Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương cân bằng và chuyển động của vật rắn lớp 10 THPT - Pdf 37

THƯ
VIỆN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Diệp Thị Thu Ngà

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “CÂN BẰNG VÀ CHUYỂN ĐỘNG
CỦA VẬT RẮN” - LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THẾ DÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bố trong một công trình khoa học
nào.

Tác giả
Diệp Thị Thu Ngà


TN:

thực nghiệm

H:

hỏi

TL:

trả lời

THPT:

trung học phổ thông

TB:

trung bình


MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập
kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp
ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng
thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo
ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để có được những năng lực ấy, con người phải học
tập không ngừng, học tập suốt đời, học ở mọi nơi thông qua nhiều hình thức, trong đó phải lấy tự

chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt
để học sinh rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo. Đó là những điều không ai cung cấp
được cho học sinh nếu các em không thông qua hoạt động bản thân.
Do đó tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích
cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” – Lớp
10 THPT” nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy
và học trong giai đoạn hiện nay.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng cơ sở lí luận dạy học để xây dựng các tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm
phát huy tính tích cực học tập của học sinh cho các bài học trong chương “Cân bằng và chuyển
động của vật rắn” – Vật lí 10 THPT, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10 THPT - ban Cơ bản trong quá trình học tập chương
“Cân bằng và chuyển động của vật rắn”.
 Đối tượng nghiên cứu: việc tổ chức hoạt động tự học của học sinh trong dạy học chương
“Cân bằng và chuyển động của vật rắn”.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức các hoạt động tự học cho học sinh trong dạy học chương “Cân bằng và chuyển
động của vật rắn” phù hợp sẽ phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học.
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu quá trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học
sinh lớp 10 THPT trong dạy học chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” ở trường THPT
Nguyễn Huệ huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh.
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
 Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học vật lí để thiết kế các tiến trình tổ chức hoạt động tự học
nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh.


 Tìm hiểu thực tế dạy và học chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” hiện nay ở các

Theo GS. TSKH. Thái Duy Tuyên: [31]
Tự học là hoạt động độc lập chiếm kĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo… và kinh nghiệm lịch sử
- xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học.
Có nhiều cách tự học khác nhau:
-

`Tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên như tự học của học sinh, sinh viên, thực tập

sinh, nghiên cứu sinh…
-

Tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên: trường hợp này thường liên quan đến

những người đã trưởng thành, các nhà khoa học.
-

Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế,

các nhà chính trị - xã hội…
Theo tác giả Quang Huy: [15]
Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các phẩm chất khác
của mình, cả động cơ và tình cảm, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành
sở hữu của mình. Có thể nói một cách ngắn gọn, tự học là quá trình tư duy độc lập để khám phá và
sáng tạo.
Có nhiều kiểu tự học như:
-

Tự mình mò mẫm: người học không có điều kiện đi học, các tri thức họ có được là do

sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống.

1974). Vì vậy, nói đến tính tích cực là nói đến tính tích cực của sự học tập, thực chất là nói đến tính
tích cực nhận thức.
Tính tích cực của nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thế đối với khách thể thông qua sự huy
động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức. Nó vừa
là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả
của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Tuỳ theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức độ huy động những
chức năng tâm lí đó mà người ta phân ra ba loại tính tích cực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện.
Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của GV, của bạn bè.
- Tính tích cực tìm tòi: được đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt
nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết, hứng thú học tập. HS tìm cách độc lập giải quyết
bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lí nhất.
- Tính tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực. Nó đặc trưng bằng sự khẳng
định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi người đã thừa nhận để đạt
được mục đích.
1.1.2.2.

Các biểu hiện của tính tích cực học tập [14], [41]

Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp nhưng quan
trọng hơn là biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình thức này thường đi liền với nhau.
Theo G.I.Sukina có thể nêu những dấu hiệu của tính tích cực hoạt động như sau:


- HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của
bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
- HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa đủ rõ.
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức các vấn đề
mới.

người học, mục đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của người học. Chim bồ câu tự tìm thấy
thức ăn, chuột tự đạp cần câu cơm trong sơ đồ dạy học của Skinner là hình ảnh của người tự học,
tích cực chủ động tìm ra kiến thức - thức ăn tinh thần bằng hành động của chính mình. Đó là dạy tự học.


Việc tự học thực chất là quá trình:
- Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra các cầu nối nhận thức trong tình
huống học.
- Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi
trường sống xung quanh mình.
- Tự học, tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, cá nhân hoá
việc học đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo,
xã hội hoá việc học.
Việc dạy thích hợp với quá trình tự học nói trên thực chất là quá trình:
- Kết hợp quá trình dạy học với quá trình tự học, quá trình giáo dục với quá trình tự giáo dục.
- Kết hợp hữu cơ quá trình cá nhân hoá với quá trình xã hội hoá việc học.
- Cộng hưởng dạy học với tự học, tạo ra chất lượng và hiệu quả giáo dục cao.
1.2.1.2.

