BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Thị Minh Huyền
ĐẶC ĐIỂM DIỄN NGÔN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Thị Minh Huyền
ĐẶC ĐIỂM DIỄN NGÔN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU.. ......................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ..........................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................11
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................11
5. Những đóng góp của luận văn ................................................................................12
6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................................13
Chương 1. DIỄN NGÔN NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI ..........................................14
1.1. Giới thuyết chung về người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện trong
tác phẩm tự sự .......................................................................................................14
1.1.1. Khái niệm người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện ...........................14
1.1.2. Các kiểu diễn ngôn người kể chuyện ..............................................................20
1.2. Diễn ngôn người kể chuyện trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ..............................23
1.2.1. Diễn ngôn kể ...................................................................................................23
1.2.2. Diễn ngôn tả ....................................................................................................35
1.2.3. Diễn ngôn trữ tình ngoại đề ............................................................................40
Chương 2. DIỄN NGÔN CỦA NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI.............................................. 47
2.1. Nhân vật và diễn ngôn của nhân vật trong tác phẩm tự sự ..................................47
2.1.1. Nhân vật, từ góc nhìn chủ thể của diễn ngôn ..................................................47
2.1.2. Diễn ngôn của nhân vật ...................................................................................48
2.2. Diễn ngôn của nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ....................................52
2.2.1. Diễn ngôn đối thoại .........................................................................................52
2.2.2. Diễn ngôn độc thoại ........................................................................................71
Anh Thái thành công hơn cả. Những truyện ngắn của Hồ Anh Thái từ khi ra đời cho
đến nay đều thu hút một số lượng độc giả lớn. Tạo nên sức hấp dẫn ở những truyện
ngắn của Hồ Anh Thái chính là chỗ nhà văn luôn tạo được những nét độc đáo trong
các tác phẩm của mình. Với những câu chuyện đa dạng về đề tài, Hồ Anh Thái đã
mang đến cho người đọc nhiều xúc cảm mới lạ nhưng cũng vô cùng sâu sắc về thế thái
nhân tình. Với một nội lực lớn lao về tư duy nghệ thuật, Hồ Anh Thái được nhiều nhà
nghiên cứu đánh giá cao.
Gần đây vấn đề trần thuật học đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu
rộng ở nhiều bình diện. Bên cạnh tập trung tìm hiểu giọng điệu, kết cấu, điểm nhìn,
các nhà trần thuật học còn đi sâu nghiên cứu lời kể, cách kể, hoặc nói cách khác là
nghiên cứu diễn ngôn trần thuật. Diễn ngôn trần thuật có vai trò lớn trong việc đảm
bảo sự bền vững cho tác phẩm văn học. Bên cạnh đó nó còn là phương tiện quan trọng
biểu thị cho quá trình giao tiếp giữa độc giả với tác phẩm, giúp độc giả lí giải nội dung
văn bản trên cơ sở phạm vi hiểu biết văn học của mình. Tập trung nghiên cứu lớp diễn
ngôn, tức lớp ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo nên nó không chỉ giúp ta “hiểu
mới, hiểu lại các khái niệm đã quen, chưa hiểu sâu…” [96] mà còn thấy những vấn đề
trong tác phẩm văn học được nhìn nhận một cách toàn diện; tạo cơ sở lí luận vững
chắc hơn khi đánh giá nội dung, tư tưởng, giá trị thẩm mĩ của một chỉnh thể văn học và
phong cách nhà văn.
Đối với tác phẩm tự sự, diễn ngôn là một nhân tố vô cùng quan trọng, có ảnh
hưởng lớn đến việc tổ chức cấu trúc trần thuật của tác phẩm, thể hiện tư tưởng trong
chỉnh thể tác phẩm và quyết định phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn. Xét thấy, từ
trước đến nay có rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu tìm hiểu truyện ngắn Hồ Anh Thái
ở nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau: giọng điệu giễu nhại, nghệ thuật trần thuật,…
2
song chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu cấu trúc diễn ngôn trần thuật trong truyện
ngắn của ông. Tập trung vào đề tài “Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện
tầm quan trọng của ngôn ngữ trần thuật đối với sự hình thành của văn tự sự: “Trong
tác phẩm tự sự, trần thuật là một thành phần lời của tác giả, của người kể chuyện
(toàn bộ văn bản tác phẩm, ngoại trừ lời trực tiếp của nhân vật)… Lời của tác giả,
người kể chuyện: kể, miêu tả hành động, các biến cố thời gian, mô tả chân dung, mô tả
hoàn cảnh hoạt động, tả ngoại cảnh, tả nội thất,… lời bàn luận, lời nói bán trực tiếp
của nhân vật… Những phát ngôn của người kể chuyện chủ yếu tồn tại dưới dạng lời
kể, lời tả, lời bình luận hay lời gián tiếp tự do (lời nửa trực tiếp hay lời nói bán trực
tiếp)” [2, tr.96]. Phần sau của bài viết đi sâu tìm hiểu các kiểu lời phát ngôn của người
kể chuyện và tính chất đa thanh của ngôn ngữ người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại. Kết thúc, Thái Phan Vàng Anh cho rằng chính cách xây dựng diễn
ngôn trần thuật theo những cách khác nhau là “một trong những đặc điểm để khu biệt
tiểu thuyết đương đại với tiểu thuyết truyền thống” [2, tr.108].
