THƯ
VIỆN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM
THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. MAI NGUYỆT NGA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại đã đặt ra
những yêu cầu cao về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Tổ chức UNESCO
đã khẳng định: “Nền giáo dục hôm nay và tương lai phải dựa trên 04 trụ cột:
Learning to know - học để biết; Learning to do - học để làm; Learning to be học để khẳng định mình và Learning to live together - học để cùng chung
ảnh hưởng nhất định đến việc học tập, hứng thú học tập của sinh viên năm thứ
nhất.
Vì vậy, tìm hiểu hứng thú và tìm ra biện pháp nâng cao hứng thú trong
học tập của sinh viên năm thứ nhất là việc làm cần thiết, góp phần nâng cao
hiệu quả học tập của họ.
Thời gian qua, cũng đã có các công trình nghiên cứu về hứng thú học
tập của học sinh, sinh viên với một môn học cụ thể nào đó và hứng thú học
tập của sinh viên nói chung. Nhưng vấn đề hứng thú học tập của sinh viên
năm thứ nhất với những thay đổi về môi trường học tập mới vẫn chưa được
quan tâm.
Xuất phát từ lí do trên, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Hứng thú
học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Văn Hiến Thành phố Hồ
Chí Minh”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu hứng thú học tập và những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú
học tập của sinh viên năm thứ nhất, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp để
nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên năm thứ nhất.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên năm thứ nhất Đại học Văn Hiến
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng nghiên cứu: hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất.
3
4. GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU
- Hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất chưa cao.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên năm
thứ nhất trường Đại học Văn Hiến, nhưng yếu tố cơ bản nhất làm cho hứng
thú học tập của sinh viên năm thứ nhất chưa cao là do ít hiểu biết về ngành
Hứng thú học tập của nhóm sinh viên năm thứ nhất được khảo sát phải
tìm hiểu qua hoạt động học tập của sinh viên. Bởi vì, hứng thú học tập của
sinh viên năm thứ nhất được hình thành thông qua hoạt động học tập.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực
tiễn về hứng thú học tập của sinh viên.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến.
- Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn cá nhân: chọn một số vấn đề nào đó nổi trội trong phần trả
lời để phỏng vấn sâu ở một số đối tượng.
- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS 11.5 for
window để xử lý các số liệu thống kê.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài mô tả thực trạng hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất
trường Đại học Văn Hiến, chỉ ra các biểu hiện hứng thú học tập, các yếu tố
ảnh hưởng đến thực trạng, đặc biệt yếu tố cơ bản nhất làm cho hứng thú học
tập của sinh viên năm thứ nhất chưa cao là do ít hiểu biết về ngành nghề đang
học. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập
cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Văn Hiến.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Ở nước ngoài
công luận án tiến sĩ về “Tâm lý học hứng thú”. Các nhà tâm lý học như
S.LRubinstein, G.Morodov... đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú,
con đường hình thành hứng thú, và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí,
tình cảm.
Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc
của tri thức học viên với hứng thú học tập. Kết quả cho thấy tri thức của học
viên có mối quan hệ khăng khít với hứng thú học tập. Trong đó sự hiểu biết
nhất định về môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối
với môn học.
D.Super trong “Tâm lý học hứng thú”(1961) đã xây dựng phương pháp
nghiên cứu về hứng thú trong cấu trúc nhân cách.
Năm 1966, N.I. Ganbiô bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài “Vận dụng tính
hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga”. Tác giả cho rằng hứng thú học tập của
học sinh là một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga
trong nhà trường.
Năm 1967, N.G. Marôzôva nghiên cứu sự khác nhau trong việc hình
thành hứng thú của trẻ em trong sự phát triển bình thường và phát triển không
bình thường. N.G. Marôzôva cũng đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việc
giảng dạy, nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên”. Đến năm
1976, tác giả đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích
những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao
động của học sinh.
7
I.G.Sukira trong công trình “Vấn đề hứng thú trong khoa học giáo dục”
(1972) đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức cùng với biểu hiện của nó.
Đồng thời, bà còn nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội
dung tài liệu và hoạt động học của học sinh.
hình thành nhân cách”. Lukin, Lêvitôp nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ
với năng lực”. L.P.Bơlagôna Dejina, L.X.Xlavi, B.N.Mione lại xem xét
“Hứng thứ trong mối quan hệ với hoạt động” các tác giả này đã coi hứng thú
là động cơ có ý nghĩa của hoạt động. Trong xu hướng này còn có nhiều nhà
nghiên
cứu
khác
như:
L.X.Rubinstêin,
A.V.Daparôzét,
M.I.Bôliép,
L.A.Gôđôn ...
Xu hướng thứ III: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú
theo các giai đoạn lứa tuổi:
Đại diện là G.ISukina “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi”;
D.P.Xalônhisư nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo;
V.G Ivanôp đã phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớn
trong trường trung học; N.G. Marôzôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú
trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình thường”
(1957). Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú của
từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai
đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ.
