhà sử học Anh thế kỷ
trước cho rằng: Lịch sử thế giới, lịch sử sự nghiệp của con người ta trong thế giới này
thực chất là lịch sử, sự nghiệp của các vĩ nhân... Tất cả những cái gì đã được hoàn thành
ở trên đời này đều là kết quả vật chất bên ngoài, là sự diễn biến trong thực tiễn và là hiện
thân của những tư tưởng bên trong của các vĩ nhân được phái xuống cuộc đời, lịch sử của
họ là lịch sử thế giới (48). Các - Lây - Lơ đã bộc lộ quan điểm duy tâm chủ quan của
mình khi xem xét nguồn gốc, động lực phát triển của xã hội.
Trước đó, các nhà khai sáng Pháp cũng cho rằng, hoạt động tự giác của những nhân vật
kiệt xuất là động lực chủ yếu của mọi biến cố lịch sử. Đối với họ, quần chúng chỉ là
những con rối trong tay các vĩ nhân. Ngay đến Hê - Ghen, một nhà triết học biện chứng
xuất sắc đã được Mác và ăng ghen đánh giá rất cao, cũng rơi vào thuyết định mệnh khi



Khái niệm quần chúng sẽ thay đổi theo các nghĩa người ta hiểu quần chúng là đa số và hơn
nữa chẳng những chỉ là đa số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóc lột; người
cách mạng không thể hiểu khác thế được; bất kỳ một nghĩa nào khác của chữ đó cũng trở
thành không thể hiểu được” (2 - 2, tr. 617).
Cùng với việc xoá bỏ giai cấp bóc lột khi có các điều kiện cần thiết đã chín muồi, trong
chủ nghĩa xã hội ở nấc thang phát triển cao của nó, khái niệm “quần chúng nhân dân” sẽ
bao gồm tất cả các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, bộ phận cốt lõi của quần chúng nhân dân ở mọi
giai đoạn phát triển lịch sử bao giờ cũng là những người lao động - nhân tố quan trọng
nhất của lực lượng sản xuất. Bởi vậy, Lê nin nhấn mạnh rằng, khi sử dụng danh từ “quần
chúng nhân dân”, Mác không làm lu mờ sự khác nhau giữa các giai cấp bằng danh từ
này, mà ông luôn luôn làm nổi bật lực lượng có khả năng tiến hành cách mạng đến cùng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin phân biệt rạch ròi nhân dân cách mạng - những người nhất trí
về tư tưởng và tổ chức, có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh giải quyết những nhiệm vụ


chín muồi vì sự tiến bộ xã hội với những quần chúng - mà xét về vị trí của mình - họ có
quan tâm đến những cải cách xã hội nhưng không tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị
tích cực.
Do tính lịch sử của nó, có thể cùng là một giai cấp hay tập đoàn xã hội, trong giai đoạn
này họ thuộc vào “nhân dân”, nhưng sang giai đoạn khác họ lại đứng đối lập với nhân
dân; và ngược lại. Chẳng hạn, vào thế kỷ XVII - XVIII giai cấp tư sản là giai cấp cách
mạng. Nó nêu cao ngọn cờ chống phong kiến để giải phóng sức sản xuất góp phần thúc
đẩy phát triển xã hội. Khi đó, họ không chỉ là một bộ phận cấu thành “nhân dân” mà còn
là lực lượng tiên tiến, lãnh đạo nhân dân. Sau khi giành được chính quyền và củng cố vị
trí thống trị của mình, giai cấp tư sản trở thành lực lượng chủ yếu bóc lột những người
lao động. Nó trở thành kẻ thù của nhân dân.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, “nhân dân” là những ai?
Chúng ta chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN. Những ai là chủ thể của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta

thay đổi được hiện thực. Muốn thay đổi được hiện thực xã hội, tư tưởng đó phải biến thành
xung lực kích thích hoạt động tích cực của quần chúng. Hoạt động thực tiễn nói chung, hoạt
động thực tiễn cách mạng nói riêng bao giờ cũng mang tính quần chúng đông đảo. Cách
mạng là ngày hội của quần chúng. Nếu không như vậy, không có bất kỳ một sự biến đổi cách


