BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ DUNG
QUAN HỆ NGOẠI GIAO CỦA TRIỀU NGUYỄN
NỬA ĐẦU THẾ KỈ 19
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2001
MỤC LỤC
MỤC LỤC .....................................................................................................................1
T
8
0
1
T
8
0
1
LỜI CAM ĐOAN .........................................................................................................3
T
8
0
1
8
0
1
T
8
0
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................................ 9
T
8
0
1
T
8
0
1
4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu: ............................................................................. 9
T
8
0
1
T
8
0
1
T
8
0
1
1.2. Tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19: .................................................................. 17
T
8
0
1
T
8
0
1
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC
NỬA ĐẦU THẾ KỶ 19 ..............................................................................................29
T
8
0
1
T
8
0
1
2.1. Những đặc điểm dẫn đến việc hình thành đường lối ngoại giao của triều Nguyễn
với Trung Quốc nửa đầu thế kỷ 19: ................................................................................ 29
1
2.1.3. Đặc điểm chính trị - xã hội: ................................................................................... 30
T
8
0
1
T
8
0
1
2.1.4. Đặc điểm tư tưởng: ................................................................................................ 34
T
8
0
1
T
8
0
1
2.2. Đường lối, chính sách ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc trong nửa
đầu thế kỷ 19: .................................................................................................................... 35
T
8
0
1
nửa đầu thế kỷ 19: ............................................................................................................ 56
T
8
0
1
T
8
0
1
2.3.1. Xét về phía triều Nguyễn: ..................................................................................... 56
T
8
0
1
T
8
0
1
2.3.2. Xét về phía nhà Thanh (Trung Quốc). .................................................................. 60
T
8
0
1
T
8
1
T
8
0
1
1
3.1.2. Quan hệ giữa Nguyễn Ánh - Gia Long và người Pháp vào cuối thế kỷ 18: ......... 65
T
8
0
1
T
8
0
1
3.2. Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với Pháp nửa đầu thế kỷ 19:..................... 72
T
8
0
1
T
8
0
T
8
0
1
3.2.4. Quan hệ của triều Nguyễn với nước Pháp thời Thiệu Trị (1841 - 1847) và đầu thời
Tự Đức (1847 - 1883): .................................................................................................... 91
T
8
0
1
T
8
0
1
3.3. Những nhận xét về quan hệ của triều Nguyễn với nước Pháp trong nửa đầu thế kỷ
19: ....................................................................................................................................... 95
T
8
0
1
T
8
0
1
CHƯƠNG 4: QUAN HỆ NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC
0
1
4.1.2. Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với Xiêm La trong nửa đầu thế kỷ 19: ... 104
T
8
0
1
T
8
0
1
4.1.3. Những nhận xét về quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với Xiêm La trong nửa đầu
thế kỷ 19: ....................................................................................................................... 116
T
8
0
1
T
8
0
1
4.2. Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với nước Chân Lạp trong nửa đầu thế kỷ
19: ..................................................................................................................................... 119
T
8
4.2.3. Những nhận xét về quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với Chân Lạp trong nữa
đầu thế kỷ 19: ................................................................................................................ 128
T
8
0
1
T
8
0
1
4.3. Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với tiểu vương quốc Lào - Vạn Tượng trong
nửa đầu thế kỷ 19: .......................................................................................................... 132
T
8
0
1
T
8
0
1
4.3.1. Những bước đầu tiên trong quan hệ của Việt Nam với các tiểu quốc Lào: ........ 132
T
8
0
1
0
1
T
8
0
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................153
T
8
0
1
T
8
0
1
PHỤ LUC ..................................................................................................................164
T
8
0
1
T
8
0
1
3
Những đóng g óp và hạn c hế của triều Nguyễn, đ ặc biệt trên lĩnh vực ngoại giao trong
T
7
3
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
6
7
T3
6
7
T3
6
lịch sử triều Nguyễn đang thu hút sự chú ý của đông đảo giới nghiên cứu, trong đó vấn đề
ngoại giao của triều Nguyễn là vấn đề được sự quan tâm đặc biệt. Nghiên cứu quan hệ ngoại
2
T4
7
3
2
T4
7
3
giao của triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ 19 nhằm khôi phục bức tranh lịch sử ngoại giao
của Việt Nam trong nửa thế kỷ là cần thiết để tăng cường sự hiểu biết về vị trí của Việt Nam
trên trường quốc tế thế kỷ 19. Nghiên cứu quan hệ ngoại giao của Việt Nam dưới triều Nguyễn
còn để biết phạm vi quốc tế chủ yếu, ảnh hưởng đến các vấn đề ngoại giao, nội trị và tiến trình
lịch sử đất nước. Đồng thời thực hiện đề tài quan hệ ngoại giao còn nhằm mục đích là sáng tỏ
hơn những nhân tố chủ quan và khách quan góp phần hình thành nên đường lối ngoại giao
phong kiến Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 19.
Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với nhà Thanh (Trung Quốc) là mối quan hệ chủ yếu
Quan hệ của triều Nguyễn với các nước láng giềng như Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng
T
7
3
7
T3
1
7
T3
1
cũng là vấn đề lý thú và cần được nghiên cứu một cách nghiêm t úc, khách quan trong đó nếu
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
là những mối quan hệ lịch sử ít nhiều không mang tính chất bình đẳng. Qua quan hệ của Việt
7
T3
6
7
T3
6
Nam với ba nước này cũng như với Trung Quốc, chúng tôi sẽ góp phần xác định kiểu quan hệ
7
T3
6
kỳ “mở cửa”, tăng cường hội nhập với thế giới, thực hiện đa phương, đa dạng hóa ngoại giao.
Do vậy, việc nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam c ó ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Qua việc
7
T3
1
7
T3
1
nghiên cứu này, chúng ta có điều kiện nhìn lại những trang sử ngoại giao đầy biến động của
7
T3
1
7
T3
1
5
dân tộc. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử từ thành công hay thất bại trên lĩnh
vực ngoại giao của triều Nguyễn. Triều Nguyễn là quá khứ rất gần với hiện tại nên những bài
học này có ý nghĩa thực tiễn cao đối với quan hệ ngoại giao trong thời đại của chúng ta.
Nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19 nhằm rút ra bài học về quan
T
7
3
7
T3
1
7
T3
1
Nguồn thư tịch cổ quan trọng còn lại cho đến nay là những t ập Châu bản c ủa Triều
T
7
3
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
Nguyễn. Đó là những giấy t ờ được vua xem qua hoặc chấm vào một dấu son, hoặc cho ý kiến.
1
hiến c hương loại chí” được viết từ 1809 - 1821 của Phan Huy Chú cũng có đề cập đến quan hệ
7
T3
1
7
T3
1
Việt Nam - Trung Quốc cuối thế kỷ 18.
Tiếp đến còn có sách “Đại Nam liệt truyện” ghi chép về một số nước lân cận, tạo điều
T
7
3
kiện cho chúng ta hiểu hơn các đối tượng mà triều Nguyễn có quan hệ ngoại giao.
Ngoài ra, một số tác phẩm mang tính tổng quát như “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”
T
7
3
đã nêu những điển chế về bộ Lễ và ngoại giao. “Minh Mạng chính yếu” cũng có đề cập đến
6
nhiều s ự kiện n goại giao thời Minh Mạng. “Quốc Triều sử t rí Vạn Tượng nghi lục” của tác
7
T3
giả Ngô Xuân Lãng cũng có đề c ập đến quan hệ Việt Nam - Vạn Tượng trong một giai đoạn
7
T3
1
7
T3
1
ngắn (1827 - 1828).