1.1.2. Ở Việt Nam
thú học tập của học sinh, tác giả đề xuất biện pháp giáo dục nhằm nâng cao
hứng thú học tập cho học sinh.
Năm 1977, tổ nghiên cứu của khoa tâm lý học giáo dục trường Đại Học
Sư Phạm Hà Nội I đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II
đối với môn học cụ thể” kết quả cho thấy hứng thú học tập các môn của học
sinh cấp II là không đồng đều.
10
Năm 1980, Dương Diệu Hoa “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn
tâm lý học đại cương của sinh viên khoa tâm lý học Trường đại học sư phạm
Hà Nội”.
Năm 1980, Lê Bá Chương “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn tâm lý
học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn cho giáo sinh trường sư phạm 10 +
3 (luận án thạc sĩ).
Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “Bước đầu tìm hiểu
hứng thú học văn học lớp 10 ở một số trường Phổ thông trung học tại TP. Hồ
Chí Minh”. Tác giả đề xuất năm biện pháp gây hứng thú cho học sinh: giáo
viên phải nâng cao lòng yêu người, yêu nghề và rèn luyện tay nghề, tổ chức
các hoạt động ngoại khóa cho học sinh, tổ chức các giờ dạy mẫu, chương
trình phải hợp lý và động viên học sinh tích cực tham gia các hoạt động văn
hóa nghệ thuật.
Năm 1982, Đinh Thị Chiến “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư
phạm của giáo sinh Cao đẳng sư phạm Nghĩa Bình”. Tác giả đưa ra ba biện
pháp để giáo dục hứng thú đối với nghề sư phạm cho giáo sinh, trong đó tác
giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của dư luận xã hội.
Năm 1984, Trần Thị Thanh Hương đã “thực nghiệm nâng cao hứng thú
học toán của học sinh qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học
sinh”.
Năm 2000, Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực
trạng hứng thú học môn toán của học sinh trung học cơ sở thị xã Tân An”.
Kết quả cho thấy đa số học sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú học
toán.
Năm 2001, Phạm Thị Ngạn nghiên cứu “Hứng thú học môn tâm lý học
của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Cần Thơ” (luận án thạc sĩ tâm lý học
12
– Hà Nội 2002), tác giả đã tiến hành thử nghiệm biện pháp nâng cao hứng thú
học tập môn tâm lý học của sinh viên.
+ Cải tiến nội dung các bài tập thực hành.
+ Cải tiến cách sử dụng các bài tập thực hành.
+ Tăng tỉ lệ các giờ thực hành.
Năm 2002, Đặng Quốc Thành nghiên cứu “Hứng thú học môn tâm lý
học quân sự của học viên các trường cao đẳng, đại học kỹ thuật quân sự”. Tác
giả đã đề xuất một số biện pháp:
+ Cải tiến phương pháp dạy học (kết hợp phương pháp giảng giải và
phương pháp nêu vấn đề).
+ Cải tiến hình thức tổ chức dạy học (kết hợp hình thức bài giảng hình
thức xêmina - bài tập thực hành).
+ Một số biện pháp nâng cao hứng thú:
* Cấu trúc lại nội dung.
* Vận dụng tốt phương pháp dạy học nêu vấn đề có kết hợp với phương
pháp dạy học truyền thống.
* Nâng cao tay nghề sư phạm.
* Đổi mới việc kiểm tra đánh giá.
* Đảm bảo điều kiện vật chất.
Năm 2003, Nguyễn Hải Yến – Đặng Thị Thanh Tùng nghiên cứu “Một
phần lớn sinh viên có biểu hiện thích thú chờ mong hài lòng với việc học tập
môn học này... Hành vi khi học tập môn học biểu hiện thiếu tích cực, chưa chủ
động sáng tạo trong khi học trên lớp cũng như ngoài giờ học (chưa chủ động
tích cực tìm và đọc thêm các tài liệu tham khảo, chưa hăng hái thảo luận, tranh
thủ với thầy và bạn trong khi học tập môn tâm lý học đại cương). Tác giả
khẳng định:
+ Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương chưa cao, chưa đồng
đều.
14
+ Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên
trong đó phải kể đến yếu tố của giảng viên.
Đến nay, các công trình nghiên cứu về hứng thú cũng đã có rất nhiều và
vấn đề hứng thú học tập đã được các tác giả quan tâm nhưng hứng thú học tập
của sinh viên năm thứ nhất với những thay đổi về môi trường học tập từ phổ
thông sang đại học vẫn chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Hoạt động học tập của sinh viên
1.2.1.1. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student”, có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức.
Sinh viên là người làm việc nói chung nhưng vẫn chưa là một người
làm việc độc lập trong các tổ chức lao động sản xuất của xã hội. Sinh viên chỉ
là những người đang trong quá trình tích lũy phẩm chất, tri thức, kỹ năng, …
về nghề để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong tương lai. Để làm được điều này,
bản thân sinh viên phải nỗ lực học tập, rèn luyện dưới sự hướng dẫn của giảng
viên.
† Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
hành động, thái độ, cư xử, cử chỉ giao tiếp để hướng tới tự hoàn thiện bản
thân mình. Ngược lại, những sinh viên có kết quả học tập thấp dễ tự đánh giá
mình không phù hợp dẫn đến việc tự hoàn thiện mình đạt mức thấp.
Thành phần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh
viên là năng lực tự đánh giá, thể hiện ở thái độ đối với bản thân. Tự đánh giá
hình thành nên lòng tự trọng, tự tin, tính tích cực trong nhân cách sinh viên và
nó được thực hiện trong đời sống với toàn bộ cấu trúc của mối liên hệ nhân
cách.
Tự đánh giá phản ánh năng lực tự hiểu biết, phản ánh kỹ năng điều
khiển bản thân. Sự tự đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả
16
của hoạt động, đặc biệt là tự đánh giá về trí tuệ. Ở trường đại học là giai đoạn
sinh viên học tập, khám phá, tìm hiểu những tri thức của chuyên ngành mình
đang theo học. Do đó, tự đánh giá có tác dụng rất lớn đối với sự hình thành và
phát triển các phẩm chất trí tuệ trong quá trình học tập ở đại học. Nếu sinh
viên tự đánh giá đặc điểm trí tuệ ở mức thấp sẽ gây ra những khó khăn trong
quá trình học tập, ngược lại những đặc điểm trí tuệ được đánh giá đúng mức
cho đến cao là cơ sở tốt cho hoạt động học tập ở đại học.
Bên cạnh đó, đời sống tình cảm của sinh viên cũng có biểu hiện rất
phong phú, có tính hệ thống và bền vững. Đây là thời kỳ phát triển tích cực
nhất của các loại tình cảm: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm
mĩ. Đặc biệt ở lứa tuổi này là sự phát triển mạnh mẽ có tính định hướng, khá
sâu sắc về tình yêu nam nữ. Qua hoạt động học tập, giao lưu, sinh hoạt ngoại
khóa sinh viên có điều kiện tiếp xúc và gặp gỡ, tìm hiểu nhau. Dần dần tình
yêu nam nữ sẽ nảy sinh từ những tình bạn chân thành, đồng cảm và gắn bó.
Tình bạn, tình yêu của lứa tuổi sinh viên nhìn chung tương đối đẹp đẽ, trong
sáng và bền vững. Tình cảm này cũng có tác dụng tích cực trong việc giúp
người có mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình
thức nhất định của hành vi. Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn.
V.V. Đavưđôv quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư
duy lý luận.
A.V. Pêtrôvki lại coi hoạt động học tập là vấn đề phẩm chất tư duy và
kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng
dạy.
Còn D.N. Bôgôiavlenxki và N.A. Mentrinxcai chú ý nhiều nhất trong
hoạt động học tập là sự phát triển quan hệ giữa phân tích và tổng hợp.
18
Tác giả Việt Nam, Nguyễn Dịu Hoa cho rằng: “Học là quá trình tương
tác giữa cá thể với đối tượng, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận
thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó” [10, tr 54].
Hiện nay, quan niệm về hoạt động vẫn chưa có sự thống nhất, một số
tác giả xem xét hoạt động học tập liên quan đến nhận thức hoặc liên quan với
tư duy và có liên quan đến nghề nghiệp. Khái niệm hoạt động học tập được
tác giả tiếp cận theo cách khác nhau nhưng đều có điểm chung là xem hoạt
động học tập là hoạt động có mục đích, tự giác, có ý thức về động cơ và trong
đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy.
Từ những khái niệm của các tác giả, có thể hiểu khái quát về hoạt động
học tập như sau: hoạt động học tập là một hoạt động có mục đích của chủ thể
nhằm lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người
được kết tinh trong nền văn hoá xã hội, qua đó giúp chủ thể phát triển và
hoàn thiện nhân cách.
Hoạt động học tập bao giờ cũng nhằm thảo mãn một nhu cầu học nhất
định, được kích thích bởi động cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động
chuyên biệt. Học tập không chỉ đem lại cho người học kinh nghiệm cá nhân
làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp tương lai” [27, tr 118].
† Đặc điểm học tập của sinh viên
Học tập ở đại học nhằm đào tạo, bồi dưỡng sinh viên trở thành những
chuyên gia phát triển toàn diện và có trình độ nghiệp vụ cao. Vì vậy, ngoài
những đặc điểm chung của hoạt động học tập, học tập của sinh viên còn có
những đặc điểm riêng sau đây [15, tr 127-175]:
- Tính chuyên nghiệp: hoạt động học tập của sinh viên hướng vào việc
hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người chuyên gia trong các
lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng. Do đó, học tập của sinh viên có sự thay đổi
rất lớn so với học tập của học sinh phổ thông. Học tập của sinh viên mang
tính đặc trưng của hoạt động nghề nghiệp tương lai, mục đích là chiếm lĩnh