mạng căn bản nào đối với tiến trình lịch sử của dân tộc cũng như thời đại lại có thể được thực
hiện.
Ba là, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử thay thế của các phương thức
sản xuất, trong đó người lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, quan trọng nhất, cách
mạng nhất của lực lượng sản xuất. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất
quyết định sự thay thế của các quan hệ sản xuất và của thiết chế xã hội dựa trên quan hệ
sản xuất đó. Nói cách khác, quần chúng nhân dân là nhân tố quan trọng nhất trong việc
sáng tạo ra các giá trị vật chất và là động lực của sự thay đổi xã hội.
Bốn là, chính trong hoạt động của mình, một mặt, bản thân quần chúng nhân dân là
người sáng tạo ra những giá trị tinh thần với tư cách là những kinh nghiệm được tích luỹ
từ hoạt động thực tiễn, với tư cách là sự phản ánh những nhu cầu, khát vọng vươn tới cái
chân, cái thiện, cái mĩ của bản thân mình; mặt khác, hoạt động của quần chúng nhân dân
sẽ cung cấp những cứ liệu, đặt ra những đòi hỏi kích thích hoạt động sáng tạo của đội ngũ
trí thức trong xã hội. Với nghĩa đó, quần chúng nhân dân bằng tất cả những hoạt động đa
dạng của họ là người trực tiếp và gián tiếp sáng tạo ra những giá trị tinh thần nhân loại.
Những điều nêu trên càng đúng, khi nói về những giai đoạn phát triển có tính cách
mạng trong lịch sử loài người. Lịch sử đã mang lại nhiều cứ liệu xác đáng để chứng minh
rằng, không một giai cấp nào có thể tiến hành một cuộc cách mạng ít nhiều triệt để đi tới
thắng lợi hoàn toàn mà lại không có sự tham gia đông đảo cuả quần chúng. Cách mạng tư
sản Pháp 1789, cách mạng Tháng Mười Nga 1917, cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam
1945... đã cho ta thấy điều đó.


Trong khi khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân với tư cách là lực lượng sáng

Nga.
Như vậy, tổ chức - đó là một cơ cấu tập thể dựa trên những nhu cầu và mục đích
chung nào đó, có sự phân công hoạt động bên trong ít nhiều rõ rệt và được hướng tới
mục đích nhất định mà để đạt được mục đích ấy, nó phải phối hợp hoạt động của nhiều
người.
Tổ chức do con người lập ra, con người là nhân tố chủ yếu cấu thành tổ chức. Là sản
phẩm của con người, tổ chức, do đó, không thể không phụ thuộc vào con người, vào
những đức tính và năng lực hoạt động của con người. Song, đến lượt nó, khi bám rễ chặt
trong cuộc sống, thì chính tổ chức quyết định lại con người. Tổ chức, trong sự hoạt động
của nó, làm nảy nở ở con người những đặc tính nhất định, nó đào luyện con người. Khả
năng và hiệu lực hoạt động của con người phụ thuộc vào tổ chức. Tổ chức tạo ra chất
lượng mới. Các Mác viết: “Hệt như sức chiến đấu của một đơn vị kỵ binh hoặc sức đề
kháng của một tiểu đoàn bộ binh đều khác về bản chất với tổng số những sức mạnh cá
nhân của từng người kỵ binh hay của từng người chiến sĩ riêng lẻ, tổng số những sức cơ
giới của từng công nhân riêng lẻ cũng khác với sức cơ giới được tạo ra khi họ làm việc
kết hợp và đồng thời với nhau trong cùng một công tác không thể phân chia... Vấn đề là


không những phải tăng sức sản xuất cá nhân lên, mà còn phải dùng phương pháp luận
hiệp tác để tạo một sức sản xuất mới, chỉ hoạt động như một tập thể” (1 - 2, tr. 22, 23).
Sức mạnh con người là ở tổ chức. Chỉ có trong tổ chức và thông qua tổ chức, thông qua
quan hệ với những người khác và với sự vật, con người mới hiểu được mình là gì và
mình có thể làm được những gì.
Con người từ khi thoát thai từ động vật sống trong các bộ lạc, bộ tộc mà ta gọi là chế
độ cộng sản nguyên thuỷ đã có những sở thích khác nhau, một số người thích đi hái quả,
một số người thích đi săn bắn...Như vậy ta có thể kết luận rằng, ngay trong chế độ cộng
sản nguyên thuỷ, tổ chức xã hội sơ khai đã hình thành. Khi xã hội phân chia thành giai
cấp, quần chúng nhân dân lao động chịu đầy cảnh áp bức, bất công.
Lịch sử xã hội loài người chỉ ra rằng, trong buổi đầu của các chế độ xã hội trước
CNXH, các giai cấp thống trị đều tranh thủ nhân dân và chúng cũng đáp ứng phần nào