Từ thời Pháp thuộc đến trước năm 1975,các hoại động ngoại giao thời các vua đầu triều
T
7
3
2
T4
7
3
2
T4
7
3
7
T3
1
7
1
Ưng Trình, “Chống xâm lăng” của Trần Văn Giàu, “Việt sử tân biên” của Phạm Văn Sơn,
“Lịch sử Việt Nam sơ giảng” của Văn Tân v.v... nhưng tất cả chỉ được viết dưới dạng
7
T3
1
sách giáo khoa hay những biên khảo, chưa trình bày một cách toàn diện và chuyên khảo về
7
T3
1
lĩnh vực ngoại giao Triều Nguyễn. Các tác giả Lê Hữu Thu, Nguyễn Thế Anh, Dương Quảng
Hàm, Đào Duy Anh... đều có viết về triều Nguyễn nói chung nhưng không đi sâu vào quan hệ
2
T4
7
3
2
T4
7
3
ngoại giao.
Một số giáo trình lịch sử Việt Nam cận đại cũng đã viết về triều Nguyễn và tình hình xã
T
7
3
Những công trình chuyên về lĩnh vực ngoại giao giữa Việt Nam và một số nước như
T
7
3
“Lịch sử quan hệ Trung - Việt” của Tatsuroo Yamamoto (Nhật Bản) nghiên cứu quan hệ Việt
- Trung từ khi Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự chủ đến n ăm 1884. Đây là một công trình
7
T3
1
7
T3
1
nặng về trình bày sự kiện.
Các nhà nghiên cứu phương Tây, chủ yếu là các tác giả người Pháp như M. Gaultier,P.
T
7
3
7
T3
6
7
T3
6
7
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
1
7
T3
6
7
T3
6
cũng đã có nhiều lý giải về mối quan hệ Việt Nam - Pháp. Mội tác phẩm gây sự chú ý trong
7
T3
6
7
T3
6
2
T4
7
3
7
T3
6
7
T3
6
Phan Khoang có xuất bản cuốn “ Việt - Pháp bang giao sử lược” chỉ phân tích quan hệ của
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
về lĩnh vực quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn. Kế thừa tất cỏ các công trình trên, luận án cố
gắng nghiên cứu có h ệ thống hơn, sâu sắc hơn về quan hệ ngoại giao dưới các triều vua đầu
7
T3
1
7
T3
1
thời Nguyễn.
Ngoài các tư liệu nói trên, luận án còn tham khảo các bài viết có liên quan đến đề
T
7
3
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
tôi vẫn chưa đủ khả năng và không có điều kiện để tham khảo trực tiếp nhiều tài liệu hiện nay
đang nằm trong kho lưu trữ của Pháp và một số nước khác trên thế giới.
8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn là một vấn đề rất rộng, do khả năng có
T
7
3
7
T3
6
7
T3
6
hạn và để bảo đảm độ sâu của đề tài, luận án tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ngoại giao
của triều Nguyễn với một vài nước tiêu biểu như:
- Quan hệ ngoại giao với Thanh triều (Trung Quốc). Đây là nước láng giềng có mối quan
T
7
3
7
T3
6
6
2
T4
7
3
2
T4
7
3
ba nước trong cùng khu vực cũng có quan hệ lâu đời với Việt Nam. Tính chất, nội dung của
quan hệ giữa Việt Nam và ba nước trên có liên quan chặt chẽ đến sự nghiệp bảo vệ và phát
triển đất nước Việt Nam.
Nhìn chung, quan hệ ngoại giao của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 19 có rất nhiều đối
T
7
3
tượng để nghiên cứu. Song không gian chính vẫn là Việt Nam với các quốc gia láng giềng phía
Bắc như Trung Quốc, phía Nam và Tây Nam như: Xiêm La, Vạn Tượng, Chân Lạp và mở
rộng sang nước Pháp.
Thời gian nghiên cứu được xác định trong nửa đầu thế kỷ 19, từ thời Gia Long cho đến
T
7
3
đầu thời Tự Đức (1802 - 1858).
Để có cơ sở phân tích, lí giải vấn đề, luận án sẽ mở rộng thời gian ngược về trước thời
đánh giá khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau, việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể để
nghiên cứu càng là yêu cầu cần đặt lên hàng dầu.