Trong “Diễn ngôn về xứ thuộc địa trong tác phẩm Người tình của M. Duras”,
Nguyễn Thị Ngọc Minh tìm hiểu “những dấu ấn sâu đậm về xứ thuộc địa” trong tác
phẩm của Duras. Người viết tập trung vào ba loại diễn ngôn: “diễn ngôn chính trị ồn
ào khẳng định vị trí thượng đẳng của kẻ đi khai hóa văn minh, diễn ngôn khoa học cắt
đứt một cách lạnh lùng Đông Dương với lịch sử và địa lí riêng biệt của nó, diễn ngôn
về giới thừa nhận uy quyền tuyệt đối của người đàn ông da trắng...” [86]. Bởi sự
tương tác của ba kiểu diễn ngôn này đều “nhằm khẳng định quyền lực của thực dân
đối với xứ thuộc địa” [86].
“Diễn ngôn hội thoại và độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao” (2013) của Nguyễn Thị Thu Hằng tiếp cận truyện ngắn Nam Cao từ lí
thuyết phân tích diễn ngôn. Bài viết tập trung thống kê, phân tích các cuộc hội thoại và
độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Tác giả qua đó khẳng
định biệt tài sử dụng ngôn từ của nhà văn khi viết truyện ngắn nói chung và truyện
ngắn Chí Phèo nói riêng: “Nam Cao đã sử dụng diễn ngôn độc thoại nội tâm của nhân
vật như là một phương tiện để trần thuật. Cách trần thuật này một mặt tạo nên cách kể
phức điệu, đa giọng, tạo sức cuốn hút đối với người đọc, mặt khác giúp nhà văn nhập
sâu vào dòng suy nghĩ của nhân vật, bộc lộ mọi ngõ ngách của tâm hồn con người,
Thị Ngọc Minh tiếp cận theo hướng xã hội học, Nguyễn Thị Thu Hằng thì theo hướng
ngữ học. Các bài báo còn lại tìm hiểu diễn ngôn theo hướng văn học. Mỗi bài báo đi
vào những vấn đề cụ thể của diễn ngôn trần thuật. Thái Phan Vàng Anh, Lâm Thị
Thiên Lan đi sâu vào diễn ngôn người kể chuyện, Nguyễn Đăng Vy tìm hiểu cụ thể về
diễn ngôn đối thoại, độc thoại và đôi nét về sự hòa phối diễn ngôn. Hoàng Tố Mai thì
5
đi chi tiết vào một loại diễn ngôn của người kể chuyện - diễn ngôn gián tiếp tự do. Tuy
nhiên, tính đến thời điểm này, chưa có công trình độc lập nào tiếp cận truyện ngắn Hồ
Anh Thái ở phương diện diễn ngôn.
Qua thống kê, phân tích, mô tả những công trình nghiên cứu trên, kết quả cho thấy
các bài viết chú ý tập trung tìm hiểu diễn ngôn của chủ thể trần thuật, đề cập sơ qua diễn
ngôn của nhân vật và sự hòa phối diễn ngôn trong tác phẩm văn học. Tuy mới triển khai
những khía cạnh nhỏ của diễn ngôn trần thuật, song những công trình đã định hướng
cho chúng tôi rất nhiều trong việc triển khai đề tài.
2.2. Những bài viết, công trình nghiên cứu về truyện ngắn Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái được biết đến như một “hiện tượng văn chương” thời kì hậu chiến.
