Phương pháp sắc kí Xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người và môi trường sống. - Pdf 37

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

MỤC LỤC

1


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và
ẩm thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nông nghiệp, nhưng cũng rất thuận lợi cho
sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ
vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với
phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực
quốc gia. Các hóa chất thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đã được sử dụng rộng rãi ở
nước ta từ đầu những năm 1960 để tiêu diệt sâu bọ, côn trùng gây bệnh, bảo vệ mùa
màng. Từ đó đến nay, thuốc BVTV vẫn gắn liền với tiến bộ sản xuất công nghiệp, quy
mô, số lượng, chủng loại ngày càng tăng. Đã có hơn 100 loại thuốc được đăng ký sử
dụng ở nước ta. Ngoài mặt tích cực của thuốc BVTV là tiêu diệt các sinh vật gây hại cây
trồng , bảo vệ sản xuất, thuốc trừ sâu còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như phá vỡ
quần thể sinh vật trên đồng ruộng, tiêu diệt sâu bọ có ích (thiên địch), tiêu diệt tôm cá,
xua đuổi chim chóc, phần tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nông
nghiệp, rơi xuống nước bề mặt, ngấm vào đất, di chuyển vào nước ngầm, phát tán theo
gió gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới súc khỏe con người.

2


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

có thể tồn tại trong đất gây hại cho thực vật trong nhiều năm. Sau một khoảng thời
gian nó sinh ra một hợp chất mới, thường có tính độc cao hơn bản thân nó.
- Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tác dụng như
thuốc trừ sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phôi bào trứng chim độc hơn
DDT từ 2-3 lần. Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong
môi trường sinh thái đất và cũng tạo thành sản phẩm “Dieldrin” mà độc tính của nó
cao hơn Aldrin nhiều lần. Thuốc diệt cỏ 2.4-D tồn lưu trong môi trường sinh thái đất
và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng. các thuốc trừ sâu dẫn xuất từ
EDBC (acid etylen bis dithoacarbamic) như maned, propioned không có tính độc cao
đối với động vật máu nóng và không tòn tại lâu trong môi trường nhưng dư lượng của
chúng trên nông sản như khoai tây, cà rốt,…dưới tác dụng của nhiệt độ có thể tạo
thành ETV (etylenthioure), mà ETV, qua ngiên cứu cho chuột ăn gây ung thư và đẻ ra
chuột con quái thai.
Con đường phát tán của thuốc BVTV đến môi trường đất:

4


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

2 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường nước
- Theo chu trình tuần hoàn của hóa chất BVTV, thuốc tồn tại trong môi trường
đất sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn
khiến đất bị nhiễm thuốc trừ sâu. Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị
nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ háo chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất,
nước súc rửa,.. điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn
tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ.
- Trong nước, TBVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau, và điều có thể ảnh
hưởng đến môi trường. tác động của nó đối với sinh vật là: hòa tan, bị hấp thụ bởi các
thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng xuống đáy

ngày càng bị ô nhiểm hơn. Mặt khác nông dân sẽ sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng do

6


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
có độ độc cao và tính tồn lưu lâu dài hoặc phối trộn nhiều thuốc BVTV làm tăng độ độc.
Theo thống kê đến năm 1971 đã có 225 loài côn trùng và bệnh kháng thuốc. thuốc BVTV
làm tăng loài này và giảm loài kia, song nhìn chung làm giảm đa dạng sinh học (loài gia
tăng đa số là loài gây hại).

7


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

II NGUỒN GỐC
1 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật hay thuốc trừ sâu trừ sâu có hại là các hợp chất hóa học
được chế tạo để diệt trừ sinh vật gây hại cho cây trồng. Hiện nay chủng loại thuốc bảo vệ
thực vật rất sử dụng rất đa dạng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng chủ yếu vẫn là
các nhóm photpho hữu cơ, các nhóm clo hữu cơ, nhóm cacbamat và clorophenoxy axit
( là chất diệt cỏ).

