Vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào dạy học chương “cân bằng của vật rắn” vật lý 10 trung học phổ thông ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

MILAYPHANH

ANOUSONH

VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC
THEO CHỦ ĐỀ VÀO DẠY HỌC CHƯƠNG
“CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN”
VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành Phố Hồ Chí Minh. 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

MILAYPHANH

ANOUSONH

VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC
THEO CHỦ ĐỀ VÀO DẠY HỌC CHƯƠNG
“CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN”
VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO


DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ..................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................... 4
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................................................... 5
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ........................................................................................................... 6
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU......................................................................... 6
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC ......................................................................................................... 6
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU .............................................................................................................. 6
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................................................................... 6
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ............................................................................................... 6
VIII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN. ................................................................................................ 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO CHỦ
ĐỀ. ................................................................................................................................. 8
1.1.Khái niệm dạy học theo chủ đề [5],[6],[7],[9]. .............................................................................. 8
1.2.Những cơ sở của việc vận dụng dạy học theo chủ đề [5]. ............................................................ 8
1.2.1.Mục tiêu chung của giáo dục [2],[5],[10]............................................................................... 8
1.2.2.Các quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm
trung tâm [5; 10; 11]...................................................................................................................... 10
1.2.3.Cơ sở triết học [5].[6] ........................................................................................................... 11
1.2.4.Cơ sở sư phạm [5],[6],[7]. .................................................................................................... 12
1.2.5.Cơ sở sinh học [5], [6].......................................................................................................... 13
1.3.So sánh dạy học theo chủ đề với dạy học truyền thống. .............................................................. 14
1.4. Những nét đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề [5],[6]. ................................................... 16
1.4.1. Mục tiêu của dạy học theo chủ đề. ...................................................................................... 16
1.4.2.Vai trò của GV. .................................................................................................................... 16
1.4.3.Vai trò của HS. .................................................................................................................... 17
1.4.4.Nội dung học trong dạy học theo chủ đề. ............................................................................. 17
1.4.5.Phương pháp dạy học. .......................................................................................................... 18

2.4.Kết luận của chương 2: ................................................................................................................ 45

Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................................ 46
3.1 Mục đích, nghiệm vụ của thực nghiệm sư phạm. ........................................................................ 46
3.2. Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm. ..................................... 46
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm. ...................................................................................................... 46
3.2.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm .......................................................................................... 48
3.2.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm .................................................................... 48
3.3. Diễn biến các tiết học thực nghiệm sư phạm. ............................................................................. 48
3.4. Kết quả các bài kiểm tra trong đợt thực nghiệm sư phạm. ......................................................... 50
3.5. Kết luận của thực nghiệm sư phạm. ............................................................................................ 54

KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN VĂN................................................................. 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 56
PHỤ LỤC. .................................................................................................................. 57


DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT

CHDC ND :

Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân .

ĐC :

đối chứng.

GV :

giáo viên.

3.5.4. Hình ảnh các em HS từng nhóm thảo luận kết quả với nhau
3.5.5. Hình ảnh các em HS ở nhóm nhận xét kết quả với nhau