Những tác phẩm của ông được dư luận trong và ngoài nước đánh giá rất cao. Những
bài viết về truyện ngắn của nhà văn tập trung vào một số vấn đề sau:
Ý kiến về nghệ thuật biểu hiện và nội dung phản ánh trong các bài báo
Về nghệ thuật
Trong bài “Một vẻ đẹp cổ điển” (1993), Lê Minh Khuê đã có những nhận xét sâu
sắc về nghệ thuật hành văn của Hồ Anh Thái: “Cách hành văn trong sáng, mỗi câu
đều chứa đựng những tình tiết mới mẻ và tràn đầy chi tiết vừa xác thực, vừa ẩn dụ,
ngôn ngữ truyện ngắn giản dị… tạo sức cuốn hút mạnh mẽ” [63, tr.301].
Ở bài báo “Nhà văn và tầm văn hóa” (1996), Phạm Quốc Ca khẳng định:
“Giọng điệu thẩm mĩ của tập truyện đa dạng. Hài hước, nghiêm nghị… những triết lí
về cuộc sống dày đặc như đánh vào tâm hồn mỗi chúng ta” [63, tr.287].
xa, nhiều hình ảnh tượng trưng siêu thực, nhiều khi trào lộng chua cay, đôi khi hài
hước mà buồn thấm thía” [14, tr.55]. Ngoài ra, Anh Chi có đưa ra những nhận định
ban đầu về loại hình văn chương Hồ Anh Thái: “Hồ Anh Thái không chỉ viết văn
chương luận đề, một loại văn hiếm hoi của nền văn chương nước ta. Anh còn tỏ ra rất
tài trong văn chương hoạt kê” [14, tr.54].
“Hồ Anh Thái - Người mê chơi cấu trúc” (2012) của Nguyễn Đăng Điệp khám
phá tác phẩm của Hồ Anh Thái ở phương diện cấu trúc, nghệ thuật. Truyện ngắn Hồ
Anh Thái mang tính đa cấu trúc, với cốt truyện phân mảnh, cách thay đổi cấu trúc kể,
ngôn ngữ, giọng điệu văn xuôi “khác hẳn so với văn xuôi 1945-1975”. Nhà phê bình
khẳng định yếu tố giúp tác phẩm của Hồ Anh Thái nói chung, truyện ngắn nói riêng
được mọi người tìm đọc nhiều là “Hồ Anh Thái đã lao động cật lực trên từng con chữ
đúng kiểu một nhà văn chuyên nghiệp, và với một vốn văn hóa dày dặn, anh không rơi
7
vào tình trạng tự thỏa mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạo những kiến
trúc mới mẻ, táo bạo” [80].
Bùi Thanh Truyền - Lê Biên Thùy trong bài viết “Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu
hiện đại” (2013) đi sâu tìm hiểu những dấu ấn hậu hiện đại trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái ở phương diện: đề tài, nhân vật và nghệ thuật ngôn từ. Theo tác giả bài viết,
truyện ngắn Hồ Anh Thái thường hướng đến đề tài “sự lo âu và dự cảm”, xây dựng
những nhân vật “rất nhiều điều không” tạo dựng lớp “ngôn từ giễu nhại” và ngôn từ
được “hoàn cảnh hóa”.
Trần Thị Ty trong “Sự dung hợp thể loại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái nhìn
từ những vỉa tầng văn hóa” (2013) cho rằng “truyện ngắn Hồ Anh Thái đã thể hiện
một sự nỗ lực, tham vọng giao kết, xóa nhòa ranh giới với những loại hình văn hóa
khác trong đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại” [100]. Sau khi triển khai nội
dung người viết khẳng định, chính sự dung hợp thể loại trong truyện ngắn, “Hồ Anh
Thái đã cho thấy sức sống bền vững của thể loại này trong xu thế bình đẳng với các
bóng bẩy… Nhưng đó là một bức chân dung đáng được đọc và suy nghĩ” [61, tr.235236].
Đỗ Hải Ninh trong “Đọc “Tiếng thở dài qua rừng kim tước”” (2007) cho rằng:
“Truyện ngắn của Hồ Anh Thái có những nét riêng độc đáo của một nhà văn Việt Nam
am hiểu văn hóa Ấn Độ và viết về xứ sở này như viết về chính quê hương mình” [63,
tr.294]. Thật vậy, rất nhiều truyện ngắn của Hồ Anh Thái viết về con người, cảnh vật
và văn hóa Ấn Độ. Tiến sĩ văn học K. Pandey đã đại diện cho đồng bào nói: “Những
dòng chữ của Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt
tính cách Ấn Độ” [63, tr.276].
