MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài tiểu luận
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ hàng
đầu, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu hoàn thành, mục
tiêu là xây dựng một xã hội phồn vinh và hạnh phúc “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện mục tiêu đó, nhân tố đầu tiên phải có là
con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước
tiên phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Người đặc biệt coi trọng vấn đề
nhân cách của con người, chúng ta thường thấy Người nhắc đến các cụm từ: tư
cách người cách mệnh, tư cách của Đảng chân chính cách mạng, tư cách người
cán bộ cách mạng, tư cách người công an cách mạng và Người định nghĩa “nhân
cách là tư cách làm người”.
Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững” [108 - 109]. Ở đây, những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình
giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng,
làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh về thể chất đáp ứng cho công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là việc giáo dục – đào
tạo học sinh, sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp
nơi hội tụ những nhân tài tương lai của đất nước. Chính vì vậy, mà hệ thống các trường
Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp không ngừng được cải tiến, hoàn thiện
cả về nội dung và phương pháp giáo dục. Hàng năm có hàng nghìn sinh viên ra trường
và đóng góp sức lực, trí lực của mình vào công cuộc xây dựng đất nước.
Trong cuộc sống hiện đại, kéo theo một loạt những thay đổi về kinh tế - xã
hội và cùng với đó là vấn đề xung quanh về sinh viên như suy nghĩ, lối sống, hành
động có nhiều thay đổi ở mỗi thời kỳ khác nhau. Bên cạnh những mặt tích cực đó,
- Một số chuyên đề tâm lý học
- Tâm lý học sư phạm đại học
- Tâm lý học giáo dục
- Tâm lý học gia đình
Giáo dục nhân cách là yêu cầu khách quan của sự nghiệp “trồng người” nó
giúp đào tạo ra thế hệ vừa “hồng” vừa “chuyên” nhằm phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Do
vậy, tác giả sẽ cố gắng nghiên cứu để hiểu một cách đầy đủ hơn về khái niệm nhân
cách, sinh viên, những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách và
đưa ra một số giải pháp giáo dục nhân cách sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính
trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
3. Tình hình nghiên cứu
Giáo dục nhân cách là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà xã hội nào
cũng quan tâm. Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài
người mà nhiệm vụ giáo dục nhân cách được đặt ở những vị trí khác nhau. Chính
vì vậy, giáo dục nhân cách đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Có nhiều ấn phẩm nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về nhân cách như:
- Lê Diệp Đĩnh: “Thực trạng tâm lý xã hội của sinh viên và vấn đề giáo dục
nhân cách cho sinh viên ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, năm 1995.
- PGS. TS Nguyễn Thạc (chủ biên): “Tâm lý học sư phạm”, Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm, Hà Nội – 2009.
- Nguyễn Ngọc Bích: “Tâm lý học nhân cách”, Nhà xuất bản Chính Trị
Quốc Gia, HN, 1998.
- Trần Sỹ Phán: “Giáo dục đạo đức với việc hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999.
- Trần Thị Tuyết Sương: “Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức con người
Việt Nam trong điều kiện hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Viện Triết học,
Chương 2. Những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục nhân cách cho sinh
viên chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị trường Học viện Báo chí và Tuyên
truyền
2.1. Hình thành môi trường xã hội tích cực trong việc giáo dục nhân cách
cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
2.2. Môi trường gia đình
2.3. Môi trường nhà trường
2.4. Hoạt động của cá nhân – yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành
nhân cách cho sinh viên
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận của giáo dục nhân cách cho sinh viên
1.1. Khái quát chung về nhân cách
1.1.1 Một số quan điểm về nhân cách
Cho đến nay, có gần 200 định nghĩa khác nhau về nhân cách. Ở mỗi ngành
khoa học xã hội có quan điểm nhân cách riêng của mình như: Nhân cách dưới góc
độ kinh tế học, xã hội học, nhân chủng học, sử học, triết học, Dân tộc học, Văn
học, Tâm lý học, Giáo dục học,... Sau đây là một số quan điểm khác nhau của
những trường phái về nhân cách như:
Thứ nhất, tư tưởng phương Đông cổ đại về nhân cách: Các nhà tư tưởng triết học
phương Đông cổ đại cho rằng con người là tiểu vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ.
Những đặc tính này chi phối sự phát triển con người. Mạnh Tử nhận xét: Khi phát triển
hết mình, con người có thể biết trời mà còn hợp nhất với trời làm một.