a, Thế giới
Hiện nay,tình hình thuốc sử dụng trên thế giới ngày một càng nhiều do nhu cầu
thị trường,và nhu cầu thiết yếu của con người về các loại nông sản nên việc dùng
thuốc BVTV là không thể tránh khỏi trong việc sản xuất các loại nông phẩm và sản
xuất nông nghiệp không những thế mà thuốc BVTV có nhiều mục đích trong đời sống
nhằm tiêu diệt các loại côn trùng gây bệnh,hại.Điển hình ở một số quốc gia như: Hoa

sâu
Thuốc trừ 2.700
bệnh
Thuốc diệt
520
cỏ
Thuốc khác
410

%

Số
lượng

%

Số
lượng

%

Số
lượng

%

100
82,20

24.415


3,30

2.600

10,5

3050

11,91

4.500

11,70

1,90

915

3,75

1050

4.10

2.350

4,50

b1, Giới thiệu một số loại thuốc sử dụng trong nông nghiệp

vượt quá mức quy định (Theo Đỗ Hoàng Oanh (2007), trích Ngân hàng thế giới,
2007) .
Tỉnh Vĩnh Long, cũng đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do tác động
tiêu cực của ngành nông nghiệp, do dư lượng nông dược tồn tại vượt mức cho phép
làm ô nhiễm môi trường nước, đất sản xuất trong vùng. Kết quả quan trắc nước của
Sở Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Vĩnh Long từ năm 2001-2006 cho thấy: “Mỗi năm
phân tích 10 - 16 mẫu nước tại các sông, rạch vùng trồng lúa xã Trung Chánh (Vũng
Liêm), Thuận An, Mỹ Thuận (Bình Minh) và vùng trồng rau xã Tân Quới, Thành Lợi
(Bình Minh) trong nước có gốc Clo hữu cơ và một số hóa chất độc hại khác vượt mức
cho phép” (Trung Chánh, 2007).
Ở ấp An Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang người dân ở đây không dám sử
dụng nước của con kênh, nguồn lợi thủy sản ở đây không còn. Nguyên nhân do thuốc
10


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
bảo vệ thực vật từ trên đồng xả xuống dòng sông cùng với các bọc, vỏ chai, bao đựng
thuốc BVTV thả trôi lềnh đền trên sông làm nguồn nước bị ô nhiễm (Hùng Anh,
2007).

11


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

III GIỚI HẠN (TIÊU CHUẨN TRONG MÔI TRƯỜNG)
1 Độc tính dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật và ảnh hưởng của thuốc
BVTV
a, Khái niệm về dư lượng TBVTV
Theo tiểu ban danh pháp dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc thì dư lượng TBVTV

bên ngoài, tuổi của cây.
Động thái dư lượng của một số nhóm thuốc BVTV trong cơ thể sinh vật có thể
tóm tắt như sau:
Thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và Cabonat
Trong cơ thể động thực vật, các hợp chất lân hữu cơ và cacbonat ít hoặc không
có tích lũy lâu trong lipit, lipoprotein, mô mỡ. Tuy nhiên thuốc hòa tan trong dẫn xuất
ete của axit hữu cơ vòng thơm và tồn tại rất lâu.
Trong cơ thể động thực vật sự chuyển hóa của cacbonat chậm hơn, các hợp
chất trung gian trong quá trình chuyển hóa có đặc tính thấp hơn dạng ban đầu.
Sự chuyển hóa của các hợp cất lân hữu cơ diễn ra nhanh và phức tạp , xuất hiện
nhiều hợp chất trung gian độc đối với côn trùng và động vật máu nóng hơn rất nhiều
lần dạng thuốc ban đầu.
Thuốc trừ sâu thuộc nhóm Pyrethroit và một số hợp chất khác
Các hợp chất Pyrethroid, Benzoylphenyl urê, dẫn xuất Thiadiazin, hợp chất
Oxihidrocacbon dưới tác dụng của enzyme cây và ánh sáng mặt trời, chuyển hóa và
phân giải nhanh, ít tồn lưu trong nông sản, các hợp chất chuyển hóa trung gian ít độc
hơn dạng hợp chất ban đầu hay không độc.

13


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
c, Tính độc của thuốc đối với môi trường thành phần
Sử dụng thuốc BVTV có liên quan trực tiếp đến môi trường đất và nước. theo
kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc phun ra bị rơi
xuống đất. thuốc tồn trông đất dần dầnđược phân giiai3 qua hoạt động sinh học của
đất và qua của các yếu tố lý hóa . tuy nhiên, tốc độ phân giải ại trong đâtốc độ phân
giải thuốc chậm nến thuốc tồn trong đất với hàm lượng lớn, nhất là ở đất có hoạt động
sinh học yếu, do đó thuốc bị rửa trôi gây nhiểm bẩn nguồn nước.
Thuốc trừ sâu gốc hóa học hiện nay đang được dùng quá nhiều trong sản xuất