9
Khi thực hiện đề tài, tác giả dùng phương pháp hệ thống và so sánh, đối chiếu lịch sử để
T
7
3
nghiên cứu. Tác giả không tách rời quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn với toàn bộ những
hoạt động khác của vương triều này đồng thời cũng không tách rời việc nghiên cứu quan hệ
ngoại giao triều Nguyễn với truyền thống quan hệ ngoại giao của nước ta trong lịch sử, với bối
cảnh chung của các nước trong khu vực. Việc nhìn nhận đối lượng trong tính hệ thống và
7
T3
6
7
T3
6
trong các mối quan hệ có tính so sánh đó sẽ góp phần làm nổi bật thực chất, đặc điểm và
có những đánh giá khách quan hơn, khoa học hơn về những đóng góp và
2
T4
7
3
2
3
7
T3
6
- Thư tịch cổ về các nước Đông Nam Á.
T
7
3
- Tư liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn như bộ “ Đại Nam thực lục”, “Khám Định Đại
T
7
3
Nam hội điển sự lệ “, “Đại Nam liệt truyện”,”Minh Mệnh chính yếu”, “Mục lục Châu bản
triều Nguyễn”, “Quốc triều chánh biên toát yếu”... Những sử liệu này được viết bằng chữ Hán,
tác giả luận án dựa vào bản dịch của Viện sử học.
- Các giáo trình lịch sử Việt Nam, các chuyên đề, luận văn, luận án được viết bằng tiếng
T
7
3
Việt, Pháp, Anh, Nga. Những tài liệu sử học thế giới và Đông Nam Á như: “Lịch sử Trung
Quốc” của Nguyễn Hiến Lê, “Trung Quốc sử lược” của Phan Khoang, “Lịch sử quan hệ Hoa
- Việt” của Quách Đình Dĩ, “Thanh Số cảo”...”Lịch sử Thái Lan”,” Lịch sử vương quốc Thái
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
trong nước, tư liệu từ các hội nghị khu vực Đông Nam Á... cũng được tác giả tham khảo khi
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
thực hiện đề tài.
10
7
T3
6
5. Những đóng góp của luận án:
7
3
Nguyễn, tác giả mong muốn đưa ra vài kết luận theo nhận thức mới về triều Nguyễn, về giai
cấp phong kiến và chế độ phong kiến trong lịch sử dân tộc.
- Từ những kinh nghiệm ngoại giao của triều Nguyễn cũng như của lịch sử ngoại giao
T
7
3
7
T3
6
7
T3
6
thời phong kiến, luân án góp phần rút ra những bài học có tính thực tiễn đối với ngoại giao thời
2
T4
7
3
2
T4
7
3
hiện đại.
thành cách mạng tư sản. Chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống thế giới và giai cấp tư sản trở
2
T4
7
3
2
T4
7
3
thành giai cấp thống trị - có quyền lực vô hạn về kinh tế. Để phát triển và tăng cường lợi nhuận
về kinh tế, giai cấp tư sản đã cách mạng hóa công nghiệp, cải tiến kỹ thuật thực hiện cuộc cách
mạng công nghiệp từ thế kỷ 18 cho đến giữa thế kỷ 19, để đưa lại một nước thay đổi lớn lao
7
T3
6
7
T3
6
trong kinh tế. Lao động bằng máy móc ra đời, thay thế cho lao động thủ công chân tay
đã đưa năng suất lao động lên cao chưa từng có.
7
T3
6
7
T3
6
tìm kiếm và khám phá ra những vùng đất xa xôi mà trước khi họ chưa có khả năng, điều kiện
để đặt chân đến. Lợi dụng những phát kiến về địa lý, những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, giai
7
T3
6
7
T3
6
cấp tư sản phương Tây tăng cường tìm kiếm xâm lược thuộc địa nhằm đáp ứng cho sự phát
triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở chính quốc. Một trong những nhân tố tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tìm kiếm và xâm lược thuộc địa của tư bản Âu - Mỹ là sự tiến bộ của ngành giao
2
T4
7
3
2
T4
7
3
7
T3
6
7
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
thành công - đã có 500 tàu thủy hoạt động.