Tính cách của con người chịu ảnh hưởng của ngũ hành và chia ra làm 5
loại người: Kim, Hoả, Thổ, Mộc, Thuỷ. Người mệnh Kim ăn ở có nghĩa khí,
nếu Kim vượng thì tính cách cương trực. Người mệnh Hoả thì lễ nghĩa, đối với
mọi người nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận; nhưng nếu Hoả vượng thì nóng
nảy, vội vã, dễ hỏng việc. Người mệnh Thổ trọng chữ tín, nói là làm; nếu Thổ
lý học, là khía niệm giải thích lý thuyết, một cấu trúc lý thuyết chung mà tâm lý
học tạo ra nhằm giải thích tính khác biệt của những biểu hiện của các hiện tượng ở
những người khác nhau [7, 7 - 8].
Quan niệm nhân cách của Guilford (1964): Guilford (nhà tâm lý học Mỹ) cố
gắng đưa ra một khái niệm nhân cách trìu tượng, khái quát, coi nhân cách của một
cá nhân như là cấu trúc có một không hai của nét bản chất. Theo Guilford mỗi
nhân cách riêng lẻ là duy nhất và không lặp lại. Đó là một tổng thể toàn vẹn có tính
tích hợp của những thuộc tính biểu hiện như là những khía cạnh (hay những mặt)
của nhân cách có thể được nhận thức trong sự tồn tại chung và thường xuyên của
các nét nhân cách. Nét nhân cách theo quan niệm Guilford là nét bản chất tương
đối không đổi và có tính trìu tượng, là cái phân biệt người này với người khác.
Nhân cách theo quan niệm của Giulford được cấu tạo bởi bảy mặt: thái độ, khí
chất, năng lực, hình thái, giải phẫu, nhu cầu, hứng thú [7, 8 - 9].
Quan niệm nhân cách của Cattell (1793): Ông là nhà tâm lý học người Mỹ,
một đại diện có hạng của thuyết hành vi mới. Ông cho rằng, nhân cách chính là
hành vi của một người trong một tình huống nhất định và nó được biểu diễn trong
công thức: R = ( S, P), trong đó, R là hành vi, S là kích thích, P là nhân cách. Theo
quan niệm của ông thì nhân cách được hình thành từ lúc 6,7 tuổi [7, 10 - 11].
Quan niệm nhân cách của Eycenek (1970): Ông là nhà tâm lý học người Mỹ,
ông coi nhân cách là một cấu trúc tương đối bền vững của các thuộc tính như tính
cách, khí chất, trí tuệ và giải phẫu của con người. Nó xác định kiểu riêng của sự
thích ứng của con người với môi trường [7, 12].
Thứ ba, quan niệm về nhân cách của tâm lý học Macxit. Đứng trên lập
trường, quan điểm của triết học duy vật biện chứng, nền tâm lý học Xôviết đã cống
hiến cho nhân loại những thành tựu to lớn, phong phú, đa dạng không ai có thể phủ
nhận được. Xuất phát điểm cơ bản của lý luận nhân cách Mác – xít (Rubinstein,
Schorochowa, Kossakowski) là nhân cách được hiểu khái quát như toàn bộ những
điều kiện bên trong mà nhờ nó các tác động bên ngoài được khúc xạ [7, 34].
người. Trước tiên, tác giả trình bày về khái niệm con người: Từ xa xưa đến nay có
rất nhiều quan điểm về bản chất con người, khái niệm con người được xuất phát từ
những mục đích, những bình diện nghiên cứu khác nhau. Con người là một tồn tại
sinh vật ở bậc thang cao nhất của sự tiến hóa vật chất. Tất cả những đặc điểm cơ
thể của nó là tiền đề vật chất quan trọng của các chức năng tâm lý. Đồng thời, con
người là một tồn tại xã hội. Tất cả những thuộc tính tự nhiên với những chức năng
của nó, chỉ được phát triển và hoàn thiện trong quá trình con người sống. Khái
niệm con người là một khái niệm rất rộng để chỉ mọi cá thể, từ người lớn đến trẻ sơ
sinh, từ người có trí tuệ bình thường đến người không bình thường.
Khái niệm cá thể: Cá thể là một đơn vị hoàn chỉnh đại diện cho giống loài
nhưng mang những nét đặc thù riêng. Khái niệm cá thể không dùng riêng cho một
giống loài nào, nó có ý nghĩa phân biệt một cái riêng có tính độc lập trong một tập
hợp chung.
