một số giải pháp đẩy mạnh công tác nữ sinh viên của đoàn thanh niên, hội sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng - Pdf 20


1

BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TRUNG ƯƠNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

Mã số: KTN 2010-05

BÁO CÁO KHOA HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC
NỮ SINH VIÊN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN,
HỘI SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Chủ nhiệm: TS. Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ,
Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Thanh niên
Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch
thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
Cơ quan chủ trì: Ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn


Riêng với lực lượng nữ thanh niên, những người có vai trò quan trọng
không kém bất cứ một nam thanh niên nào trong công cuộc xây dựng, phát
triển, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; họ còn là nguồn năng lượng
tinh thần tiềm ẩn vô giá, góp phần gìn giữ vẻ đẹp văn hiến ngàn năm của người
Việt Nam, đặc biệt là của người phụ nữ Việ
t Nam. Nữ sinh viên là một phần
của lực lượng trí thức, nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Chính vì
vậy cần chú trọng công tác chăm lo cho nữ sinh viên nhằm đào tạo ra một đội
ngũ nữ trí thức trẻ giỏi về chuyên môn, năng động trong các hoạt động xã hội,
góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Phát hiện, bồi dưỡng
và tạo điều kiện cho nữ sinh viên trau dồ
i năng lực, phát triển bản thân… trở
thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
Hội Sinh viên Việt Nam nhằm định hướng các giá trị cho nữ sinh viên, đồng
hành cùng họ trên con đường học tập, lao động và lập thân, lập nghiệp; đồng
thời, góp phần hỗ trợ đắc lực cho Đảng và Nhà nước trong việc định hướng và
giáo dục thanh thiếu niên.
Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công
tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Trong thời kỳ đổi mới, chủ
trương của Đảng về công tác phụ nữ được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết
Đại hội Đảng, các Nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,

3
Ban Bí thư. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện
để phụ nữ phát triển và khẳng định mình. Trung ương Đoàn, Trung ương Hội
Sinh viên Việt Nam đã ban hành các chương trình hành động cụ thể vì sự tiến
bộ của nữ thanh niên, nữ sinh viên, góp phần tạo chuyển biến trong nhận thức
và hành động về công tác nữ thanh niên nói chung và công tác nữ sinh viên nói
riêng, cổ vũ nữ thanh niên, nữ sinh viên trong h
ọc tập, rèn luyện và công tác.

n, nữ sinh viên dân tộc, nữ sinh viên sai phạm, lầm lỡ, nữ
sinh viên có học lực yếu, biểu hiện tự ti, nhút nhát hầu như chưa thực hiện.

4
Công tác phối hợp tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, nhất là sức khoẻ
sinh sản và tình dục trong nữ sinh viên chưa thường xuyên, thiếu hoạt động cụ
thể.
Nhằm giúp cho Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên có căn cứ khoa học và
thực tiễn xác định các giải pháp cụ thể góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên
trong các trường Đại học, Cao đẳng thì cần thiết phải có công trình nghiên cứu
khoa h
ọc một cách toàn diện và nghiêm túc. Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề
tài “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường
Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên” sẽ góp phần tích cực
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chủ trương của Đoàn,
Hội trong việc định hướng, hỗ trợ nữ sinh viên học tập tốt, rèn luyện t
ốt, phát triển
toàn diện, góp phần xây dựng và tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao của đất
nước.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất các giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong
các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong thời
gian tới.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1- Cơ sở lý luận về nghiên cứu giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ
sinh viên trong các trường
Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh
viên.
2- Thực trạng công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên.
3- Một số giải pháp của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên nhằm phát huy,

2.1- Tổng hợp và phân tích các tài liệu, các báo cáo và kết quả nghiên
cứu liên quan đến nữ sinh viên, công tác nữ sinh viên. Các tài liệu này được thu
thập từ nhiều nguồn khác nhau, như: các bài viết tham luận, hội thả
o khoa học;
các loại sách, báo, tạp chí có liên quan; thông tin từ Internet; các tư liệu báo cáo
của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên.
2.1- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi về thực trạng, nhu cầu, nguyện
vọng của nữ sinh viên và các giải pháp đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong
các trường Đại học, Cao đẳng tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Cần Thơ, Thái Nguyên.