Ngoài sự phát triển của đường sắt, đường thủy, đường hàng không cũng đạt những thành
T
7
3
tựu đáng kể. Ngành viễn thông cũng đã phát triển nhanh chóng và tạo điều kiện thuận lợi tăng
cường sự hiểu biết của phương Tây đối với phương Đông hoang sơ và giàu có. Cuộc cách
mạng công nghiệp đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ 18, 19 đã tạo điều kiện cho việc
mở mang đất của thực dân được tăng cường. Những đế quốc dần hình thành với nhiều vùng
7
T3
6
7
3
chủ nghĩa tư bản gắn liền với sự xâm lược thuộc địa. Ngay trong buổi bình minh của chủ nghĩa
tư bản, vào thế kỷ 16 thì đại bộ phận của châu Mỹ - Latinh đã trở thành thuộc địa của đế quốc
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Nhiều vùng duyên hải châu Á, châu Phi cũng không t hoát khỏi số
7
T3
1
7
T3
1
phận trở thành thuộc địa của tư bản phương Tây. Từ cuối thế kỷ 18 vì những lý đo kinh tế 7
T3
2
chính trị như đã trình bày, việc xâm chiếm thuộc địa được g iai cấp tư sản thống trị các nước
7
T3
2
7
T3
1
7
T3
1
2
T4
7
3
Tây là xâm lược thuộc địa. Thuộc địa là nơi có ý nghĩa quan trọng đặc biệt với chính quốc: nơi
cung cấp lương thực, nguyên liệu, nhiên liệu, nhân công; nơi tiêu thụ hàng hóa của chính quốc
và đem lại nguồn lợi n huận kếch xù cho nhà tư bản. Do tầm quan trọng của thuộc địa như vậy,
7
T3
1
7
T3
1
nên giai cấp tư sản phương Tây đã bất chấp mọi luật lệ, quyền lợi của các dân t ộc phương
7
T3
1
7
T3
1
Đông để tìm cách xâm nhập vào châu Á, Phi, Mỹ - Latinh.
Vào thế kỷ 19, hầu hết các quốc gia châu Á, Phi, Mỹ - Latinh đang ở trong giai đoạn phát
T
7
2
T4
7
3
Latinh bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha xâm chiếm. Đến đầu thế kỷ 19 thì toàn bộ châu Mỹ Latinh đã mất độc lập. Thực dân phương Tây đã tìm mọi cách thiết lập trật tự của chúng trên
13
khu vực châu Mỹ - Latinh nhằm kìm hãm các dân tộc châu Mỹ - Latinh trong yếu kém, lạc hậu
để dễ bề thống trị và nô dịch.
Bước vào thế kỷ 19, châu Á đang ở trong giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến.
T
7
3
2
T4
7
3
2
T4
7
3
Nhìn riêng lẻ từng quốc gia thì chúng ta thấy vẫn có sự phát triển nhất định nhưng so sánh với
7
đầu thế kỷ 19, nhà Thanh chỉ mở một cửa biển Quảng Châu để thông thương với nước ngoài.