Khái niệm cá nhân: là một con người cụ thể, một thành viên của một cộng
đồng xã hội nhất định. Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật – xã hội và văn hóa,
nhưng được xem xét một cách cụ thể riêng từng người với những đặc điểm về sinh
lý, tâm lý và xã hội, để phân biệt nó với các cá nhân khác, với cộng đồng.
Khái niệm cá tính: là tính đơn nhất, độc đáo, có một không hai về đặc điểm
tâm lý hoặc sinh lý của cá thể động vật hoặc cá thể người (cá nhân).
Nhân cách: là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân
nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, bản sắc cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi
xã hội của họ.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, song trong các
định nghĩa, nhân cách thường được xác định như là một hệ thống các quan hệ của
con người đối với thế giới xung quanh và bản thân mình. Chúng ta nói đến nhân
cách của con người khi chúng ta xem xét con người với tư cách là một thành viên
xã hội nhất định, là chủ thể của các hoạt động có ý thức và các mối quan hệ giao
tiếp của họ. Nhân cách là tổng hòa không phải mọi đặc điểm cá thể của con người
Ngày nay, bên cạnh sự thay đổi như vũ bão của xã hội loài người thì một số chuẩn
mực xã hội cũng đang dần dần thay đổi. Hoàn thiện nhân cách cho các cá nhân ở
mọi lứa tuổi là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội. Trong đó, một bộ phận không
nhỏ của xã hội là sinh viên cần phải đặc biệt chú trọng công tác giáo dục nhân
cách. Nhân cách là một trong những phẩm chất đạo đức của con người không phải
tự nhiên mà có, để hoàn thiện nhân cách đòi hỏi quá trình hoạt động tích lũy kinh
nghiệm là rất quan trọng của từng cá nhân.
Nhân cách tốt và hoàn thiện sẽ giúp cho sinh viên nhận thức đúng và hành
động đúng theo những chuẩn mực của xã hội. Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một
tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị, là những người chủ tương
lai của đất nước sau này vì vậy cần rèn luyện cả đức và tài cho sinh viên.
1.1.3. Các kiểu nhân cách của sinh viên
Dựa trên cơ sở đo các định hướng giá trị, hứng thú, mục đích học tập của
sinh viên, các nhà nghiên cứu đưa ra cách phân kiểu khác nhau. Đáng chú ý là cách
phân loại của các nhà xã hội học Mĩ (G. Đavít Gottolit và B. Khotkinxto). Các tác
giả đã nghiên cứu thái độ của nam, nữ sinh viên đối với học tập và chia thành bốn
kiểu nhân cách (W,X,Y,Z).
- Kiểu “W”: Họ học tập để chuẩn bị nghề tương lai, không quan tâm đến
lĩnh vực tri thức xã hội của trường đại học, mặc dù có đôi khi tham gia vào đời
sống xã hội trường. Họ chỉ thực hiện các bài tập theo yêu cầu, chỉ cần đạt điểm
trung bình sao cho khỏi bị đúp. Ngoài sách bắt buộc, họ chỉ đọc những tài liệu theo
ý thích mà không có liên quan đến việc học. Họ học vì nghề nghiệp.
- Kiểu “X”: Những sinh viên này tìm tòi những môn học mà họ coi là những
tri thức về cuộc sống nói chung trên cơ sở lựa chọn riêng của cá nhân. Họ rất quan
tâm đến thế giới tư tưởng và sách,... Họ đã nêu ra: việc học đại học để thỏa mãn
lòng khát khao tri thức và kinh nghiệm sống.
- Kiểu “Y”: Họ gần với loại X, họ cố gắng đạt điểm cao nhất trong các kỳ
thi. Họ tự nguyện tham gia vào các hội khác và việc tự quản của sinh viên. Họ coi
trùng hợp với giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (từ 18 đến 25 tuổi) mà giai
đoạn thứ nhất của tuổi thanh niên từ 15 đến 17, 18 tuổi còn là học sinh trường phổ
thông. Đa số sinh viên khối một có độ tuổi dưới 20 tuổi. Điều này khác với sinh
viên nước ta sau năm 1975 có tuổi trung bình cao hơn do nhiều sinh viên từ quan
đội trở về học [9, 58].
