Huyện phú bình tỉnh thái nguyên qua tư liệu địa bạ triều nguyễn nửa đầu thế kỉ 19 - Pdf 83

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Lê Thị Thu Hương HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
QUA TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN
NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đàm Thị Uyên

Th¸i Nguyªn, th¸ng 9 n¨m 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


nghiệp đối với tôi trong suốt thời gian làm luận văn.
Trong quá trình thực hiện, do còn hạn chế về mặt thời gian cũng như
trình độ chuyên môn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa
học cùng bạn bè, đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả
Lê Thị Thu Hƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN ... 8
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ................................................................ 8
1.1.1.Vị trí địa lí ................................................................................................. 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 9
1.2. Lịch sử hành chính huyện Phú Bình ...................................................... 11
1.3. C¸c thµnh phÇn d©n téc .......................................................................... 14
1.4. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện ......................................... 16
1.4.1. Về kinh tế ............................................................................................... 16
1.4.2. Về văn hóa - xã hội ................................................................................ 17
1.5. TruyÒn thèng lÞch sö huyÖn Phó B×nh ................................................... 18

3.3.2.1 Phân bố sở hữu ruộng tư ...................................................................... 59
3.3.2.2. Sở hữu ruộng tư của chủ nữ phụ canh ................................................ 61
3.3.2.3. Quy mô sở hữu của các nhóm họ ........................................................ 61
3.3.2.4. Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc .................................... 63
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 71
PHỤ LỤC .............................................................................................................

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết là Đọc là

1.4.13.4.1.6 1 mẫu 4 sào 13 thước 4 tấc 1 phân 6 ly
PTS Phó tiến sĩ
Nxb Nhà xuất bản
KHXH Khoa học xã hội
Rđ Ruộng đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các dân tộc ở Phú Bình ..................................................................15
Bảng 2.1: Thống kê địa bạ Gia Long 4 (1805) ...............................................25

Bảng 3.9: Thống kê tình hình sở hữu ruộng đất của chủ nữ theo địa bạ Minh
Mạng 21 ...........................................................................................................52
Bảng 3.10: Phân bố ruộng theo nhóm họ (1840) ............................................53
Bảng 3.11 : Phân bố ruộng đất của chức sắc theo địa bạ Minh Mạng 21 .......55
Bảng 3.12: Tình hình sở hữu ruộng tư của các chức sắc theo địa bạ Minh
Mạng 21 (1840) .............................................................................................. 55
Bảng 3.13: So sánh sự phân bố các loại ruộng đất của 12 địa bạ lập ở hai thời
điểm Gia Long 4 (1805) và Minh Mạng 21 (1840) ....................................... 58
Bảng 3.14: So sánh quy mô sở hữu ruộng tư của 12 địa bạ lập ở hai thời điểm
Gia Long 4 (1805) và Minh Mạng 21 (1840) ................................................ 59
Bảng 3.15: So sánh chủ nữ, phụ canh (1805 – 1840) ................................... 61
Bảng 3.16: So sánh quy mô sở hữu của các nhóm họ của 12 xã có địa bạ lập 2
thời điểm Gia Long 4 và Minh Mạng 21. ...................................................... 62
Bảng 3.17: So sánh quy mô sở hữu của các chức sắc .................................... 64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tình hình sử dụng ruộng đất ở Phú Bình theo địa bạ Gia Long 4
(1805) .............................................................................................................. 27
Biểu đồ 2.2: Mối tương quan giữa số chủ và diện tích sở hữu ruộng tư (1805) . 32