hưởng bởi các yếu tố sau:a)tính nhảy cảm của sinh học của các VSV đối với từng loại
thuốc thay đổi khác nhau, trong loài và trong quần xã, b)các động thực vật đối với môi
trường của mỗi loại thuốc có thể bị ảnh hưởng bởi một số thong số chẳn hạn tỷ lệ
phun, dụng cụ phun, thời tiết, vị trí phun.
Và cũng cũng cần lưu ý rằng nếu đạt đến một liều đủ lớn, bất kì hóa chất nào
cũng gây độc đối với mọi sinh vật. tất cả các hóa chất đều có tính độc tiềm tang. Ngay
cả nước sạch, nếu uống nhiều trong một thời gian ngắn, nước sẽ gây độc cho sinh vật
do mất khả năng kiểm soát quy luật thẩm thấu của huyết tương. Đó là chưa nói đến
các hóa chất có tính độc thì có nhiều loại có sẵn trong tự nhiên, nguy hiểm hơn nửa là
chúng có thể truyền tính độc qua lưới thức ăn, ví dụ năm 1991 sự bùng nổ của loài tảo
nitzchia occidentalis ở vịnh Montery, California, đã gây ra một sự tích tụ axit domoic
trong các phiêu sinh động vật. một loài cá nhỏ như cá trống (engdraulis mordax), đã
ăn các phiêu sinh động vật này và tiếp tục gây độc cho một số lớn cá lớn các loài chim
ăn cá như Bồ Nông và ốc, đồng thời một số người bị ngộ độc do ăn các loài sò biển đã
bị ngộ độc từ Khuê tảo (theo Frits et al., 1992).
Một nghiên cứu khác về sự nhiễm độc hóa học cho môi trường đã được tiến
hành năm 1982 tại 11 vùng nông nghiệp đầu nguồn ở Ontario. Có ít nhất 81 loại thuốc
15


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
trừ sâu khác nhau đã được sử dụng trong nông nghiệp dọc theo hành lang an toàn
( của các con sông) và nhiều loại thuốc sử dụng gần nhà. Trung bình 39% bề mặt đất
nhận 8,3kg/ha/năm. Việc sử dụng nồng độ cao thuốc trừ sâu ở vùng này đã gây ra ô
nhiễm bề mặt nguồnn nước tại vùng nghiên cứu. thuốc diệt cỏ atrazine có mặt trong
93% các mẫu nước ( với mức sử dụng 2,2 kg/ha/năm). Mặt dù DDT bị cắm sử dụng
vào năm 1972 nhưng vẫn tìm thấy nó trong 41% các mẫu nước.
Một ví dụ khác, quần thể gà gô(Perdix) đã suy giảm nghiêm trọng ở nước Anh
trong vòng một thập niên gần đây. Vào năm 1952, mật độ trung bình của loài này là
khoảng 25 cặp/km2, nhưng vào giau74 những năm 80 giảm chỉ còn 5 cặp/km2 ( giảm

nhiên, các thiết bị liên kết với bộ phận khối phổ (MS – Mass spectrum) được sử dụng
nhiều nhất trong các phân tích có chủ định.
Trong một vài thập niên gần đây, phương pháp xác định mức vi lượng (dạng
vết) các HCBVTV đã có những thay đổi đáng kể. Từ những năm đầu thập kỉ 70, hầu
hết các phân tích dư lượng thuốc trừ sâu đều được tiến hành bởi hệ sắc kí khí (GC –
Gas chromatography) liên kết với các detector cộng kết điện tử (ECD – electron
capture detector), detector Nito-Photpho (NPD – nitrogen-phosphorous detector) và
detetor quang hóa ngọn lửa (FPD – Flame photometric detector). Xuất phát từ yêu cầu
17


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
về tính chính xác trong kết quả phân tích, việc sử dụng sắc kí khí ngày càng được sử
dụng ở mức độ sâu hơn với sự đa dạng hóa các loại cột chất phân tích sắc kí và các
detector phát hiện.
Ngày nay việc sử dụng GC liên kết với MS có thể xác định được đồng thời và
chính xác dư lượng của nhiều thuốc trừ sâu chỉ trong một lần chạy và chỉ với một thiết
bị. Trong hầu hết các trường hợp, độ nhạy thu được với GC – MS là tương đương với
hệ GC cùng với các detector cổ điển. Độ chọn lọc của GC – MS có thể điều chỉnh bởi
sự lựa chọn các phân mảnh ion hay ion phân tử thích hợp, nhằm tránh sự ảnh hưởng
của các dung môi được dùng khi chiết tách HCBVTV.
Detetor ECD có thế được sử dụng trước để nhận dạng các hợp chất thông qua
việc so sánh thời gian lưu các pic mẫu với pic chuẩn, tuy nhiên để xác minh rằng pic
đó không lẫn các tạp chất trong mẫu thực hay chất do sự rửa giải nội sinh gây nên cần
sự hỗ trợ của MS trong chế độ SIM. Do vậy, vai trò và tầm quan trọng của các hệ GC
với các detetor ECD, NPD, hoặc FPD giảm dần trong các phòng thí nghiệm hiện đại.
Các phương pháp phân tích dựa trên LC được áp dụng trước đó hiếm hoi hơn.
Vì các detetor truyền thống như UV, diode array và huỳnh quang thường có độ nhạy
và độ chọn lọc kém hơn so với các thiết bị GC. Nhưng trong vài năm gần đây, nhờ
khả năng sự ion hóa trong điều kiện áp suất thường đã cho sự thay đổi lớn so với các