Chu trình tự học của trò

Chu trình tự học của trò là một chu trình ba thời: tự nghiên cứu; tự thể hiện; tự đánh giá.
(1)
Tự nghiên cứu

(3)
Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh

(2)




Trò chủ thể

(1) Hướng dẫn



Tự nghiên cứu

(2) Tổ chức



Tự thể hiện

(3) Trọng tài, cố vấn



Tự kiểm tra

kết luận, kiểm tra



Tự điều chỉnh

Hướng dẫn

điều chỉnh…
Chu trình dạy trên đây thể hiện sự kết hợp hữu cơ giữa chu trình dạy của thầy với chu trình tự
học của trò qua từng thời kỳ, để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức. Cho nên ta phải đề cập
đến thành tố thứ ba là tri thức để có một chu trình dạy - tự học toàn vẹn.
Theo tam giác sư phạm: thầy – trò – tri thức, tính chất của tri thức người học chiếm lĩnh được
qua từng thời như sau:
Thời một (1): Thầy hướng dẫn cho trò tự

Tri thức
Cá nhân

nghiên cứu, quan hệ trực tiếp với tri thức theo
chiều mũi tên ở tam giác sư phạm và tự tìm ra
được một tri thức hay sản phẩm ban đầu mang
tính chất cá nhân, tức là có thể đúng hay sai,
khách quan hay chủ quan, khoa học hay thiếu
khoa học.

Trò
Tự nghiên cứu

Thầy
Hướng dẫn

Tri thức

Thời hai (2): Sản phẩm ban đầu của học

Xã hội




1.2.1.4.

Chu trình dạy – tự học

Tập hợp ba sơ đồ bộ phận trên đây: sơ đồ chu trình tự học, sơ đồ chu trình dạy và sơ đồ thầy
– trò – tri thức qua ba thời, ta có thể dựa vào sơ đồ tam giác sư phạm và nội lực - ngoại lực để sơ đồ
hoá chu trình dạy - tự học như sau:
Tri thức (cá nhân)

Hướng dẫn
(1)
Tự nghiên cứu

Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh

Tổ chức

Tự học

(2)
Tự thể hiện

(3)
Tri thức
(khoa học)

Tri thức

những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Về mặt hoạt động nhận thức, các phương pháp thực hành “tích cực” hơn các phương pháp
trực quan, các phương pháp trực quan “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời.
Muốn thực hiện dạy và học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương
pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện vấn đề, nhất là đối với các
môn khoa học thực nghiệm trong đó có vật lí học.
Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường THPT:

1.2.2.1.

Vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời hoặc có
thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó lĩnh hội được nội dung bài học. Trong phương pháp
vấn đáp, HS đã có vai trò chủ thể, chủ động tìm hiểu tài liệu, nghiên cứu đối tượng thông qua sự dẫn
dắt của GV.
Có ba mức độ vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp thuyết trình và vấn đáp tìm tòi.
- Vấn đáp tái hiện: đây là loại vấn đáp đơn giản nhất và dễ thực hiện. Trong đó, GV đặt ra
một hệ thống câu hỏi chỉ nhằm làm cho HS tái hiện lại những kiến thức đã học.
- Vấn đáp thuyết trình: là vấn đáp trong đó GV đặt ra một hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS
trả lời và thông qua đó thuyết trình cho HS một vấn đề hoàn chỉnh của vật lí, ví dụ như một kiến
thức vật lí mới.
- Vấn đáp tìm tòi: GV đặt ra một hệ thống câu hỏi có tính chất gợi mở, nêu ra những vấn đề
cần giải quyết. Đồng thời bằng một hệ thống các câu hỏi, các yêu cầu mà GV tổ chức cho HS tự tìm
hiểu, nghiên cứu, trao đổi với GV, trao đổi với nhau để đạt tới mục đích dạy học.
1.2.2.2.

Dạy học nêu vấn đề

Đây là phương pháp dạy học mà GV đặt ra trước HS một (hay hệ thống) vấn đề nhận thức,

theo từng nhóm nhỏ để cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó.
Phương pháp dạy và học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ,
mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm
những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động
từ GV.

1.2.2.4.

Dạy và học theo dự án

Dạy học theo dự án là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm HS thiết lập một dự án có
nội dung gắn kết với nội dung học tập. Dựa vào tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng vốn có, trên cơ sở


phân tích thực tiễn thuộc vào phạm vi học tập, cùng với tài liệu, phương tiện HS đề xuất ý tưởng,
thiết kế dự án, soạn thảo và hoàn chỉnh dự án.
Để thiết kế một dự án hoàn chỉnh, thông thường phải trải qua các bước sau:
- Bước 1: Xác định nhu cầu / vấn đề.
- Bước 2: Thiết lập mục tiêu dự án.
- Bước 3: Đưa ra các chiến lược lựa chọn.
- Bước 4: Chọn các chiến lược phù hợp.
- Bước 5: Soạn thảo bản dự án (nội dung chi tiết).
- Bước 6: Thông qua bản dự án ở nhóm (nhóm thẩm định).
- Bước 7: Điều chỉnh và hoàn thiện dự án.
Phương pháp này tạo cho HS một thói quen đặt mình vào vị trí của những người luôn quan
tâm và có hành động hợp lí với thực tế. Mặt khác rèn luyện cho HS kỹ năng thiết kế, xây dựng các
mô hình, tìm tòi lựa chọn các giải pháp thực hiện.
1.2.3. Các biện pháp tăng cường tính tích cực học tập của HS trong dạy học vật lí [17]
1.2.3.1.