Khi xem xét sinh viên ở bình diện nhân cách thì đó là giai đoạn quá độ của
việc hình thành nhân cách mà cận dưới của nó là sự chín muồi về sinh lý và cận
trên của nó là có nghề nghiệp ổn định và bắt đầu bước vào một phạm vi hoạt động
lao động. Nghiên cứu sinh viên ở góc độ ý thức thì đó là quá trình hình thành thế
giới quan nắm vững các giá trị và các tiêu chuẩn về ý thức nghề nghiệp.
Khi xác định cấu trúc xã hội có giai cấp và các thành phần của nó thì phải
xuất phát từ những dấu hiệu cơ bản của giai cấp và nhóm xã hội mà dấu hiệu quan
trọng nhất là vị trí trong hệ thống nhất định của nền sản xuất. Giới sinh viên không
có vị trí độc lập trong các tổ chức lao động sản xuất của xã hội nên không phải là
một giai cấp. Vị trí thực của sinh viên trong xã hội chưa có mà còn phụ thuộc vào
nhiều giai cấp, một tầng lớp nào đó, ở thành thị hay nông thôn có sự khác biệt về
điều kiện sống, về hoàn cảnh xã hội. Theo kết quả nghiên cứu của B. G. Ananhev
thì: lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và
thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách. Đặc biệt là họ có vai trò xã
hội của người lớn.
Sinh viên có chức năng chủ yếu là bổ sung cho đội ngũ trí thức - là tầng lớp
có trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội. Họ thực hiện tích cực vai trò là nguồn dự
trữ để bổ sung cho đội ngũ những chuyên gia theo các nhóm nghề khác nhau trong
cấu trúc của tầng lớp trí thức.
1.2.1.2. Đặc điểm của sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
Sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị cũng giống với sinh viên các
ngành khác trong các trường đại học khác. Họ đều là những học sinh tốt
nghiệp trường trung học phổ thông và để được học trong mái trường đại học
tích lũy kiến thức là như nhau bởi sự truyền đạt kiến thức kỹ năng, kỹ sảo của thầy,
cô là như nhau, còn việc lĩnh hội đến đâu là phụ thuộc vào khả năng của bản thân
chủ thể nhận thức.
Đặc điểm cuối cùng là các sinh viên này đều có hạn chế trong giao tiếp,
thiếu năng động. Đây là một trong những yếu điểm của sinh viên, đòi hỏi phải có
sự nỗ lực của bản thân và sự uốn nắn của những người xung quanh.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách cho sinh viên
1.2.2.1. Nhân tố di truyền, bẩm sinh.
Tục ngữ ta có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”.
Hẳn đây là quan niệm dân gian đã có từ xa xưa để đánh giá vai trò vô cùng
quan trọng của yếu tố di truyền, bẩm sinh có tính chất tiền định về “số phận, tích
cách” (nhân cách) của con người. Vậy nhân tố di truyền, bẩm sinh ảnh hưởng đến
sự hình thành nhân cách cho sinh viên như thế nào?
Trong thực tiễn cuộc sống, chúng ta dễ nhận thấy rằng người châu Âu da
trắng, mắt xanh, người châu Phi da đen, tóc xoăn thì con cái của họ ngay khi sinh
ra đã giống bố mẹ. Đây là sự truyền lại từ thế hệ cha mẹ cho con cái những đặc
trưng sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong một chương trình độc
đáo bởi hệ thống gen di truyền. Gen là vật mang di truyền những đặc điểm sinh
học của giống loài trong quá trình tồn tại, phát triển theo con đường tiến hóa tự
nhiên. Di truyền những đặc trưng sinh học của cha mẹ truyền lại cho con cái không
phải chỉ biểu hiện một cách hữu hiệu khi đứa bé mới sinh ra mà có thể có những
mầm mống, tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một năng
khiếu như: Hội họa, thơ ca, toán học v.v... hoặc thiểu năng trong những lĩnh vực
cần thiết đối với cuộc sống cá nhân. Còn bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểm
sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh. Chương trình mang tính di truyền về sự phát
triển con người bao gồm cấu trúc, giải phẫu cơ thể, và những đặc điểm sinh học
riêng như màu da, màu tóc, vóc dáng, thể trạng, các tư chất của hệ thần kinh v.v...
con đường ngắn nhất.
1.2.2.3. Nhân tố gia đình
Những nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học cho thấy, định hướng
giá trị nhân cách của sinh viên, nằm trong cấu trúc của xu hướng nhân cách.