6
2.3- Tổ chức phỏng vấn sâu với nữ sinh viên, cán bộ Đoàn Thanh niên,
Hội Sinh viên, Lãnh đạo, giáo viên một số trường Đại học, Cao đẳng, một số
cán bộ nữ tham gia tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức kinh tế, doanh
nghiệp : phỏng vấn sâu, tọa đàm (tương ứng với mỗi nhóm đối tượng).
2.4- Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi luôn chú trọng xin ý kiến
đóng góp của các chuyên gia, các nhà chuyên môn có nhi
ều kinh nghiệm, hiểu
biết sâu về các vấn đề liên quan đến tình hình nữ sinh viên, thực trạng công tác
nữ sinh viên trong các nhà trường. Đã tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học và
lấy ý kiến chuyên gia.
2.5- Báo cáo chuyên đề của các chuyên gia, cán bộ Đoàn, Hội chủ chốt
một số đơn vị.
VII. NHỮNG NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
Chương I: Cơ sở lý luận nghiên cứu giải pháp góp phần đẩy mạnh
công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh
niên, Hội Sinh viên.
I- Một số khái niệm:
1- Khái niệm “Nữ sinh viên”

đức, lối sống, tác phong cho nữ sinh viên.
2.3- Tổ chức và phối hợp tổ chức các hoạt động góp phần h
ỗ trợ nữ sinh
viên thi đua học tập, nghiên cứu khoa học.
2.4- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ đời sống (vật chất, tinh thần) cho nữ
sinh viên.
2.5- Tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ, giáo dục giới tính, trang bị
kiến thức, rèn luyện kỹ năng sống cho nữ sinh viên.
2.6- Đẩy mạnh công tác tập hợp, đoàn kết nữ sinh viên tham gia tổ chức
Đoàn, Hội, vì sự
tiến bộ của nữ sinh viên.
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
VIII. SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

8
1- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu một số giải pháp đẩy mạnh công
tác nữ sinh viên của Đoàn, Hội Sinh viên trong các trường Cao đẳng, Đại học.
2- Báo cáo tóm tắt.
3- Kỷ yếu hội thảo
4- Bảng tổng hợp số liệu điều tra XHH: xử lý số liệu bằng SPSS 11.5
IX. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
STT Nội dung công việc Kết quả
đạt được
Thời gian
thực hiện
Người, cơ
quan thực hiện
1 Xây dựng đề cương tổng
quát, chi tiết

5 Điều tra khảo sát cơ sở và
xử lý kết quả điều tra phiếu
tr
ưng cầu ý kiến, tọa đàm,
phỏng vấn
Đánh giá đúng
thực trạng, phân
tích tìm ra
nguyên nhân, đề
xuất giải pháp
Tháng 3-5/2010 Ban Thanh niên
trường học
6 Đặt viết báo cáo chuyên đề Chuyên sâu về
một số nội dung
trọng tâm
Tháng 3-8/2010 Ban chủ nhiệm
và các chuyên
gia

9
7 Hội thảo khoa học Xin ý kiến các
nhà nghiên cứu,
chuyên gia
Tháng 10/2010 Ban Chủ nhiệm
và các cơ quan
phối hợp
8 Viết báo cáo tổng kết, kết
quả nghiên cứu
Đánh giá đúng
thực trạng, đề

- Một số ban, ngành, cơ quan chức năng liên quan đến vấn đề nghiên cứu
tình hình nữ sinh viên, thực trạng công tác nữ sinh viên trong các trường Cao
đẳng, Đại học.
3. Lực lượng nghiên cứu:
3.1. Đồng chí Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Trưởng Ban
Thường trực Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch
thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.
3.2. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương
Đoàn, Bí thư Thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Hà Nội.
3.3. Đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Thường vụ Trung
ương Đoàn, Bí thư Thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Đà Nẵng.
3.4. Đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đoàn, Phó Bí thư thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
3.5. Đồng chí Lê Hoàng Anh, Ủy viên Ban Chấp hành, Phó Trưởng Ban
Thanh niên trường học Trung ương Đoàn.
3.6. Đồng chí Nguyễn Phi Long,
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đoàn, Phó Trưởng Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn.
3.7. Đồng chí Lương Thị Lịch, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội
Sinh viên Việt Nam.
3.8. Đồng chí Nguyễn Bình Minh, Chánh Văn phòng Trung ương Hội
Sinh viên Việt Nam.
4. Chủ nhiệm đề tài:
Đồng chí Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Trưởng Ban
Thường trực Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch
thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.
5. Thành viên Ban chủ nhiệ
m đề tài:
5.1- Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đoàn, Phó Bí thư tỉnh Đoàn Hải Dương.