lựa chọn các ion đặc trưng cần thiết trong suốt quá trình thu thập dữ liệu. Trong kĩ
thuật IT, sự chuyển đổi chế độ SCAN toàn diện các ion do bắn phá sang các ion đo
ion hóa học theo một cách đơn giản cung cấp đầy đủ thông tin cho việc nhận dạng và
định lượng các HCBVTV và các chất chuyển hóa một cách nhanh chóng. Trong chế
độ chạy SCAN đầy đủ, ở nồng độ thấp hơn thiết bị này tỏ ra tương đối nhạy và chứng
minh bằng việc tra thư viện phổ.
Nhưng khi so sánh với thiết bị đơn tứ cực chạy trong chế độ kiểm soát việc lựa
chọn ion các HCBVTV giống nhau bị che phủ lẫn nhau và độ nhạy khi đó khác nhau
không nhiều.
19


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
Ion hóa hóa học ít được sử dụng hơn. Ion hóa hóa học (PCI hoặc NCI) khi liên
kết với MS cho độ chọn lọc tốt hơn so với EI đối với một số thuốc trừ sâu nhất định.
Kết quả trong sắc kí đồ cho thấy giảm sự tương tác của tín hiệu với đường nền nhưng
cường độ tín hiệu của các thuốc trừ sâu khác (khi tiêm mẫu với lượng giống nhau) cho
thấy sự biến thiên nhiều hơn khi ion hóa bằng EI. Đặc biệt, GC – MS với sự ion hóa
học chỉ được chú ý đến một vài loại hoạt chất đặc biệt như thuốc trừ sâu Clo,
Pyrethroid và cơ Phospho. Người ta hiếm khi sử dụng các phương pháp này trong
phân tích dư lượng nhiều chất đồng thời bởi vì chúng không phải là kỹ thuật ion hóa
phổ biến. Thêm nữa, khối phổ sinh ra bởi sự ion hóa hóa học thường cho số lượng
phân mảnh ít hơn, do vậy lượng thông tin thu được ít hơn.
Thiết bị GC – TOF có thể hoạt động theo hai chương trình. Một là cho tốc độ
quét rất lớn, cho phép việc tách các peak trùng lặp về tín hiệu. Điều này có thể chứng
minh từ kết quả thu được 3000 peak từ khói thuốc lá. Một loại thiết bị GC – TOF khác
cho độ phân giải khối rất cao và cho phép đánh giá dữ liệu với sự sai khác về khối hẹp
(khoảng 0,02 Da). Tuy nhiên hầu hết các thiệt bị TOF đều mặc phải nhược điểm là
khoảng động học hẹp.
Trong các thảo luận về CI – MS và GC – TOF, điểm nổi bật của hệ thống GC –

dụng kết nối với các điều kiện SRM. Thậm chí nếu một thành phần nền có khối lượng
phân tử giống một thuốc trừ sâu, thông thường cả hai ion đẳng tích có thể được tách
trong thực nghiệm SRM, bởi sự phân mảnh của chúng trong tế bào va chạm hầu như
cho các ion sản phẩm khác nhau. Vì vậy quang phổ kế - MS/MS cho độ nhạy rất tốt
và độ chọn lọc không thể vượt trội hơn. Vì lý do đó, cho tới nay các máy phân tích
khối tứ cục ba sử dụng detecter MS nhiều nhất. Bẫy ion tứ cực có thể hoạt động cùng
MS/MS mà giảm cường độ đường nền tới một mức như được biết từ quang phổ kế
MS/MS.Tuy nhiên, sự hấp thụ ion, sự phân mảnh và phân tích khối phổ của các mảnh
là quá trình gồm các bước nối tiếp trong các bẫy và yêu cầu nhiều thời gian hơn so với
thiết bị tứ cực ba, một thiết bị có thể làm hai việc đó song song. Hơn nữa, bẫy ion vấp
phải một nhược điểm là khoảng động học giới hạn, ít khả năng hơn trong phân mảnh
các ion rất bền và không hiệu quả khi bẫy các phân mảnh thấp khối. Quang kế khối
21