Nó chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội và các yếu tố
xã hội khác. Song mỗi yếu tố có sự ảnh hưởng ở mức độ mạnh yếu khác nhau.
Trong số các yếu tố này thì yếu tố gia đình có mức độ ảnh hưởng và tác động
mạnh nhất đến giáo dục nhân cách của sinh viên.
Gia đình ảnh hưởng đến giáo dục nhân cách của sinh viên ở những khía
cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con
người. Những mối quan hệ trực tiếp giữa các thành viên trong xã hội, những người
con với cha mẹ của mình là những tác động qua lại diễn ra thường xuyên trong
cuộc sống hàng ngày. Đa phần khi trở thành sinh viên thì tác động qua lại trong gia
đình giảm đi do những sinh viên phải lên thành phố hay ở trọ, phải xa nhà để học
tập. Trong gia đình của mình những sinh viên nhận được những kinh nghiệm và kỹ
năng sống đầu tiên ngay từ khi còn nhỏ. Hầu như những sinh viên đều lấy bố mẹ,
ông bà hay anh chị mình làm biểu tượng, hình mẫu cho sự phấn đấu và hoàn thiện
nhân cách của mình.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh mà dường như bố mẹ và những người lớn trong gia
đình ít dành thời gian dạy những kỹ năng sống cần thiết ngay từ khi còn bé, ngay
cả những kỹ năng tự chăm sóc và phục vụ bản thân mình. Với thực trạng hiện nay
rất nhiều sinh viên ở các thành phố, con nhà giàu bị thiếu hụt những kỹ năng sống
cơ bản và cần thiết, những sinh viên này không biết làm bất cứ một công việc nào
cho dù là những công việc tự phục vụ nhu cầu của bản thân hay những công việc
nhà đơn giản mà đáng lẽ ra ở lứa tuổi này họ bắt buộc phải biết làm để chuẩn bị
cho bản thân những kỹ năng sống cần thiết khi chuẩn bị một cuộc sống độc lập của
những người trưởng thành. Điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến sự khẳng định cái
mẹ, lối sống của gia đình. Do vậy, việc xây dựng một lối sống, sự quan tâm đúng
mực của gia đình và sự gương mẫu của bố mẹ là điều kiện cần thiết để hình thành
định hướng giá trị nhân cách đúng đắn của các em. Gia đình cần kết hợp với
nhà trường, xã hội trong việc giáo dục nhân cách cho các sinh viên, không nên phó
mặc trách nhiệm giáo dục nhân cách của con em mình cho nhà trường và xã hội.
1.2.2.4. Hoạt động và giao tiếp
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là con đường quyết định
trực tiếp sự hình thành nhân cách. Thông qua hoạt động sinh viên lĩnh hội tri thức,
kinh nghiệm xã hội – lịch sử để hình thành nhân cách. Trong quãng thời gian là
sinh viên thì hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu, bên cạnh đó còn rất nhiều các
hoạt động khác như: hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi, giải trí... Mỗi loại hoạt
động đều đề ra cho con người những yêu cầu nhất định, đòi hỏi ở sinh viên cần
phải có những phẩm chất nhất định. Khi tích cực tham gia vào các hoạt động sinh
viên sẽ hình thành nên những phẩm chất đó.
Qua hoạt động sinh viên chuyển hóa phẩm chất, năng lực của mình thành
sản phẩm của hoạt động. Nhờ có hoạt động của sinh viên mà tác động của nhà giáo
dục có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức mới trở nên có hiệu quả. Cho nên chỉ khi
nào cá nhân nhận thức được ý nghĩa của hoạt động đa dạng bao nhiêu thì nhân
cách của sinh viên càng phát triển và hoàn thiện bấy nhiêu.
Hoạt động quyết định trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách của sinh
viên, nên cá nhân càng tích cực, tự giác tham gia vào các dạng hoạt động đa dạng bao
nhiêu thì nhân cách càng phát triển và hoàn thiện bấy nhiêu. Đồng thời, sự hình thành
và phát triển nhân cách của sinh viên phuc thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kỳ
nhất định. Để hình thành nhân cách, cá nhân phải tham gia vào các hoạt động khác
nhau, trong đó đặc biệt chú ý đến vai trò của hoạt động chủ đạo.