Bùi Như Hải trong “Tư duy truyện ngắn Việt Nam sau đổi mới về đề tài đạo
đức xã hội” (2010) đi vào khai thác khía cạnh nội dung phản ánh trong những truyện
của Hồ Anh Thái. Đó là những “con người tha hóa trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, của
tầng lớp trí thức mà có cả sự tha hóa của người già, trẻ, người lãnh đạo, nhà giáo,
họa sĩ, bọn ma cô, buôn lậu. Đồng tiền biến họ thành con thiêu thân, đắm chìm trong
trường lạc”; “phê phán tư tưởng sùng ngoại nảy sinh từ tâm lí của một số người, hi
vọng về một sự đổi đời ở một miền đất nào đó ở ngoài Tổ quốc”; “phản ánh sự xuống
cấp trong một số lĩnh vực xã hội, trong đó có văn hóa nghệ thuật,… phác họa chân
dung những kẻ bất tài, vô trách nhiệm với nghệ thuật, chỉ chạy theo đồng tiền và
những thú vui xác thịt” [82]. Ngoài ra còn trình bày khái lược về giọng điệu trong
9
truyện ngắn Hồ Anh Thái, một “giọng điệu lạnh lùng” dùng để “phê phán mạnh mẽ sự
vô tâm, thờ ơ của xã hội đối với những kẻ vô tội” [82].
Luận văn
Nghiên cứu về giá trị nội dung, tư tưởng
Đỗ Thị Ngọc Lan trong luận văn Thạc sĩ “Cảm hứng phê phán trong văn xuôi
hiện đại Việt Nam thời kì đổi mới (qua tác phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh,
Hồ Anh Thái)” (2009) tập trung tìm hiểu những nội dung phản ánh cái xấu trong tác
phẩm và cơ chế xã hội dồn ép con người lương thiện vào những bi kịch trong cuộc
ranh giới rõ ràng, tạo nên sự phức hợp của các hệ lời và tính phức điệu cho lời văn.
Ngoài ra, người viết còn cho rằng “sự hòa trộn các hệ lời” có tính quyết định đến tốc
độ trần thuật: “tác giả không cần tách bạch lời nhân vật và lời của người kể chuyện,
mà đặt liền nhau, xen kẽ lời kể - tả - bình luận khiến mạch kể chuyện trở nên nhanh
hơn, gợi cảm giác về nhịp sống đô thị hiện đại gấp gáp và thực dụng, xô bồ, ngổn
ngang…” [19, tr.107]. Bên cạnh đó, luận văn còn tập trung phân tích, đánh giá những
đặc sắc về nghệ thuật trào phúng của Hồ Anh Thái ở phương diện xây dựng nhân vật,
tình huống, cốt truyện. Khẳng định chính nghệ thuật trần thuật độc đáo đã giúp nhà
văn thành công trong việc phát huy khả năng tạo dựng tiếng cười.
Nhìn chung, qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các bài báo, bài viết về
truyện ngắn Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy mỗi bài viết tiếp cận những khía cạnh khác
nhau nhưng đều thống nhất ở những điểm sau:
- Khẳng định Hồ Anh Thái là nhà văn tài năng, có nhiều tìm tòi trong sáng tạo nghệ
thuật, để lại dấu ấn riêng của mình trên những trang truyện ngắn.
- Khai thác điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ở
nhiều khía cạnh, từ nhiều trường phái lí thuyết. Dù theo phương diện nào thì cuối cùng các
tác giả đều hướng đến làm bật lên phong cách nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái nói chung
và truyện ngắn nói riêng.
- Trong tất cả các bài viết, có hai luận văn đề cập trực tiếp đến ngôn ngữ trần thuật
trong tác phẩm Hồ Anh Thái. Cả hai đều khẳng định, ngôn ngữ trần thuật phụ thuộc vào
cách nhà văn chọn điểm nhìn, ngôi kể. Ngôn ngữ trần thuật có sự đan xen của các hệ lời, tạo
tính đa thanh, phức điệu cho lời văn. Ngoài ra, luận văn còn trình bày ngắn gọn về cách tạo
lập ngôn ngữ trần thuật. Việc tạo lập này có ảnh hướng đến nhịp kể của văn bản. Tuy nhiên,
các tác giả chưa đưa ra một cách đầy đủ và hệ thống về các dạng lời kết hợp trong ngôn ngữ
của nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện và các dạng lời của ngôn ngữ người kể chuyện với
ngôn ngữ của nhân vật. Bài nghiên cứu chỉ mới khẳng định sự đan xen của các hệ lời tạo
11
12
loại hình diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Tránh đưa ra những kết
luận sai lệch, chủ quan.