Nhật Bản dưới sự trị vì của Xô-gun cũng đóng cửa không chịu thông thương với nước ngoài
và chỉ mở cửa bể Nagasaki. Xiêm, Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á cũng khước từ
mọi đề nghị thông thương của phương Tây, trong khi “điều quan trọng là chủ nghĩa tư bản
không thể tổn tại và phát triển rộng nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của
nó, không khai thác những xứ sở mới và không lôi cuốn các xứ sở cũ không phải tư bản chủ
nghĩa vào cơn lốc kinh tế thế giới” [35,766]. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nhu cầu
thuộc địa càng gia tăng, giai cấp tư sản tìm mọi cách mở cửa vào thị trường châu Á, trong
7
T3
6
7
T3
6
khi xã hội châu Á vẫn tiếp tục ở trong “giấc mộng của sự bế quan”. Các nước châu Á từ chối
7
T3
6
7
T3
6
quan hệ với phương Tây, cố thủ trong một đường lối đối ngoại “tự cô lập”. Tất cả điều đó
khiến cho châu Âu ý thức được ưu thế của mình, người phương Tây thực tế hơn, khoa học hơn
và vật chất hơn trong công cuộc đi chinh phục đất đai. Họ đã lợi dụng sự lạc hậu, yếu kém về
kinh tế, chính trị, xã hội của các nước châu Á để bắt ép hoặc dùng ưu thế về sức mạnh quân sự,
buộc giai cấp cầm quyền các nước này “mở cửa”, mở đường cho công cuộc đi “khai hóa” một
nước này đang bị chia cắt thành 560 lãnh địa (gọi là công xã nông thôn), các lãnh chúa của các
công xã lại luôn gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau. Các Mác đã tả về sự tồn tại của các công
xã trên như một bằng chứng sinh động và chân thực về xã hội của phần lớn các vương quốc
châu Á trước lúc người da trắng đến: “ Những công xã ấy đã hạn chế lý trí con người trong
những khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói
buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của các quy tắc cổ truyền, làm cho nó mất hết mọi sự vĩ
đại, mọi tính chủ động lịch sử” [46,559]. Không riêng gì Ấn Độ, Nhật Bản thời kỳ này tình
trạng cát cứ giữa các phiên cũng là nguyên nhân hạn chế rất lớn đến sự phát triển của đất nước
này. Nước Lào từ năm 1700 cũng bị chia cắt thành hai xứ: Luang - Phabang và Vientiane, gần
100 năm sau mới thống nhất, nhưng sau đó luôn bị các nước lớn xâm lấn, chia cắt...
Về phía giai cấp cầm quyền phong kiến châu Á, đứng trước nguy cơ đe dọa độc lập quốc
T
7
3
gia, họ lại thi hành một chính sách đối nội không đáp ứng yêu cầu và quyền lợi của đất nước,
của dân tộc. Nhà nước phong kiến sử dụng ngân sách quốc gia vào những việc không cần
thiết: xây lâu đài, lăng mộ v.v...Trong lĩnh vực ăn chơi phung phí thì vua quan nhà Thanh
(Trung Quốc) là ví dụ tiêu biểu nhất. Đặc biệt khi thuốc phiện được đưa vào Trung Quốc, thì
phần lớn quan lại, quân lính Trung Quốc đâm ra nghiện ngập tạo nên sự tha hóa trong bộ máy
chính quyền nhà nước. Ở Việt Nam các vua Nguyễn trước nguy cơ mất nước vẫn thực hiện
việc xây lăng mộ quy mô và tốn kém (việc xây dựng Vạn niên cơ của vua Tự Đức).
Đa số giai cấp thống trị châu Á về cơ bản thiếu một sự chuẩn bị đối phó với nguy cơ
T
7
3
ngoại xâm, không tích cực xây dựng, củng cố quốc phòng, chấn hưng và phát triển kinh tế,
thực hiện việc đổi mới vế các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, tự mình làm suy yếu
2
T
7
3
được nhiều thuộc địa hơn cả. Riêng khu vực Đông Nam Á, Anh và Pháp đã khống chế nhiều
vùng kinh tế - chính trị quan trọng của con đường biển từ Âu sang Á. Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha chiếm khu vực đảo (Indonesia, Philippin). Anh, Mỹ khống chế các vùng Đông Bắc Á,
Nam và Tây Nam Á...