lâu dài của dân tộc: tiến lên CNXH.
Tính chính trị trong các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân còn có nghĩa, nó ra đời
nhằm tập hợp, thu hút các bộ phận khác nhau trong cơ cấu xã hội tham gia vào công việc
Nhà nước; tham gia vào việc xây dựng, bảo vệ Nhà nước của nhân dân và vì nhân dân.
Các tổ chức ấy kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi làm suy yếu các cơ quan
quyền lực của nhân dân.


Là những loại hình tổ chức mang tính chất kép, ngoài tính chính trị như đã nêu trên,
các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân còn mang tính quần chúng, tính xã hội rộng
rãi của nó.
Biểu hiện rõ nhất của tính quần chúng là ở chỗ, các tổ chức đó là tổ chức tự nguyện
của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động trong các thành phần kinh tế. Vì vậy, mọi
nội dung hoạt động của các tổ chức phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, từ lợi ích của đông
đảo nhân dân. Mọi phương thức hoạt động phải thu hút được đông đảo nhân dân tham
gia. Nói cách khác, các tổ chức chính trị - xã hội phải từ nhân dân, vì nhân dân và do
nhân dân.
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta có thể hiểu “tổ chức chính trị - xã hội”
trong thời kỳ quá độ ở nước ta tổ chức hợp pháp, của những cộng động người trong cơ
cấu xã hội dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hoạt động. Nó
lấy hoạt động chính trị - xã hội làm phương thức chủ yếu để tập hợp, giáo dục, tổ chức
hành động của các thành viên và nhằm gây ảnh hưởng đối với quyền lực chính trị để bảo
vệ lợi ích chính đáng của các thành viên trong tổ chức phù hợp với việc thực hiện hoá
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”.
Như bất kỳ một định nghĩa nào khác, định nghĩa vừa nêu về tổ chức chính trị - xã hội
của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay cũng chỉ có thể khái
quát được những nội dung bản chất nhất. Nó chỉ rõ nguồn gốc hình thành, nguyên tắc tổ
chức và hoạt động, mục tiêu chính trị - xã hội cơ bản của các tổ chức đó. Tuy còn rất
nghèo nàn so với hiện thực được phản ánh, nhưng việc nắm vững ba nội dung cơ bản đó
đủ cho phép chúng ta phân biệt một tổ chức chính trị - xã hội với những tổ chức xã hội

của nhân dân.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu còn tồn tại nhiều thành phần. V.I.Lênin đã chỉ
rõ: “Trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của
CNTB và CNXH” (2 - 8, tr. 248).Các thành phần kinh tế này vốn thuộc về nhiều hình
thái xã hội khác nhau, dựa trên nhiều quan hệ sản xuất với chế độ sở hữu khác nhau.
Bản thân sự tồn tại của các thành phần kinh tế cũng mang tính quá độ. Tính chất quá độ
của một thành phần kinh tế biểu hiện ở cả quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân
phối và cả ở sự tồn tại đan xen, liên kết của nó với các thành phần kinh tế khác trên các
lĩnh vực.
Kinh tế hàng hoá nhỏ, cá thể được Nhà nước thừa nhận, hướng dẫn, giúp đỡ, được liên kết
với các xí nghiệp quốc doanh và tập thể, được hướng vào con đường hợp tác bằng những
hình thức đa dạng và bước đi thích hợp từ thấp đến cao với những quy mô và trình độ phù
hợp với từng ngành nghề, từng vùng kinh tế cụ thể.
Kinh tế tư bản tư nhân mặc dù vẫn dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư, nhưng không còn
hoàn toàn giống như dưới chế độ TBCN. Trong điều kiện đi lên CNXH, đây là “một thứ chủ
nghĩa tư bản được giai cấp công nhân tự giác cho phép tồn tại và hạn chế” (2-9, tr. 343, 344).
Chủ nghĩa tư bản này, theo Lênin, không những không đáng sợ mà còn “đáng mong đợi”. Nó
chịu sự kiểm kê và kiểm soát của Nhà nước vô sản, thực hiện sự liên kết, liên doanh với các
thành phần kinh tế khác. Cùng với tư bản tư nhân, tư bản nhà nước là một hình thức kinh tế
quá độ có ý nghĩa trọng yếu trong việc chuyển nền kinh tế tiểu nông lên CNXH...