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY
MẠNH CÔNG TÁC NỮ SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO
ĐẲNG, ĐẠI HỌC CỦA ĐOÀN THANH NIÊN, HỘI SINH VIÊN
I- Một số khái niệm
1- Sinh viên: Theo từ điển Tiếng Việt thì Sinh viên (Sinh viên Việt Nam)
là công dân Việt Nam đang theo học tại các trường Đại học và Cao đẳng. Họ là
một nhóm dân số xã hội, với các đặc điểm được xác định rõ bởi vai trò, vị trí
của hệ
thống tái sản xuất và phát triển xã hội. Theo cuốn "Tâm lý học sư phạm
Đại học" của Phạm Minh Hạc, thuật ngữ "Sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La
tinh “students” có nghĩa là người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu, khai thác
tri thức. Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội, đại đa số là thanh niên đang
chuẩn bị những tri thức, phương pháp và kinh nghiệm cần thiết để có thể tham
gia vào quá trình s
ản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội sau khi tốt nghiệp.
2- Nữ sinh viên (nữ sinh viên Việt Nam): Theo đại từ điển Tiếng Việt của
tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 2008 thì khái niệm Nữ sinh viên là công dân nữ Việt Nam
đang học bậc đại học, cao đẳng trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài thì nữ sinh viên là thanh niên Vi
ệt Nam đang học tập tại các trường
Đại học, Cao đẳng trong nước, có độ tuổi phần lớn từ 18 đến 25 tuổi.
3- Công tác: Theo đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý chủ
biên, do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008
thì khái niệm Công tác là việc thực hiện công việc của Nhà nước, của đoàn thể
của m
ột cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức.
4- Công tác nữ sinh viên: Là việc thực hiện công việc của Nhà nước, của
đoàn thể đối với nữ sinh viên. Việc thực hiện này có thể do tổ chức, cá nhân
hoặc một nhóm cá nhân nhằm tham gia giải quyết những vấn đề trong các mối

Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp lu
ật của nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự
quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh. Hội là thành viên của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và
Hội sinh viên quốc tế. Chức năng, nhiệm vụ của Hội là tập hợp, đoàn kết,
khuyến khích, giúp đỡ hội viên, sinh viên trong h
ọc tập và rèn luyện, hoàn
thành nhiệm vụ của người sinh viên, góp phần xây dựng nhà trường vững
mạnh. Giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống và ý thức pháp luật
cho hội viên, sinh viên. Phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên; tham gia
phản biện, đề xuất các chủ trương, chính sách liên quan đến sinh viên. Tổ chức
các hoạt động thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo v
ệ các
quyền lợi hợp pháp, chính đáng của hội viên, sinh viên và tổ chức Hội. Đoàn
kết, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các tổ chức sinh viên, thanh niên

14
tiến bộ và nhân dân các nước trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
7- Công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các trường
Đại học, Cao đẳng: là việc thực hiện nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao cho
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam trong việc phát huy, chăm
lo, hỗ trợ nữ sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, xây dựng đội ngũ nữ trí thức
trẻ trong tương lai có tri thức, sức khỏe, bản lĩnh, góp phần xây dựng nước Việt
Nam hoà bình độc lập, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
II- Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về công
tác phụ nữ
1- Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác


15
lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp
luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó
nhưng nhất định thành công”
3
.
Ba là, dưới chế độ ta - chế độ mọi người dân đều là chủ xã hội, nam nữ
bình đẳng về vị trí, bình đẳng về quyền lợi, thì phụ nữ phải có vị trí xứng đáng
với vai trò của mình. Người còn cho rằng, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy
cũng là một thiếu sót của Đảng. Người luôn kêu gọi Đảng và chính phủ quan
tâm đến phụ nữ, tạo mọ
i điều kiện để phụ nữ được bình đẳng thực sự trong mọi
lĩnh vực; có kế họach thiết thực giúp đỡ để ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia
quản lý lãnh đạo. Tháng 8 năm 1949, viết thư gửi đồng bào Nghệ An, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: "Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia Hội
đồng nhân dân. Phụ nữ phải tham gia chính quyền nhiều hơn và thiết thực
hơn"
4
. Di chúc thiêng liêng của Người ghi rõ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong
sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất
nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công
việc lãnh đạo. ”.
Bốn là
, cần phải xoá bỏ tàn dư phong kiến trọng nam khinh nữ, coi
thường, xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ đã tồn tại trong thời gian
dài và là một trong những cản trở lớn trong thực hiện bình đẳng nam nữ. Chỉ có
như vậy mới thực sự giải phóng phụ nữ, làm cho cách mạng do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo có ý nghĩa cách mạng đầy đủ, có tính nhân v

6
. Bác cho rằng, thanh niên có tiềm năng, vai trò,
vị trí to lớn trong đời sống xã hội, phải luôn tin tưởng ở thế hệ trẻ và mong
muốn họ có đủ sức mạnh để gánh vác sự nghiệp cách mạng trong tương
lai:“Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh
niên”, “Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường cuốc
năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công h
ọc tập của các
cháu”
7
.
- Ðảng, Nhà nước phải chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức
cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người
làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là khoa học kỹ thuật,
đào tạo nghề nghiệp.
- Thanh niên phải tự vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân
chủ lực củ
a cách mạng. Bác yêu cầu mọi thanh niên phải chống tâm lý tư lợi,
ham hưởng thụ, ngại khó nhọc, chống thói quen xem thường lao động, nhất là
lao động chân tay, chống lười biếng, giả dối, hình thức, khoe khoang. Phát huy
mặt mạnh, khắc phục điểm yếu tự hoàn thiện nhân cách của bản thân.
Bác luôn chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền phải thực sự thấm nhuần
và quan tâm đến thanh niên:
Thứ nhất, ph
ải quan tâm đào tạo, giáo dục cho thanh thiếu niên “Vì lợi
ích trăm năm phải trồng người”. Luận điểm “trồng người” của Bác cho ta thấy
tính chất lâu dài, gian khổ của công việc để có được những con người có hiểu
biết, có đạo đức và năng lực - nhân tố then chốt quyết định sự thành công của
cách mạng, sự tiến bộ xã hội và tiền đồ dân tộc. “Trồng ngườ
i” là quan điểm

quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác
quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ. Nhà nước đã ban
hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc
đẩ
y bình đẳng giới.
Ngay từ khi mới thành lập, tại Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930,
Đảng đã có Nghị quyết đầu tiên về công tác vận động phụ nữ. Trong đó, khẳng
định vai trò và khả năng to lớn của Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp Cách
mạng; coi công tác phụ nữ là một nội dung trong công tác Đảng, đồng thời chỉ
ra rằng nhất thiết phải có một tổ chức, mộ
t đoàn thể đại diện cho quyền lợi hợp
pháp của phụ nữ và giải phóng phụ nữ: “Công tác trong quần chúng phụ nữ là
một nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu…. Đảng cần phải tổ chức ra các đoàn thể
phụ nữ, phụ nữ hiệp hội mục đích là mưu cầu quyền cho phụ nữ, làm cho phụ

18
nữ triệt để giải phóng”
8
. Có thể nói Việt Nam là quốc gia sớm hình thành
những quan điểm, chính sách giáo dục, đào tạo bình đẳng giữa nam và nữ.
Đảng và Nhà nước đã có đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách nhất
quán về giáo dục đào tạo trong đó thừa nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ. Nữ
học sinh, sinh viên không phải chịu bất cứ hình thức phân biệt, đối xử nào trong
thi tuyển, các điều kiện h
ọc tập và thi tốt nghiệp.
- Ngày 6 tháng 12 năm 1957, Đảng ra Nghị quyết 25/NQ/TƯ về một số
vấn đề công tác vận động phụ nữ, đã nhấn mạnh việc cần thiết phải nâng cao
nhận thức của các cấp ủy Đảng, các cấp, các ngành về vai trò của phụ nữ trong
xã hội.
- Nghị quyết số 152 của Ban Bí thư TW Đảng ngày 10/1/1967 về “một số

