BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN LÂM ĐIỀN
ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT
THƠ CHẾ LAN VIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2001
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NGUYỄN LÂM ĐIỀN
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của đề tài: ...............................................................................................6
2. Lịch sử vấn đề: ...............................................................................................................7
3. Mục đích nghiên cứu: ..................................................................................................21
2.3.4. Vài khiếm khuyết trong sáng tạo hình ảnh thơ của Chế Lan Viên ....................100
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ NGÔN NGỮ THƠ VÀ THỂ
THƠ .......................................................................................................................... 102
3.1. Những đặc điểm nối bật về ngôn ngữ thơ .............................................................102
3.1.1. Nhặt những chữ của đời mà góp nên trang ........................................................102
3.1.2. Độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ.........................................................107
3.1.3. Ngôn ngữ thơ giàu tính triết luận. ......................................................................119
3.2. Những đặc điểm nổi bật về thể thơ........................................................................123
3.2.1. Sự nhuần nhuyễn ở thể thơ tám tiếng. ................................................................125
3.2.2. Sử dụng thể thơ tứ tuyệt với sự đổi mới, sáng tạo .............................................132
3.2.3. Thể thơ tự do với sự cách tân về cấu trúc câu thơ ..............................................144
3.2.4. Thơ văn xuôi với những tìm tòi góp phần hiện đại hóa thơ Việt Nam ..............152
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 157
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN ............................................................................................................................. 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 164
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
1.1. Chế Lan Viên là một tác gia có vị trí rất quan trọng trong nền văn chương Việt
Nam hiện đại. Hơn nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên đã đạt được nhiều thành
tựu rực rỡ, để lại cho đời biết bao vần thơ đặc sắc. Người đọc ở nhiều thế hệ tìm đến thơ
Chế Lan Viên với niềm say mê và khâm phục. Sự cần mẫn, sung sức, cùng với tài hoa và
tâm huyết nghệ thuật đã giúp Chế Lan Viên vươn tới đỉnh cao của thơ Việt Nam hiện đại.
học tập thơ Chế Lan Viên ngày càng có hiệu quả sâu sắc hơn. Vì thế, chúng tôi không ngần
ngại đi vào nghiên cứu vấn đề Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, mặc dù, chúng tôi
hiểu rằng muốn đạt được sự thành công ở đề tài này, chúng tôi sẽ gặp không ít khó khăn.
2. Lịch sử vấn đề:
Chế Lan Viên để lại một di sản văn chương to lớn với nhiều thể loại khác nhau, trong
đó thơ giữ một vị trí then chốt. Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn, Chế Lan Viên đã làm
cho người yêu thơ phải khâm phục, ngạc nhiên và người nghiên cứu về thơ phải ngẫm nghĩ
nhiều về tài hoa nghệ thuật của ông. Càng ngày, thơ Chế Lan Viên càng được người đọc
quan tâm và yêu thích. Chính vì thế, nghiên cứu thơ Chế Lan Viên đó là điều được nhiều
nhà nghiên cứu, phê bình, và giới giảng dạy Ngữ Văn ở các trường Đại học rất quan tâm.
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau, họ đã khám phá được
nhiều giá trị của thơ Chế Lan Viên, khẳng định được vị trí, tầm vóc của Chế Lan Viên trong
đội ngũ nhà thơ Việt Nam hiện đại. Lẽ tất nhiên, việc nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, trải
dài hơn nửa thế kỉ, trong những hoàn cảnh lịch sử - xã hội khác nhau, nên chắc chắn có ý
kiến đánh giá khác nhau về giá trị và hạn chế của thơ ông. Từ đó chúng ta có điều kiện để
xem xét kĩ hơn, trân trọng và yêu mến thơ Chế Lan Viên hơn.