Hoạt động của con người luôn mang tính xã hội, tính cộng đồng nghĩa là
hoạt động luôn đi với giao tiếp. Do đó cùng với hoạt động, giao tiếp cũng là con
đường quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Giao tiếp có
Đến năm thứ hai, sinh viên đã quen với hầu hết các hình thức giảng dạy
và giáo dục ở đại học. Quá trình thích ứng đối với hoạt động học tập về cơ
bản đã hoàn thành. Do tích lũy được tri thức chung mà nhu cầu văn hóa rộng
rãi được hình thành.
Bước sang năm thứ ba, hứng thú hoạt động khoa học và học tập chuyên môn
được phát triển theo chiều hẹp và sâu của ngành nghề đã chọn. Những phẩm chất
có liên quan và phù hợp với nghề nghiệp tương lai được phát triển mạnh.
Chuyển sang những năm cuối (năm thứ tư, thứ năm), sinh viên thực sự tập
hợp làm những công việc của người chuyên gia khi đi thực tập ở các cơ sở thuộc
lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Hiệu quả đào tạo thể hiện rõ ở người sinh viên sắp
ra trường. Toàn bộ nhân cách của họ phát triển sát với mục tiêu đào tạo và gần mẫu
người chuyên gia thuộc một ngành nghề nhất định. Nhân cách được bộc lộ, hình
thành và phát triển trong hoạt động.
Dựa vào căn cứ trên, tác giả xin trình bày một số giải pháp giáo dục nhân
cách cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị của trường Học viện Báo chí
và Tuyên truyền.
2.1. Hình thành môi trường xã hội tích cực trong việc giáo dục nhân cách
cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Mạnh Tử (372 –
289 TCN) nhà giáo dục nổi tiếng Trung Hoa cổ đại khẳng định rằng: “Nơi ở làm
thay đổi tính nết, việc ăn uống làm thay đổi cơ thể. Nơi ở quan trọng lắm thay”. Rõ
ràng quan niệm dân gian cũng như tư tưởng của nhiều nhà giáo dục từ xưa đã
khẳng định “nơi ở” hiểu theo nghĩa rộng là môi trường, hoàn cảnh có tác động hầu
như là quyết định đến việc hình thành nhân cách con người.
Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiện hữu ảnh hưởng lớn
lao đến đời sống và nhân cách con người nói chung và sinh viên nói riêng. Môi
trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường xã hội, đó
là điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa v.v...
Con người luôn là một chủ thể có ý thức, tùy theo lứa tuổi và trình độ được
giáo dục chứ không hoàn toàn bị động bởi những tác động xấu của môi trường xã
hội làm biến đổi nhân cách tốt đẹp của mình. Ca dao, tục ngữ của ta cũng đã có câu
ca ngợi những con người có khi phải sống trong những môi trường, hoàn cảnh thấp
kém nhưng phẩm chất nhân cách vẫn không hề hoen ố: “Gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn”.
Ngay cả khi con người sống trong môi trường hoàn cảnh gia đình, nhưng nhân
cách của họ phát triển phát triển theo hướng khác nhau. Như vậy, trong sự tác động qua
lại giữa nhân cách và môi trường xã hội cần chú ý đến hai mặt của vấn đề:
Thứ nhất, là tính chất tác động của môi trường hoàn cảnh vào quá trình phát
triển nhân cách.
Thứ hai, là tính tích cực của nhân cách tác động vào môi trường, hoàn cảnh
nhằm điều chỉnh, cải tạo nó phục vụ nhu cầu, lợi ích của mình.
Có thể khẳng định ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đến quá trình
hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa của vai trò môi
trường xã hội là phủ nhận vai trò của ý thức, sáng tạo của chủ thể, đó là sai lầm về
nhận thức luận.
2.2. Môi trường gia đình
Bất cứ cá nhân hay một sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị của
trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền nào cũng được sinh ra và lớn lên trong
một gia đình. Gia đình bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà, ăn
chung một bếp, có lợi ích kinh tế chung và có trách nhiệm với nhau trong cuộc
sống. Gia đình vừa là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát
triển nòi giống và là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách con
người. Tuy vậy, quá trình trưởng thành và hình thành nhân cách của mỗi người là
khác nhau, ngay cả với anh em trong một nhà.
Nhân cách con người bắt đầu hình thành từ lúc còn nằm trong bụng mẹ
cho đến khi trưởng thành vẫn chưa dừng lại. Lứa tuổi ấu thơ là giai đoạn quan