19
nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia
đình.
- Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” nhấn mạnh việc tăng cường cán bộ
nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Trong đó nêu rõ, cần có quy hoạch, tạo
nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỷ
lệ cán bộ nữ trong các cấp,
các ngành; xây dựng chính sách tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và
khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong
phụ nữ.
- Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị “Về công
tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” tiếp tục khẳng định quan
điểm của Đảng v
ề công tác phụ nữ một cách sâu sắc với yêu cầu cao hơn. Đó
là: phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ, nâng cao địa vị phụ nữ, thực
hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; công
tác phụ nữ phải phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và
khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ
; xây dựng, phát triển vững
chắc đội ngũ cán bộ nữ, đồng thời xác định công tác phụ nữ là “trách nhiệm
của hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của từng gia đình”.
2.2- Quan điểm về thanh niên, nữ thanh niên, nữ sinh viên:
Thanh niên và công tác thanh niên là một trong những vấn đề cốt lõi của
cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm trong
suốt quá trình lãnh đạo
đất nước. Quan điểm lớn của Đảng thể hiện tập trung
nhất trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VII) về “Về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới” và Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) “Về tăng

là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới.
3- Luật pháp, chính sách của Nhà nước về phụ nữ, công tác phụ nữ, nữ
thanh niên, nữ sinh viên
3.1- Đối với phụ nữ:
Có thể nói, nhà nước đã có h
ệ thống luật pháp, chính sách tương đối đảm
bảo thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ.
Hiến pháp nước Việt Nam ghi rõ quyền bình đẳng nam và nữ trong mọi lĩnh
vực.
Nhà nước ta đã đưa nội dung bình đẳng giới và những vấn đề liên quan
đến phụ nữ vào các chính sách, chương trình hành động quốc gia như: Chiến
lược toàn diện v
ề tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đến năm 2010, kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội 2006-2010, chiến lược và hành động quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010… Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và
địa phương đã xây dựng kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ phù hợp
với đặc điểm của từng ngành, t
ừng địa phương. 9
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương (Khóa X)

21
Quyết định 163 của Hội đồng bộ trưởng (14/10/1988) nay được thay thế
bằng Nghị định 19-2003/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 7/2/2003 quy định
trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc đảm bảo cho
các cấp Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước là một văn
bản pháp lý rất quan trọng trong việc tạo cơ chế để phụ nữ được tham gia quyết
định các v

bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên

22
môn, nghề nghiệp… đúng như quan điểm của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Điều đó thể hiện rõ trong Luật Giáo dục; trong các văn bản quy định
chế độ học bổng, trợ cấp xã hội, chế độ miễn, giảm học phí đối với học sinh,
sinh viên, nhất là các chế độ ưu tiên, khuyến khích học tập với đố
i tượng là
người dân tộc thiểu số (như: Thông tư liên tịch số 54/TTLT giữa Bộ Giáo dục
và Đào tạo với Bộ Tài chính ngày 31/8/1998; Quyết định số 44/2007/QĐ-
BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ra ngày 15/8/2007; Quyết định số
194/2001/QĐ-TTg ngày 21/12/2001 và Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg của
Thủ tướng chính phủ ). Đặc biệt, Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày
27/9/2007 của Thủ tướng chính ph
ủ về tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh
viên có ý nghĩa rất quan trọng, đã giúp nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn
yên tâm đầu tư cho con cái, nhiều sinh viên nghèo vượt qua nguy cơ bỏ học, tập
trung cho việc học hành.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn có chính sách đầu tư, xây dựng nhà ở nội trú
cho sinh viên; hỗ trợ 30% trong chi trả bảo hiểm y tế, quy định rõ trong Luật
bảo hiểm y tế; có các chính sách về phát hiện, bồ
i dưỡng và thu hút, sử dụng
nhân tài; tạo điều kiện cho sinh viên ra nước ngoài học tập bằng Ngân sách Nhà
nước, trong đó có không ít sinh viên nữ; đồng thời ban hành các chính sách tạo
đà cho thanh niên khởi nghiệp và lập nghiệp bền vững như Quyết định
770/1994/TTg của Thủ tướng về tổ chức và chính sách đối với thanh niên xung
phong xây dựng kinh tế, Chỉ thị 145/1994/TTg, Chỉ thị 06/2005/TTg của Thủ
tướng về phát huy vai trò thanh niên tham gia phát triển kinh tế, xã h
ội…
III- Vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ

trình đào tạ
o. Nữ sinh viên cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, với
yếu tố giới tính nữ, cũng sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhiều hơn trong
cuộc sống. Những thông tin về tình trạng sống thử, về vấn đề tự bảo vệ và được
bảo vệ khi bị xâm hại của nữ sinh, định hướng giá trị thẩm mỹ
, giá trị, lối sống
cho nữ sinh viên đang là những vấn đề đặt ra cho tổ chức Đoàn Thanh niên,
Hội Sinh viên.
Đánh giá vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ
sinh viên, có thể khái quát ở một số nhận định sau:
- Xây dựng phong trào, tạo môi trường tốt để hỗ trợ, giúp đỡ nữ sinh
viên học tập tốt, rèn luyện tốt: Các cấp bộ Đoàn- Hội đã có sự chuyển biến khá
tích cự
c trong nhận thức khi xây dựng phong trào, chú ý đến đối tượng nữ sinh
viên. Biểu hiện cụ thể là số lượng các Câu lạc bộ, Đội, Nhóm dành riêng cho
nữ sinh như Câu lạc bộ Bạn gái, Câu lạc bộ Nữ sinh viên, Câu lạc bộ Nữ sinh 2
tốt, các câu lạc bộ gắn với sở thích đặc thù của nữ sinh như văn thể mỹ, nấu
ăn… ngày càng tăng. Điều đáng chú ý là bên cạnh các trường có số
lượng nữ
sinh đông, việc thành lập là một lợi thế, thì tại một số trường không có tỉ lệ nữ
sinh cao như khối ngành kỹ thuật, tự nhiên, các câu lạc bộ dành riêng cho nữ
sinh vẫn được thành lập và hoạt động khá hiệu quả. Bên cạnh các Câu lạc bộ,

24
Đội, Nhóm, các hoạt động dành riêng cho nữ sinh như các hội thi Nữ sinh
thanh lịch, Duyên dáng sinh viên, Ngày hội chia sẻ với ½ thế giới, hội thi nấu
ăn, cắm hoa… cũng đã được nhiều đơn vị tổ chức, tạo sân chơi đặc thù, thu hút
khá đông nữ sinh tham gia.
- Tổ chức các hoạt động chăm sóc, sức khỏe giới tính cho nữ sinh viên:
Các hoạt động tư vấn tâm lý bạn gái, tư vấn về các v

sắc, được đánh giá khá tốt.

25
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NỮ SINH VIÊN
CỦA ĐOÀN THANH NIÊN, HỘI SINH VIÊN

I- Tình hình nữ sinh viên
1- Số lượng các trường Đại học, Cao đẳng
Năm 1987, cả nước có 101 trường đại học, cao đẳng (63 trường đại học,
chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), đến tháng 9/2009 có 376 trường
đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4
lần và 226 trường cao đẳng, chiếm 60%, gấp 6 lần).
Cả nước có 35/63 tỉnh, thành thành lập trường đại học mớ
i, trong đó: 23
tỉnh có thêm 01 trường; 10 tỉnh có thêm 2-3 trường; riêng thành phố Hồ Chí
Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội có thêm 23 trường, chiếm 43% số
trường đại học mới và nâng cấp.
Số lượng trường đại học, cao đẳng ở vùng cao, miền núi, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn đã tăng lên: Tây Bắc (01 trường đại học, 08
trường cao đẳng); Tây Nguyên (03 trường đại học, 10 trường cao đẳng); đồng
bằng Sông Cửu Long (11 trường đại học, 27 trường cao đẳng).
Như vậy, quy mô các trường đại học, cao đẳng tăng, tạo điều kiện cho
các tầng lớp nhân dân có cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học, nhất là con em
đồng bào dân tộc thiểu số, nữ sinh viên khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu,
vùng xa.
2- Số liệu cơ bản về nữ sinh viên
Số lượng nữ sinh viên:
Theo thống kê của B
ộ Giáo dục và Đào tạo, số lượng nữ sinh viên biến đổi rõ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status