Tại Đông Nam Á (South East Asia), một khu vực địa lý, lịch sử quan trọng, từ thế kỷ 16
T
7
3
đến đầu thế kỷ 19 cũng bắt đầu quá trình suy thoái. Đối diện với văn minh phương Tây và với
nguy cơ xâm nhập của tư bản nước ngoài, giai cấp phong kiến cầm quyền các vương quốc
2
T4
7
3
2
T4
7
3
ở khu vực Đông Nam Á đều lúng túng, bế tắc. Sự trì trệ của chế độ phong kiến đa
2
T4
7
3
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
2
T4
7
3
2
T4
7
3
xã hội truyền thống đã bóp chết tư tưởng cách tân liên kinh tế ngày càng đi vào suy vi,
7
T3
6
7
T3
6
1790, Anh chiếm đảo Penang mở đầu việc xâm chiếm Malaysia, một năm sau Malaysia lần
lượt bị Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh xâm chiếm. Philippin cũng bị Tây Ban Nha dần dần thôn
tính từ giữa thế kỷ 16. Indonesia cũng bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan xâu xé và vào
năm 1811, Hà Lan độc chiếm được nước này. Singapo thì bị Anh chiếm vào năm 1824, Anh
thành lập “đất thuộc địa e o biển” , sáp nhập Singapo vào lãnh thổ của Anh. Tại Miến Điện,
7
T3
1
7
T3
1
thực dân Anh đã tiến hành ba cuộc chiến tranh vào các năm 1824 - 1826, 1826 -1853 và
7
T3
6
7
T3
6
1885 để thôn tính đất nước này. Sau khi chiếm Miến, Anh tiếp lục thôn tính Brunei.
7
T3
6
6
7
T3
6
2
T4
7
3
2
T4
7
3
châu Âu đã được phân chia ổn định nên các nước tư bản chỉ còn cách tìm đường sang các đại
lục khác. Đầu tiên tư bản tìm cách bành trướng vế kinh tế (expansion fínancière), rồi tiến đến
đô hộ chính trị, chiếm thuộc địa và lập khu vực ảnh hưởng kinh tế (zone d' influence
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
3
T7
3
1
T7
3
1
Tây. Tại khu vực này chỉ có nước Xiêm La vẫn giữ được độc lập về chính trị. Thực chất Xiêm
2
T4
7
3
2
T4
7
3
chỉ độc lập về mặt hình thức, bởi bị ràng buộc hàng một loạt các hiệp ước bất bình đẳng được
ký với Anh, Pháp, Hà Lan, Hoa Kỳ, Nhật, Đức...
Trong bối cảnh của cả khu vực như vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài những biến
T
7
3
động chính trị mà tư bản phương Tây tạo nên trong quá trình tìm kiếm thuộc địa và khu vực
7
T4
7
3
2
T4
7
3
kiến Việt Nam vào đầu thế kỷ 19 được lịch sử đặt ra những thử thách và chọn lựa vô cùng
nghiệt ngã: giữ vững độc lập nước nhà hay để mất nước vào tay thực dân đế quốc. Trong bối
cảnh lịch sử đó, các vua đầu triều Nguyễn đã có những cống hiến cũng như đã để lại những di
7
T3
6
7
T3
6
hại cho Tổ quốc.
1.2. Tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19:
Việt Nam vào đầu thế kỷ 19 nằm dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn. Lịch sử đã ghi
T
7
3
7
T3
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
7
T3
6
Đến thời Minh Mạng, ông đặt thêm Cơ mật viện lấy 4 đại thần ở các bộ để cùng vua bàn bạc
việc quân quốc quan trọng. Minh Mạng còn đặt Tôn Nhân Phủ để quản lý việc của Hoàng gia.
Quyền hành quốc gia tập trung vào vua một cách tuyệt đối, phản ánh quá trình tập trung quân
chủ cao độ ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 19. Vua là thiên tử thay trời trị dân và trong hoàn cảnh
2
T4
7
3
2
T4
7
3
rối ren, mong manh của thời hậu chiến, việc tập trung quyền lực như là biện pháp nhằm thúc
đẩy nhanh sự ổn định trong cả nước tuy nhiên sự tập trung quyền lực một cách tuyệt đối cũng
đã tạo ra mội khoảng cách lớn giữa vua với dân chúng, khiến cho vua khó tiếp cận với dân
tình.
Về quản lý hành chánh, Gia Long sắp đặt cơ cấu hành chính căn bản. Đây là lần đầu tiên
T
1
2
7
T3
1
2
ở nước ta các tổ chức hành chính được xếp đặt rất qui củ theo nguyên tắc tập trung. Cả nước
được chia thành 23 trấn 4 doanh. Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc Thành, từ Bình Thuận trở vào