giá trị phát triển tư duy và giúp HS tự lực tìm kiếm kiến thức hoặc hiểu sâu kiến thức đã học.
+ GV cho trước các câu hỏi, hướng dẫn HS vào phòng thí nghiệm tự tìm kiếm, trao đổi để
tìm câu trả lời. Sau đó GV giảng lại chính thức.
+ Có nhiều cách giúp HS hoạt động để hiểu một một khái niệm vật lí bằng cách dùng từ ngữ,
biểu đồ, thí nghiệm, video, tranh ảnh, sử dụng các phần mềm máy vi tính.
+ Trò chơi kiến thức, thông qua đó cho HS thấy được quá trình hình thành kiến thức và hiểu
đúng bản chất của nó.
+ Cho HS một số nội dung kiến thức đã biết, yêu cầu đặt câu hỏi theo nội dung đó.
- Tập cho HS có thói quen sử dụng SGK là một biện pháp quan trọng để rèn luyện tư duy và
khả năng tự học của HS.
- Tạo điều kiện cho HS tham gia thực hành các thí nghiệm vật lí.
1.2.3.3.

Tạo các động cơ học tập

Theo Lêonchep thì hình thành hoạt động học tập cho HS là công việc có tầm quan trọng to
lớn và rất cần thiết.
Theo A. V. Pêtrovski có hai tình huống học tập điển hình: tình huống học tập cưỡng bức có
mục đích và tình huống học tập tự giác có mục đích.
Tình huống học tập cưỡng bức có mục đích là tình huống ở đó học tập của HS được thúc đẩy
bởi động cơ tạo ý (thưởng, phạt, đe doạ, yêu cầu, mong đợi…). Trong trường hợp này những tri
thức khoa học chỉ là phương tiện để đạt tới những động cơ khác. Về bản chất, tình huống học tập
này chứa đựng nhiều mâu thuẫn, xung đột động cơ, nhiều khi cản trở việc hình thành hoạt động học
tập. Vì nó không phải là tình huống hoạt động học tập tích cực.
Tình huống học tập tự giác có mục đích là học tập của HS được thúc đẩy bởi chính xác động
cơ tạo ý (hứng thú bản thân tri thức, lòng ham hiểu biết, sự khao khát mở rộng trình độ văn hoá của
mình…). Tình huống này thường không chứa đựng sự xung đột động cơ, do đó nó là tình huống tối
ưu để hình thành phát triển động cơ tạo ý từ các mục đích học tập đạt được. Vì vậy trong học tập,
nhiệm vụ chủ yếu của GV là thuờng xuyên đưa HS vào tình huống này và duy trì nó.



2.1.1. Cấu trúc nội dung của chương
Chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” thuộc chương III trong chương trình vật lí
lớp 10 ban cơ bản. Chương này gồm 6 bài học:
 Bài 1: Cân bằng của một vật chịu tác dụng của hai lực và của ba lực không song song
 Bài 2: Cân bằng của một vật có trục quay cố định. Mômen lực
 Bài 3: Quy tắc hợp lực song song cùng chiều
 Bài 4: Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có mặt chân đế
 Bài 5: Chuyển động tịnh tiến của vật rắn. Chuyển động quay của vật rắn quanh một trục
cố định
 Bài 6: Ngẫu lực
Nội dung của chương là việc xét sự cân bằng và chuyển động của vật rắn. Vật rắn là những
vật có kích thước đáng kể và hầu như không bị biến dạng dưới tác dụng của ngoại lực. Mỗi vật rắn
có một điểm đặc biệt gọi là trọng tâm hay khối tâm của vật (trọng tâm chính là điểm đặt của trọng
lực).
Chuyển động bất kỳ của một vật rắn có thể xem là tổng hợp của hai chuyển động thành phần:
chuyển động tịnh tiến với vận tốc bằng vận tốc của khối tâm và chuyển động quay quanh một trục
đi qua khối tâm. Do yêu cầu của chương trình, HS chỉ học hai trường hợp riêng: trường hợp cân
bằng của vật khi không có chuyển động quay và trường hợp cân bằng của vật khi không có chuyển
động tịnh tiến.
Về cân bằng của vật rắn, gồm có các trường hợp:
- Cân bằng của vật chịu tác dụng của hai lực và ba lực không song song.
- Cân bằng của vật chịu tác dụng của ba lực song song.
- Cân bằng của vật có trục quay cố định.
- Cân bằng của vật có mặt chân đế.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status