đạo trong nền kinh tế. Vấn đề ruộng đất cùng với các vấn đề khác như thuỷ
lợi, tập quán sản xuất…được coi là những yếu tố cơ bản nhất quyết định
thắng lợi của sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, vấn đề ruộng đất ở mỗi địa
phương bên cạnh những nét chung còn chứa đựng những nét đặc thù mà
chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Chính vì lẽ đó mà việc tìm hiểu tình
hình ruộng đất của một địa phương trong một giai đoạn lịch sử nhất định sẽ
giúp chúng ta có cái nhìn và sự hiểu biết khá căn bản và toàn diện về tình hình
kinh tế - xã hội, về đời sống nhân dân cũng như lí giải được nhiều vấn đề liên
quan như tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, các mối quan hệ xã hội cũng
như sự phân hoá giai cấp trong các làng xã mà việc nghiên cứu về giai đoạn
lịch sử đó, địa phương đó đặt ra. Có như vậy mới có thể rút ra được những bài
học để có phương hướng đúng xử lí vấn đề, tạo sự phát triển cho sản xuất.
Bên cạnh đó, đối với những làng xã được hình thành và phát triển theo
phương thức khẩn hoang thì việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất còn có ý nghĩa
làm sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử khẩn hoang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Rõ ràng, việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất có tầm quan trọng đặc biệt
trong việc tìm hiểu lịch sử làng xã nói riêng, lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam nói chung, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề đang được đặt ra đối với
khoa học lịch sử. Tình hình ruộng đất và sự phát triển của kinh tế nông nghiệp
lại chịu sự tác động trở lại của hàng loạt nhân tố như điều kiện tự nhiên, chính
sách ruộng đất và nông nghiệp của Nhà nước, tình hình chính trị - xã hội, tập
quán sản xuất, tục lệ phân phối ruộng đất của từng làng xã cụ thể…đòi hỏi
chúng ta phải quan tâm nghiên cứu.
Chọn đề tài “Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ
triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX” làm đề tài nghiên cứu, chúng tôi hi vọng
góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu cơ cấu sử dụng và khai phá đất

Trong chuyên khảo công phu và quy mô “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam
thế kỉ XI – XVIII” (2tập), tác giả Trương Hữu Quýnh đã phác ra những nét
chính về sự tiến triển của chế độ ruộng đất ở nước ta từ thế kỉ XI đến thế kỉ
XVIII, qua đó bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu cũng như tính chất
kinh tế - xã hội của nó. Bên cạnh việc sử dụng các bộ chính sử, tác giả còn
huy động một nguồn tư liệu địa phương khá phong phú (bao gồm văn bia, gia
phả…). Vì vậy, chuyên khảo này còn có ý nghĩa trong việc cung cấp những tư
liệu tham khảo có giá trị về vấn đề sở hữu ruộng đất dưới thời phong kiến.
Ngoài ra còn có thể kể tới một số công trình như “Chế độ ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX” - Luận án PTS sử học của
tác giả Vũ Văn Quân; “Tình hình ruộng đất, kinh tế nông nghiệp và đời sống
nông dân dưới triều Nguyễn” do Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang chủ biên.
Bên cạnh các cuốn sách và luận án nói trên còn có nhiều bài viết đề cập
đến vấn đề này được đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu
kinh tế, Dân tộc học của các tác giả như Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm,
Nguyễn Hồng Phong, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Phan Đại
Doãn, Vũ Huy Phúc, Vũ Văn Quân - Nguyễn Quang Ngọc, Đào Tố Uyên,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Nguyễn Cảnh Minh … Các bài viết nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau của chế độ sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp trong lịch sử
Việt Nam từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XX.
Ở miền Nam, học giả Nguyễn Đình Đầu đã tiến hành khai thác tư liệu
địa bạ ở các tỉnh phía Nam. Các công trình có giá trị đã được công bố:
+ Nguyễn Đình Đầu (1992), Chế độ công điền công thổ trong lịch sử
khẩn hoang lập ấp ở Nam kì lục tỉnh, Hội sử học Việt Nam, Hà Nội.
+ Nguyễn Đình Đầu (1994), Tổng kết nghiên cứu địa bạ ở Nam kì lục
tỉnh, Nxb TP Hồ Chí Minh.

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình
ruộng đất của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn thời gian là nửa đầu thế kỷ XIX qua
các địa bạ triều Nguyễn của Phú Bình. Giới hạn không gian là các tổng, xã,
thôn của huyện Phú Bình nửa đầu thế kỉ XIX.
- Nội dung của đề tài: Nội dung nghiên cứu của đề tài là những nét
khái quát về chế độ sở hữu ruộng đất và tình hình xã hội có liên quan.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
+ Nguồn tư liệu chung: Bao gồm một số sử sách và địa chí cổ như: Đại
Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Dư địa chí,
Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Kiến văn tiểu lục, Đồng Khánh
địa dư chí.
+ Nguồn tư liệu địa phương: Sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX,
Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình, Dư địa chí Thái Nguyên trong đó có ghi
chép rất kĩ về huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. Qua đó, chúng ta có cái nhìn
toàn diện về huyện Phú Bình nửa đầu thế kỷ XIX.
+ Nguồn tư liệu địa bạ: 30 địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805); 26 địa bạ
có niên đại Minh Mệnh 21 (1840). Các bản địa bạ trên hiện đang lưu tại Trung
tâm lưu trữ quốc gia I Hà Nội. Đây là cơ sở rất quan trọng để chúng tôi nghiên
cứu và khôi phục về bức tranh làng xã huyện Phú Bình nửa đầu thế kỷ XIX.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
+ Nguồn tư liệu thực địa: Thực hiện đề tài này,chúng tôi đã tiến hành
các đợt thực địa tại huyện Phú Bình, quan sát địa hình, cảnh quan, tổ chức
hành chính, đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân địa phương, tìm hiểu một
số đình chùa ….ở huyện. Ngoài ra, các tư liệu truyền miệng do các cụ già cao
niên trong làng kể lại rất phong phú và đa dạng, giúp chúng tôi có thêm những