2.1. Trước cách mạng tháng Tám,1945.
Sáng tác thơ của Chế Lan Viên ở thời kì trước cách mạng tháng Tám bao gồm Điêu
tàn (1937) và một số bài thơ khác sau Điêu tàn. Việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ Chế Lan
Viên thời kì này chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu về sự xuất hiện của một tài năng thơ làm
kinh ngạc người đọc. Trong số ít những bài viết về thơ Chế Lan Viên, theo tôi, bài viết có
giá trị nhất đó là bài giới thiệu của Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam. Cho dù ý
kiến nhận xét về thơ Chế Lan Viên của ông đã cách đây hơn nửa thế kỉ nhưng nó vẫn có giá
7
trị lâu bền. Ông đã nhìn nhận về thơ Chế Lan Viên lúc này một cách tinh tế, chính xác. Ông
cho rằng sự xuất hiện của Chế Lan Viên đã khiến biết bao người phải ngạc nhiên bởi “Giữa
đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỉ hai mươi, nó đứng sửng như một cái Tháp Chàm,
Ngoài ra, Vũ Ngọc Phan khi so sánh cái sầu trong thơ Chế Lan Viên với cái sầu trong
thơ Hàn Mặc Tử đã viết : “Chế Lan Viên, trái lại, không cứng cáp chút nào. Thơ ông toàn là
những tiếng khóc than, ông tả rặt những cái u sầu; ông có giống Hàn Mặc Tử thì chỉ giống ở
chỗ hay nhắc đến linh hồn, chứ cái sầu của ông tràn lan hơn Hàn Mặc Tử nhiều, cái sầu của
ông là cái sầu não nùng thê thảm, cái sầu bát ngát khó khuây [156, tr.651]. Có thể nói, sự
đánh giá trên của Vũ Ngọc Phan chưa làm rõ được cái kích tấc phi thường và sức vươn xa
của nhà thơ Chế Lan Viên.
Những công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên ở thời kì trước cách mạng chưa
nhiều, chưa đi vào khai thác một cách hệ thống và ít bàn về các phương diện nghệ thuật thơ.
Hơn nữa, việc nghiên cứu thơ Chế Lan Viên hầu như được đặt chung với việc nghiên cứu
thơ của các nhà thơ khác trong phong trào Thơ Mới. Những thành tựu của việc nghiên cứu
thơ Chế Lan Viên chỉ mới đạt được trong giới hạn đó cũng là lẽ dĩ nhiên và phù hợp với
thực tế sáng tác cũng như vị trí của nhà thơ Chế Lan Viên ở thời kì này.
2.2. Từ năm 1946 đến năm 1954
Đây là thời kì kháng chiến chống Pháp nhiều gian khổ hi sinh song cũng rất đỗi hào
hùng của dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội đó, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng
việc nghiên cứu văn học vẫn luôn được đặt ra. Những vấn đề tranh luận, thảo luận chủ yếu
là vấn đề lí luận được đặt ra trong thực tiễn sáng tác và tiếp nhận văn học, nhất là vấn đề xây
dựng một nền văn nghệ mới. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về một tác giả hầu như chưa được
giới nghiên cứu quan tâm. Mặt khác, ở thời kì này, do quan điểm đánh giá, cách nhìn nhận
của người nghiên cứu, phong trào Thơ Mới được xem là một bộ phận của văn học lãng mạn
tiêu cực, có hại cho cách mạng. Thật khó giải thích cho thỏa đáng điều đó khi chính bản
thân các nhà Thơ Mới nổi tiếng như : Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn
Xuân Sanh ...,tự phủ nhận những vần thơ của chính mình. Bởi thế, trong hoàn cảnh đó, việc
nghiên cứu, đánh giá thơ Chế Lan Viên trước cách mạng tháng Tám quả là điều ít ai nghĩ
tới.
Nhìn lại chặng đường sáng tác của Chế Lan Viên ở thời kì kháng chiến chống Pháp
chúng ta nhận thấy, hơn ai hết, trong chính con người Chế Lan Viên diễn ra nhiều nỗi dằn
vặt, đau đớn trong quá trình lột xác, nhận đường, vượt qua bao gian truân, thử thách để hòa
nhập với cuộc sống mới và trở thành nhà thơ của nhân dân. Đúng như sau này, Nguyễn Văn
một tâm hồn Chế Lan Viên. Một tâm hồn nặng những suy nghĩ, phấn đấu trên hoàn cảnh cụ
thể của mình, để tới được cái lớn của niềm vui chung”... “Chế Lan Viên đã ướm trở lại thể
thơ thất ngôn tứ tuyệt, và mở rộng ra thể thơ bốn câu lục bát...” [35, tr.40-44].
10
Cũng bàn về tập thơ Ánh sáng và phù sa, Hà Minh Đức đã chú trọng đánh giá thành
công của Chế Lan Viên trong cách cấu tứ, cách sử dụng các thủ pháp nghệ thuật, ông khẳng
định: “Tuy có chỗ chưa chín hoặc cầu kì, khó hiểu nhưng nhìn chung qua từng chủ đề, từng
tứ thơ, ta thấy thơ ca của anh có sự nhuần nhuyễn trong cấu tứ cũng như cách thể hiện”...