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
phổ TOF khi liên kết với LC được sử dụng nhiều hơn trong chế độ phân giải cao (sai
số số khối đặc trưng < 2mDa), có thể cho thấy sự khác biệt tốt hơn về đường nền. Sự
tiện lợi chính của loại thiết bị này là sự phân biệt các pic không biết trong một mẫu,
thậm chí chỉ khi việc phân tích chất chuẩn là không thể. Những ưu thế này thường
không cần thiết khi luật pháp đã quy định bắt buộc về dư lượng lớn nhất. Hơn nữa, sự
nhận dạng các thuốc trừ sâu trong mẫu bởi LC – MS – TOF là kém chắc chắn hơn so
với GC – EI/MS.
Việc sử dụng thiết bị tứ cực TOF hỗn hợp (Q-TOF) cho phép xác định hầu như
chắc chắn. Sự tin cậy này dựa trên sự kết nối giữa thời gian lưu, khối lượng của các
ion phân tử chọn lọc bởi các bộ phận lọc khối tứ cực và sự va chạm hoàn toàn dẫn đến
phổ khối thu được từ các máy phân tích TOF. Không may, độ nhạy của Q –TOF khi
liên kết với máy phân tích tứ cực ba là một loại thiết bị có từ trường thấp hơn. Bên
cạnh trở ngại này, khoảng tuyến tính nhỏ hơn khến cho việc sự dụng Q-TOF trong
việc định lượng các dư lượng bị hạn chế.

Ưu điểm của kỷ thuật này là có thể xác định được cả hai dạng tồn tại: acid và
methyl ester của các thuốc diệt cỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, ứng với dạng
acid tự do, phương pháp cho phép định lượng tốt các hợp chất trên với giới hạn phát
hiện (LOD) thấp từ 0.75 – 1.5 μg.Kg-1 và hiệu suất thu hồi từ 88.14-107%. Với dạng
methyl ester, phương pháp cho giới hạn phát hiện từ 1.1 – 3.0 μg.Kg-1 và hiệu suất
thu hồi từ 41.74 – 87.5%.
Nhóm thuốc diệt cỏ gốc phenoxy acid thường được sử dụng nhằm ngăn chặn sự
phát triển và che phủ của cỏ dại ảnh hưởng đến cây trồng. Các hóa chất này ức chế
một số quá trình sinh học trong cỏ dại, do đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cỏ dại. Hiện nay ở nước ta nhóm thuốc diệt cỏ gốc Phenoxy acid
được sử dụng chủ yếu trong sản xuất nông sản thực phẩm như: lúa gạo, lúa mì, đậu
nành,…
Hiện nay, hợp chất 2,4,5-T bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, theo
thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT, kể từ ngày 22/02/2012 hợp chất 2,4,5-T bị cấm sử
dụng. Trong nhóm thuốc diệt cỏ Phenoxy acid, hợp chất 2,4-D được sử dụng rộng rãi
hơn cả. Bộ Y Tế đã đưa ra mức giới hạn tối đa dư lượng (MRL) của 2,4-D và 2,4,5-T
trong sản phẩm gạo lần lượt là 0.1 và 0.01 mg/Kg trong Quyết định 46/2007/QĐBYT ngày 19/12/2007 “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong
thực phẩm”.
24


PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
Với tính tan tốt trong môi trường nước, các hóa chất diệt cỏ họ phenoxy dễ
dàng xâm nhập vào hệ sinh thái khu vực trồng trọt (đất, nước mặt, nước ngầm). Bản
thân các hợp chất thuốc diệt cỏ họ phenoxy có độc tính trung bình, nhưng các chất
chuyển hóa của chúng (đặc biệt là các chất có chứa gốc halogen) rất độc với con
người và nhiều loài sinh vật khác. Các nghiên cứu chỉ ra rằng chúng là nguyên nhân
gây ra các khối u ác tính trong mô ở người và gây quái thai ở động vật.
Dư lượng thuốc diệt cỏ trong thực phẩm thường có nồng độ rất thấp và nền
thực phẩm rất phức tạp, do đó cần phương pháp tách chiết, làm giàu các hợp chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status