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi sử dụng hệ phương pháp hình thức
phân tích văn bản trong ngôn ngữ để phân tích tác phẩm thành các đơn vị nhỏ hơn. Từ
đó đặt ngôn ngữ trong hành động nói, trong bối cảnh giao tiếp để giải quyết nội dung
mà luận văn cần đạt.
Phương pháp liên ngành văn học và ngôn ngữ: Giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa
văn học và ngôn ngữ, qua đó làm cơ sở để tìm hiểu rõ và triển khai các luận điểm của
luận văn.
Phương pháp so sánh: Trong quá trình triển khai luận văn, muốn làm rõ hơn đặc
điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, chúng tôi có so sánh với
các nhà văn khác cùng thời Hồ Anh Thái. Từ đó có cơ sở khẳng định nét độc đáo trong
cách xây dựng diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn của ông.
Sử dụng thao tác phân tích: Chúng tôi vận dụng thao tác phân tích để minh họa
cho những nhận xét, lập luận của mình trên cơ sở phân tích những dẫn chứng trích ra
từ các truyện ngắn của Hồ Anh Thái.
Sử dụng thao tác thống kê, mô tả: Nhằm phân loại các kiểu diễn ngôn trần thuật
trong truyện ngắn Hồ Anh Thái để xem xét những hiện tượng có tính tập trung cao, có
tần suất xuất hiện nhiều lần trong truyện ngắn, mong tìm ra những đặc điểm riêng, ổn
định trong truyện ngắn Hồ Anh Thái.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu “Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái” một cách hệ thống, toàn diện.
Tìm hiểu diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là một hướng mới
giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nghệ thuật tạo lập diễn ngôn trần thuật trong kĩ thuật
viết truyện ngắn của ông. Đưa ra mô hình diễn ngôn trần thuật mà Hồ Anh Thái sử
14
Chương 1. DIỄN NGÔN NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI
1.1. Giới thuyết chung về người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện
trong tác phẩm tự sự
1.1.1. Khái niệm người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện
Trần thuật học là một ngành nghiên cứu mới được định hình từ thập niên 60 của
thế kỉ XX nhưng nó đã giải quyết rất nhiều những vấn đề then chốt của lí luận văn học
mà hàng chục thế kỉ trôi qua chưa được làm sáng tỏ. Ngoài nghiên cứu cấu trúc truyện
kể, vấn đề điểm nhìn, ngôi, giọng điệu,… người kể chuyện là một trong những vấn đề
mà trần thuật học không thể bỏ qua. Tìm hiểu người kể chuyện sẽ giúp người đọc hiểu
được vai trò và chức năng của chủ thể trong tác phẩm tự sự và là cơ sở nền tảng để
nắm bắt diễn ngôn của truyện kể.
1.1.1.1. Khái niệm người kể chuyện
Trong thi pháp văn xuôi hiện đại nói chung và lí thuyết trần thuật học nói riêng,
chủ thể trong trần thuật là một vấn đề đang rất được quan tâm. Ngay thời kì đầu, khi
mới bắt đầu nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, Genette đã
khẳng định: “Tôi cảm thấy truyện kể không có người kể chuyện, phát ngôn không có
cách phát ngôn, đó là những ảo tưởng đơn thuần,… Đã có ai bác bỏ sự tồn tại của
một ảo tưởng bao giờ chưa?… Truyện kể không có người kể chuyện của anh ta có thể
tồn tại, nhưng đã từ bốn mươi bảy năm nay tôi đọc truyện, tôi chưa thấy loại truyện đó
ở bất cứ đâu. Vả lại, đáng tiếc là một điều khoản lịch thiệp đơn thuần, bởi vì nếu tôi
gặp một truyện kể kiểu đó, tôi sẽ chạy mất dép: truyện kể hay không phải truyện kể,
khi tôi mở một quyển sách, thì chính là để tác giả nói với tôi. Và khi tôi vẫn chưa điếc
cũng chưa bị câm, thì tôi thậm chí phải trả lời anh ta” [68, tr.193]. Sự kể chuyện ở
đây có thể hiểu là kết quả hành động kể của hình tượng người kể chuyện. Sẽ không có
câu chuyện, cốt truyện, hay nói khác đi, sẽ không có văn bản tự sự nếu không có người
kể chuyện. Về sau, vai trò này của người kể chuyện lại được Todorov khẳng định:
“Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng… Không