“Những bài thơ trong Ánh sáng và phù sa tuy cùng trên cơ sở một phong cách, nhưng thể
hiện nhiều khía cạnh tìm tòi khác nhau, nhiều lối vận dụng hư cấu, nhiều hình thức miêu tả
biểu hiện. Có những tứ thơ phong phú, lại được thể hiện bằng những hình ảnh đẹp, những
sự so sánh mới lạ, câu thơ ánh lên nhiều màu sắc” [59, tr.53-54]. Cũng trong thời kì này, ở
công trình nghiên cứu về Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, ông cũng chỉ ra
một số vấn đề nổi bật khác về đặc trưng nghệ thuật của thơ Chế Lan Viên, ông viết : “Trong
thơ trữ tình hiện đại, tính chất quy ước tượng trưng không phải chỉ được biểu hiện ở hình
ảnh, màu sắc, mà còn ở chiều sâu của cảm xúc và những suy tưởng. Chế Lan Viên là nhà
thơ sử dụng khá thành công tính chất tượng trưng ước lệ để xây dựng hình tượng” [58,
tr.236].
Nguyễn Văn Hạnh ở bài viết Thơ Chế Lan Viên đã khẳng định: “Tầm nhìn bao quát,
và sức suy nghĩ vốn là chỗ mạnh của nhà thơ như được nâng đỡ, ôm ấp trong những tình
cảm lớn, thiết tha, để sắc sảo, phóng khoáng, nhưng vẫn đậm đà, dào dạt”. Trên từng
phương diện ông đã rút ra được những nhận xét quý báu về nghệ thuật của thơ Chế Lan
Viên như : “Đặc điểm nổi bật và sức mạnh chủ yếu của thơ Chế Lan Viên là ý tưởng phong
phú và độc đáo trong nội dung cũng như cách diễn đạt”... “Hình thức cơ bản, phổ biến trong
tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập”... “Trong khi đề cao ý thơ, Chế Lan Viên
hoàn toàn không xem nhẹ cảm xúc, hình ảnh và nhạc điệu. Những bài thơ thành công tiêu
biểu cho phương hướng sáng tác, cho phong cách của anh, chính là những bài đã kết hợp
được nhuần nhuyễn những yếu tố này” [67, tr. 101-102-105].
Ông cho rằng : “Sự ám ảnh bởi cái chết, bởi những hồn ma lảng vảng ở những cảnh điêu tàn
ấy đưa tác giả đến sáng tác những bài thơ thật là kinh dị ... đầy những hình ảnh rùng rợn,
những liên tưởng gần như thác loạn” . Ông cũng đi vào việc khảo sát và có nhận xét: “Thơ
Chế Lan Viên về cảm hứng và lời cũng không xa cách thơ tình và thơ điên của Hàn Mặc Tử
là bao. Về thể cách ông làm lối thơ 7 chữ, 8 chữ, thường cũng phân đoạn 4 câu nhưng đặc
biệt hay ưa lối vần chéo cặp trắc, cặp bằng” [ 140, tr.594, 595].
Khác với Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Tấn Long và Phan Canh trong Khuynh hướng thi ca
tiền chiến, đã xếp thơ ca Việt Nam 1932 - 1945 thành tám khuynh hướng dựa trên các thi
phẩm của họ và thơ Chế Lan Viên thuộc về khuynh hướng siêu tưởng ( Surréalisme). Ông
12
không tán thành quan niệm : “Chế Lan Viên vì lòng yêu nước, nghĩ đến dân tộc Chàm, than
trách cảnh diệt vong”, mà ông đã khẳng định: “Đứng trên lập trường siêu tưởng, chúng ta
không thể nghĩ như vậy. Mỗi thi nhân đều có đối tượng dùng làm môi trường để diễn đạt
cảm giác mình.
Đem dân tộc Chiêm Thành ra làm đối tượng của cảm giác, Chế Lan Viên muốn lấy
hình ảnh Chiêm Thành tượng trưng cho một thế giới loài người. Khóc dân tộc Chiêm là
khóc cho nhân loại, khóc cho ngôi tháp đổ, cho viên gạch rụng là khóc cho sự tàn tạ của thế
gian” [115, tr.447].
Còn ở công trình Việt Nam thi nhân tiền chiến ( quyển trung ), Nguyễn Tấn Long và
Nguyễn Hữu Trọng đã khẳng định biệt tài của Chế Lan Viên trong nghệ thuật sáng tạo thơ.