so sánh với một số địa phương khác cùng giai đoạn lịch sử.
Đề tài mong muốn được góp phần nhỏ bé vào việc khơi dậy niềm tự
hào, lòng yêu quê hương, đất nước của đồng bào các dân tộc Phú Bình, thấy
được trách nhiệm đối với việc bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống lịch
sử cho các thế hệ huyện Phú Bình ngày nay.
6. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 81 trang. Ngoài phần mở đầu (07 trang), phần kết luận (03
trang), danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bản đồ, phần nội dung (71 trang)
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ Gia
Long 4 (1805)
Chương 3: Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ Minh
Mạng 21 (1840)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17


ha, còn lại là đất lâm nghiệp, mật độ dân số là 576 người/km2. Phú Bình là
huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình, có cả miền núi, trung du và đồng bằng,
độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14 mét, nơi thấp nhất là 10 mét, đỉnh
cao nhất là 250 mét (đèo Bóp thuộc xã Tân Thành).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
Muốn đến Phú Bình, lấy trung tâm thành phố làm điểm xuất phát xuôi
theo đường Cách mạng tháng Tám chỉ khoảng 15km. Xã đầu tiên của huyện
Phú Bình giáp thành phố là xã Thượng Đình.
Ở Phú Bình, tuy đồi núi thấp chiếm một diện tích lớn nhưng lại có ưu
thế về giao thông cả đường bộ lẫn đường sông. Phú Bình được ví như chiếc
cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi có những đô thị buôn bán sầm uất
với miền núi non hiểm trở phía Bắc – nơi ngã ba con đường giao lưu của các
tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội…Vị thế này rất
thuận tiện cho Phú Bình giao lưu với các huyện xung quanh, với thành phố và
một số địa phương khác.
Nhìn chung, toàn huyện Phú Bình địa hình tương đối bằng phẳng.
Vùng đồi núi chủ yếu là đồi núi bát úp thoải và thấp, có độ cao dưới 100
mét. Địa hình mang đặc điểm của vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù
sa sông Cầu là điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và cho các hoạt
động quân sự trong thời chiến cũng như thời bình.
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Phú Bình rất ít sông, suối. Trên địa bàn huyện chỉ có hai con sông
chính là sông Cầu và sông Đào (hay còn gọi là sông Máng). Sông Cầu thuộc
hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ xã Bằng Phúc (huyện Chợ Đồn - Bắc
Kạn). Đoạn chảy qua huyện Phú Bình dài 29 km, lòng sông rộng khoảng 120
mét. Sông Đào được khởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm
1929, cung cấp nước tưới cho hơn 20.000 ha ruộng đất của huyện Phú Bình