Bên cạnh những thành phần kinh tế tương đối thuần khiết đó, trong quá trình đổi mới
kinh tế hiện nay ngày càng ra đời nhiều thành phần hỗn hợp hơn. Đó là những cơ sở liên
doanh, liên kết giữa hai hay một số thành phần kinh tế trong nước với nhau hay giữa
trong nước với nước ngoài.
Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần
kinh tế và sự đồng hành phát huy tác dụng của các thành phần giai cấp, các tầng lớp xã
hội; thợ thủ công tập thể và cá thể; nông dân hợp tác xã và cá thể; trí thức và viên chức;
tiểu chủ, tiểu thương và tư sản trong nước cũng như tư sản nước ngoài đang đầu tư vào

Nam. Đại hội VI đã quyết định đổi tên thành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Năm
1990, Luật công đoàn được ban hành có ghi rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội
rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam”.Trước đây, trong cơ
chế quan liêu bao cấp, khái niệm công nhân đồng nhất với những người lao động công
nghiệp trong biên chế nhà nước. Nay, trong cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh
tế khác nhau, Công đoàn phải thu hút vào mình tất cả những người lao động trong lĩnh
vực hành chính sự nghiệp, công nghiệp, dịch vụ...- bất luận họ thuộc thành phần kinh tế
nào. Từ đó, hình thức Công đoàn phải đổi mới. Trong hệ thống Công đoàn Việt Nam đang
xuất hiện hình thức nghiệp đoàn... Vấn đề này có ý nghĩa rất lớn; nó chỉ ra rằng, không nên


coi các tổ chức chính trị - xã hội là bất di, bất dịch. Nó có thể phù hợp, phát huy tác dụng
trong điều kiện này, nhưng không thể tồn tại trong những điều kiện khác. Nó là một phạm
trù “động” cả về hình thức thể hiện, chức năng và phương thức hoạt động (vấn đề này còn
được đề cập kỹ ở phần sau).
b. Hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của
nhân dân cũng bị quy định bởi mục tiêu, chiến lược, sách lược cách mạng trong từng
thời kỳ, bởi trạng thái của thiết chế chính trị và nền dân chủ.
Thích ứng với giai đoạn lấy mục tiêu chống đế quốc làm nhiệm vụ hàng đầu, chúng ta
thành lập ra các tổ chức phản đế của nhân dân (Mặt trận phản đế Đông Dương, Hội công
nhân phản đế, Đoàn thanh niên phản đế,...). Khi cần tập trung mọi lực lượng nhằm chĩa
mũi nhọn vào bọn phản động nhất trong đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, ta lập ra Mặt trận
bình dân, Mặt trận Liên Việt hoặc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có Mặt
trận Tổ quốc ở miền Bắc, Mặt trận Dân tộc giải phóng và liên minh các lực lượng dân
tộc, dân chủ ở miền Nam, thậm chí có Đảng nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam.
Đó là những hiện tượng mang tính sách lược cách mạng.
Trong thời kỳ trước đổi mới, thích ứng với thiết chế chính trị mang tính tập trung tuyệt
đối, quan liêu, dân chủ mang nặng tính hình thức là một hệ thống các tổ chức chính trị xã hội đơn điệu về hình thức; nghèo nàn về nội dung; quan hệ mệnh lệnh, hành chính hoá
trong phương thức hoạt động.
Khi thực hiện đổi mới hệ thống chính trị nhằm hình thành từng bước một thể chế dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status