Các ông cho rằng : “Một bài thơ là một thế giới khác lạ, khiến người đọc không thấy chán,
chứng tỏ sức tưởng tượng quá phong phú và sự biến ảo vô cùng của Chế Lan Viên”[116,
tr.392]. Khi so sánh thơ Chế Lan Viên với thơ Hàn Mặc Tử, hai ông đã nhận thấy: “Hàn
Mặc Tử hay nói những gì ở thượng giới”, còn “Chế Lan Viên nhắc mãi về hạ giới, ở cõi âm,
lấy chất liệu thơ trong những nấm mồ hoang, trong đáy huyệt lạnh, trong bóng tối âm u,
trong những hoang hồn, trong lòng cổ tháp đen đặc”... Trên cơ sở lí giải sự khác lạ của tâm
hồn thơ Chế Lan Viên, hai ông khẳng định : “Chế Lan Viên là một thi nhân có chiều hướng
thơ khác lạ nhất trên thi đàn Việt Nam, người tạo những vần thơ kinh dị, rùng rợn mà từ
phần Thơ chống Mĩ - Tiếng nói thống nhất những phong cách đa dạng, giàu sức phát triển
của Vũ Tuấn Anh,...
Đến với các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có cái nhìn
khái quát về thơ Chế Lan Viên trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông. Các tác giả
đều có sự thống nhất về cơ bản khi bàn về bản lĩnh và phong cách nghệ thuật của Chế Lan
Viên cũng như đóng góp lớn lao của thơ ông đối với thơ ca Việt Nam hiện đại.
Trong lời giới thiệu Tuyển tập thơ Chế Lan Viên, tập I, Nguyễn Xuân Nam bằng cách
cảm nhận tinh tế, sắc sảo và cái nhìn bao quát về thơ Chế Lan Viên đã giúp cho người đọc
hiểu rõ hơn những bước tiến cũng như những cống hiến to lớn của một tâm hồn thơ “thông
minh và tài hoa” đối với nền thơ dân tộc. Ở mỗi tập thơ, ông đều chỉ ra vị trí và giá trị của
nó trên con đường thơ của Chế Lan Viên. Chẳng hạn, “Nói đến Chế Lan Viên người đọc
nghĩ ngay đến Điêu tàn”... “trong những giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 32 45, đây là giọng buồn ảo não có pha màu huyền bí”... “Điêu tàn phần nào có thể làm cho
một số người biết suy nghĩ nhớ lại thân phận đích thực của mình và bài học lịch sử”. Tập
14
Gửi các anh “tuy chưa hay nhưng đã có hướng tốt”... “đánh dấu một giai đoạn tìm đường
chuẩn bị cho tài năng nở rộ sau này”. Ánh sáng và Phù sa “có một vị trí đặc biệt trong đời
thơ Chế Lan Viên”, “với những dòng thơ mở rộng phóng túng, tạo ra một không khí khác lạ
chưa từng có trong thơ Việt Nam”... “Anh nêu cao cuộc sống chiến đấu nhưng không quên
cuộc sống hàng ngày. Còn tập thơ “Hoa trên đá về nội dung nhân tình hơn, về ngôn ngữ
gần tiếng nói hàng ngày hơn, lại là một vẻ mới của Chế Lan Viên”... Ông còn chỉ ra quan
niệm thơ đúng đắn, sâu sắc, cũng như vẻ đẹp ở tình cảm thiết tha và trí tuệ sắc sảo của Chế
Lan Viên trong cấu tứ, trong hình ảnh, nhịp điệu ...v.v... Ông khẳng định: Chế Lan Viên
“vận dụng các phương tiện nghệ thuật đa dạng phong phú: hình ảnh xuất hiện hàng loạt với
mọi vẻ khác nhau, dùng các thể thơ từ tứ tuyệt đến câu thơ mở rộng, các kiểu kết cấu - từ
kiểu ngẫu hứng, tùy bút đến kiểu kết cấu chương đoạn. Những tìm tòi đó nhiều lúc nhuần
nhuyễn thành công, đôi lúc còn ở dạng thử nghiệm, thử bút Bài giới thiệu khép lại với nhận
định : “Nhưng trên tất cả những phần đóng góp về nghệ thuật có một điều lớn hơn. Đó là ý
thức của Chế Lan Viên muốn đem thơ mình phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc”... “Sức
thơ của anh có dáng trùng điệp của một đội quân ngôn ngữ, tạo nên một nét độc đáo trong
phong cách của anh” [4, tr. 186 - 187].