nhiều miền của đất nước. Trục giao thông quan trọng nhất trên địa bàn huyện
là Quốc lộ 37. Quốc lộ 37 nối quốc lộ 1A (Hà Nội - Lạng Sơn) tại huyện
Việt Yên, tỉnh Bắc Giang với Quốc lộ 3A (Hà Nội - Cao Bằng) tại thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Đoạn Quốc lộ 37 trên địa bàn huyện
Phú Bình đi qua xã Kha Sơn, thị trấn Hương Sơn và các xã Xuân Phương,
Nhã Lộng, Điềm Thụy, Thượng Đình. Từ huyện Phú Bình ta có thể theo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
Quốc lộ 37 xuôi xuống Bắc Giang gặp quốc lộ 1A, rồi theo quốc lộ 1A có
thể ngược lên thành phố Lạng Sơn, hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội. Từ huyện
Phú Bình ta cũng có thể theo Quốc lộ 3A ngược lên các tỉnh Bắc Kạn, Cao
Bằng hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội.
Tiếp theo là tỉnh lộ 262. Tỉnh lộ 262 bắt đầu từ bến đò Hà Châu, qua
các xã Hà Châu, Ngay My, Úc Kì lên xã Điềm Thụy chia làm hai nhánh, một
nhánh nối với Quốc lộ 37 tại xã Điềm Thụy, một nhánh sang huyện Phổ
Yên, lên huyện Đại Từ, nối với đoạn quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu (xã Cổ
Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) đi Tuyên Quang tại thị trấn Đại
Từ (tỉnh Thái Nguyên). Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hai bờ đê sông Đào
cũng là trục đường bộ khá quan trọng, nhất là bờ đê phía hữu ngạn, xe ôtô có
trọng tải tương đối lớn có thể đi lại dễ dàng.
Về giao thông đường thuỷ, từ tháng 7/1954 trở về trước, sông Cầu và
sông Đào không chỉ là tuyến vận tải quan trọng của huyện Phú Bình mà của
cả tỉnh Thái Nguyên. Trên sông Đào, các đoàn thuyền và xà lan chở than đá
và nông sản từ bến than và bến Tượng (thị xã Thái Nguyên) có thể đến tận
Hải Phòng và có thể lấy hàng từ Hải Phòng về Thái Nguyên. Năm 1966, đế
quốc Mĩ cho máy bay ném bom bắn phá làm hỏng nhiều âu thuyền nên
tuyến vận tải thuỷ này ngừng hoạt động. Tuy nhiên, nhân dân địa phương
vẫn sử dụng vận tải nội hạt, khi cần thiết, sửa chữa các âu thuyền lại có giá

Phương Độ, thôn Hạ xã Kha Sơn.
Tổng Phao Thanh có 6 xã: xã Phao Thanh, xã Lương Trình, xã
Lương Tạ, xã Thanh Lương, xã Phú Mỹ, xã Ngô Xá.
Tổng Đức Lân có 6 xã, thôn: xã Đức Lân, xã Lữ Vân, xã Nổ Dương,
thôn Nội xã Xuân Nùng, thôn ngoại xã Xuân Nùng.
Tổng Tiên La có 4 xã: xã Tiên La, xã Vân Đồn, xã Điều Khê, xã
Bạch Thạch.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23
Tổng Lý Nhân có 6 xã: xã Lý Nhân, xã Lũ An, xã Đăng Nhân, xã Cổ
Dạ, xã Kim Lĩnh, xã Chỉ Mê.
Tổng Bảo Nang có 3 xã, phường: xã Bảo Nang, xã Thanh Huống,
phường Thuỷ Cơ xã Triều Dương.
Vào cuối thế kỉ XIX, vùng đất ngày nay là xã Hà Châu và xã Nga
My được cắt khỏi huyện Hiệp Hoà, phủ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh để để nhập
vào huyện Tư Nông tỉnh Thái Nguyên. Năm 1904, chính quyền thực dân
Pháp đặt cấp châu, huyện trực thuộc cấp tỉnh. Huyện Tư Nông đổi thành
huyện Phú Bình từ đây. Trải qua hơn 5 thế kỉ tồn tại và phát triển, vùng
đất huyện Phú Bình ngày nay vẫn căn bản như vùng đất huyện Tư Nông
thời thuộc Minh.
Ngày 1/7/1956, khu tự trị Việt Bắc được thành lập. Tỉnh Thái Nguyên
trong khu tự trị Việt Bắc gồm thị xã Thái Nguyên và các huyện Định Hoá, Phú
Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ và Võ Nhai. Huyện Phú Bình tách sang tỉnh Bắc
Giang, huyện Phổ Yên về tỉnh Vĩnh Phúc.
Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai huyện Phú Bình và
Phổ Yên, ngày 15/6/1957, chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết định trả lại
hai huyện nói trên về tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 19/10/1962, thủ tướng chính phủ ra quyết định số 114/CP

tỉnh Lai Châu.
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành. Bên cạnh một bộ
phận lớn là dân bản địa định cư từ lâu đời là bộ phận dân cư do bọn điền chủ
người Pháp và người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền. Một bộ
phận khác là đồng bào các tỉnh vùng địch tạm chiếm lên tản cư kháng chiến
rồi định cư lâu đời và một bộ phận là đồng bào các địa phương khác tự do di
cư đến địa bàn huyện sinh cơ, lập nghiệp. Tỷ lệ và số lượng nhân khẩu theo
thành phần dân tộc cụ thể như sau:

Trích đoạn Đặc điểm của chế độ sở hữu ruộng đất ở Phú Bình Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status