Từ các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy nhiều vấn đề cơ bản trong thơ
Chế Lan Viên đều được đặt ra và bước đầu khám phá, lí giải. Với việc nghiên cứu từ góc độ
trên, các tác giả đã giới thiệu cho người đọc hiểu được rõ hơn, chính xác hơn về con người,
sự nghiệp văn chương nói chung và thơ ca nói riêng của Chế Lan Viên. Chúng tôi cho rằng,
các công trình nghiên cứu này ở những mức độ khác nhau đã có những đóng góp lớn cho
việc nghiên cứu thơ Chế Lan Viên ngày một trọn vẹn hơn.
2.5. Từ năm 1990 đến nay
Tháng 6 - 1989, Chế Lan Viên qua đời, để lại bao niềm tiếc thương cho gia đình, cho
bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc yêu thơ. Có thể nói, cũng từ thời điểm này trở về sau, các ý
kiến bàn về thơ Chế Lan Viên được tăng lên gấp bội. Nhưng điều đáng nói là cách nhìn,
cách đánh giá về thơ Chế Lan Viên dù có những ý kiến chưa thống nhất nhưng thực sự giúp
cho người đọc hiểu cặn kẽ hơn, trọn vẹn hơn về con người và lâu đài thơ chứa biết bao điều
kì diệu. Nổi bật lên là các công trình nghiên cứu như : Phần Chế Lan Viên trong Văn học
Việt Nam 1945-1975, tập 2 của Nguyễn Văn Long, Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức
nghệ thuật thơ Chế Lan Viên từ sau 1945 của Đoàn Trọng Huy, Thi pháp thơ Chế Lan Viên
của Nguyễn Quốc Khánh, Mĩ học của Chế Lan Viên của Trần Đình Sử, Vĩ nhân và thi nhân
của Trần Thanh Đạm, Chế Lan Viên và cái “ách nặng văn chương” của Nguyễn Đăng
16
Mạnh, Hoa tôi hái trên trời cũng chính là nước mắt... của Lê Chí Dũng, Nhà thơ không thể
lấy kích tấc thường mà đo được của Bùi Mạnh Nhị,...
Trong phạm vi một chương của giáo trình dành cho sinh viên Đại học ngành Sư phạm
Ngữ Văn, Nguyễn Văn Long đã trình bày một cách cô đúc những nét chính về cuộc đời và
sự nghiệp văn chương, đồng thời, đánh giá những thành công và những mặt hạn chế trên
từng chặng đường thơ của Chế Lan Viên. Đặc biệt, ông đã chỉ ra những nét bao trùm và nổi
bật trong phong cách thơ Chế Lan Viên đó là: “Tư duy thơ của Chế Lan Viên có cách tiếp
cận riêng với đời sống. Không dừng lại ở cảm xúc, ở bề ngoài của sự vật và hiện tượng, nhà
nói chắt lọc, hoa mĩ với nhiều biện pháp tu từ mới lạ, lại có tiếng nói khỏe, chắc, trực tiếp
của văn xuôi luận lí”... “có biệt tài sáng tạo hình ảnh mới lạ thông qua các từ ngữ được ghép
nối táo bạo, tài hoa gây bất ngờ thú vị” ... “lời thơ của ông lung linh lắm màu sắc mới lạ và
phù hợp với từng thể thơ, từng chặng đường thơ” [89, tr. 131-227-228-229].
Bên cạnh các công trình nói trên, chúng tôi nhận thấy, xuất hiện nhiều bài nghiên cứu
thơ về Chế Lan Viên tiếp tục khẳng định đóng góp to lớn của thơ ông ở nhiều phương diện
khác nhau. Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu:
Trong bài Mĩ học của Chế Lan Viên, Trần Đình Sử đã khẳng định : “Chế Lan Viên
luôn tạo dựng cho mình một mạch thơ hết sức độc đáo”... “Đối với ông chân lí trong nghệ
thuật là chân lí luôn gây ngạc nhiên, bất ngờ có tính phát hiện”... “Chế Lan Viên đã kiên trì
đổi mới tiếng thơ, ngôn ngữ thơ theo hướng hiện đại”... “Chế Lan Viên tiêu biểu cho một
hướng tìm tòi, sáng tạo, hiện đại hóa của thơ Việt Nam hôm nay” [177, tr.43- 44- 47- 48].
Nguyễn Đăng Mạnh ở bài viết Chế Lan Viên với cái “ách nặng văn chương” đã nhấn
mạnh đến đặc sắc tư duy thơ Chế Lan Viên và sự tài hoa của nhà thơ khi “thiết kế” hình ảnh
thơ. Ông cho rằng: “Tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là tư duy tranh luận, là cảm hứng
đối thoại. Đối thoại với mình, với người (...). Và đối thoại với thơ, với nghề thơ của mình”
... “Chế Lan Viên là người thiết kế hình ảnh đại tài : Hình ảnh - ý, hình ảnh - tình, hình ảnh khái niệm,...” [131, tr.21,23].
Trong bài Vĩ nhân và thi nhân, Trần Thanh Đạm đã nêu lên “mối tương quan tinh thần
vĩ nhân - thi nhân”, những ảnh hưởng to lớn của con người và thơ Hồ Chí Minh đối với thơ
Chế Lan Viên. Đồng thời, trên cơ sở sự cống hiến lớn lao của Chế Lan Viên đối với đời và
thơ, ông đã khẳng định : Chế Lan Viên “là một trong những nhà thơ lớn nhất thế kỉ XX mà
bóng dáng còn tỏa rộng sang thế kỉ XXI, bởi vì thơ anh là một bản giao hưởng chưa hoàn
thành mà các thế hệ sau anh sẽ tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau” [43, tr.105].
18
Trần Hữu Tá, khi nhìn nhận chung về thơ Việt Nam ở thời kì kháng chiến chống Mĩ,
đã đánh giá cao những đóng góp của thơ Chế Lan Viên. Ông viết : “Chế Lan Viên tập trung
vào chủ đề lớn chống Mĩ . Từ Hoa ngày thường, chim báo bão (1967 ), ông liên tiếp viết
Những bài thơ đánh giặc (1972 ), mở những cuộc Đối thoại mới ( 1973 ) với kẻ thù cho đến
Tóm lại, qua nhiều công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên từ trước đến nay,
chúng tôi nhận thấy, các tác giả đều có sự thống nhất trong việc :
- Khẳng định Chế Lan Viên là nhà thơ rất tâm huyết với nghề, cần mẫn, say sưa khám
phá, tìm tòi và dồi dào sức sáng tạo.
- Khẳng định tài năng thơ, những sáng tạo độc đáo của thơ Chế Lan Viên ở cả phương
diện nội dung cũng như nghệ thuật.
- Chỉ ra được những đóng góp nổi bật ở từng tập thơ và từng chặng đường phát triển
của thơ Chế Lan Viên. Từ đó khẳng định những bước tiến, những cách tân nghệ thuật đúng
hướng và giàu ý nghĩa của Chế Lan Viên.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên đã trình bày trên là những
tìm tòi, khám phá đáng quý, đáng trân trọng. Lẽ dĩ nhiên, Luận án của chúng tôi sẽ được
thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu mà các công trình trước đó đã gợi ra hoặc khẳng định. Từ
đó, chúng tôi có nhiều điều kiện thuận lợi để đi sâu hơn, phát hiện thêm những điều mới mẻ
khi đến với thế giới nghệ thuật rộng lớn, phong phú trong thơ Chế Lan Viên theo cách riêng
của mình. Chúng tôi quan niệm việc tiếp thu, kế thừa và phát huy những thành quả của các
công trình nghiên cứu đi trước cũng là để góp phần nhận thức, khám phá thấu đáo hơn, toàn
diện hơn về mọi phương diện của thơ Chế Lan Viên.
So với những Luận án Tiến sĩ cùng nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên của tác giả Đoàn
Trọng Huy và Nguyễn Quốc Khánh, Luận án của chúng tôi cũng đi vào nghiên cứu những
đặc sắc về nghệ thuật thơ Chế Lan Viên như : quan niệm thơ, tư duy nghệ thuật, hình ảnh,
ngôn ngữ, thể loại,... Chúng tôi quan niệm đó là những phương diện mà người nghiên cứu
không thể không xem xét khi tìm hiểu về thơ Chế Lan Viên. Hơn thế nữa, ở những phương
diện đó, chúng tôi nhận thấy, vẫn còn những khoảng trống để tiếp tục tìm tòi, khám phá. Bởi
vậy, ở cụ thể từng phương diện trên, chúng tôi không có sự lặp lại, mà đã tìm được cách tiếp
cận, khám phá riêng trong quá trình nghiên cứu, đó là :
20