MỞ ĐẦU

I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mặc dù Nước Lào đang bước vào những chiến lược đổi mới về mục tiêu, chương
trình, nội dung cũng như định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy cho giáo viên và học
sinh, cụ thể là, trong hiện tại, chúng ta đang triển khai biên soạn và thử nghiệm chương
trình, sách giáo khoa (SGK) mới, nhưng qua tổng kết, bên cạnh một số ưu điểm, việc đổi
mới vẫn được đánh giá là chưa đồng bộ, nên việc thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra vẫn còn
gặp những khó khăn. Đa số những khó khăn vẫn được quan tâm và bàn luận nhiều, nhất là
sự mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo với nội dung, chương trình đào tạo, giữa phương pháp
giảng dạy với chương trình, SGK, giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy với nền
tảng kiến thức của người học và phương tiện kiểm tra đánh giá,...
Vì vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học và
làm cho học sinh có hứng thú học tập với kỹ năng vốn có của mình.
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, việc vận dụng một cách sáng tạo các
chiến lược dạy học tiên tiến trên thế giới vào thực tiễn giáo dục nước Lào có thể là con
đường thích hợp. Tuy nhiên, việc đổi mới theo phương pháp cụ thể nào thì phải lựa chọn
cho phù hợp với từng đối tượng con người và nội dung dạy học.
Vừa qua, theo khảo sát thực tế ở trường Mpai Khong, huyện Khong Se Don, tỉnh
SaRaVanh, Nước CHDCND Lào, kiến thức vật lí của học sinh ở trường trung học phổ
thông (THPT) rất hạn chế, tỉ lệ học sinh kém nhiều và đa số rơi vào môn vật lí. Vấn đề đặt
ra cho tôi và các đồng nghiệp là phải tìm ra giải pháp cải thiện kết quả đó. Chính vì vậy mà
tôi cần phải quyết định chọn lựa một phương pháp dạy học phù hợp với nhu cầu phát triển
hiện nay nhưng không quá xa so với phương pháp truyền thống để học sinh có thể thích ứng
được, đó chính là dạy học theo chủ đề. Tuy nhiên, vì còn là thử nghiệm nên tôi chỉ chọn
chương “CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN” thuộc chương trình vật lí lớp 10 THPT ở Nước

Vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào dạy học chương “Cân bằng của vật rắn”
– Vật lí 10 ở trường THPT Mpai Khong, huyện Khong Se Don, tỉnh SaRaVanh, Nước
CHDCND Lào.



VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề.



Xây dựng các tiến trình dạy học theo chủ đề đối với chương “Cân Bằng ” – Vật lí 10

THPT ở Nước CHDCND Lào.


Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Morpai Khong Se Don, huyện

Khong Se Don, tỉnh SaRaVanh, Nước CHDCND Lào.



VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu lí luận.



Vận dụng lí luận vào việc xây dựng tiến trình dạy học.



truyền thống bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính chất tổng quát, liên quan
đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào học sinh và nội dung được tích hợp thành
những chủ đề mang tính thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề ở cấp THPT là sự cố gắng tăng cường sự tích hợp kiến thức,làm
cho kiến thức có mối liên hệ màng lưới nhiều chiều,là sự tích hợp vào nội dung học những
ứng dụng kỹ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn
hơn.
1.2.Những cơ sở của việc vận dụng dạy học theo chủ đề [5].
Việc vận dụng quan điểm dạy học theo chủ đề vào dạy học môn vật lý xuất phát từ
những cơ sở sau đây:
1.2.1.Mục tiêu chung của giáo dục [2],[5],[10].
Mục tiêu chung của giáo dục các môn khoa học về tự nhiên khoảng sau những năm
90 đến nay.
Từ khi bắt đầu cải cách giáo dục năm 2007 đến nay, mục tiêu giáo dục phổ thông ở
Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào vẫn cơ bản giữ vững quan điểm toàn diện, chú
trọng cả bốn mặt đức, trí, thể, mỹ nhằm đào tạo những người lao động có khả năng xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó nhấn mạnh thêm một số điểm cho phù hợp với tình
hình mới: coi trọng giáo dục tư tưởng, chú trọng , giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, phát
huy tiềm năng của dân tộc và con người Lào; người lao động mới vừa phải có ý thức cộng
đồng , tinh thần tập thể vì sự nghiệp chung hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, vừa phải phát huy tính


tích cực cá nhân, năng động , chủ động, đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho
đất nước.
Đối với các môn khoa học tự nhiên nói chung và bộ môn vật lý nói riêng, mục tiêu dạy
học hướng tới:
♦ Về kiến thức: trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản hiện đại, bao
gồm: Các khái niệm vật lý ; các định luật, nguyên lý vật lý; những nét nội dung cơ bản của
các thuyết vật lý, phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình hóa trong vật lý;
những ứng dụng quan trọng của vật lý trong đời sống và sản xuất.


-

Tính trung thực trong khoa học.

-

Tinh thần hợp tác trong học tập và nghiên cứu.
Có thể nói mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên theo thời gian, đã thay đổi

theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cách tiếp cận mục tiêu giáo dục ở Nước CHDCND Lào
hiện nay vẫn là cách tiếp cận mục tiêu giáo dục kiểu truyền thống.
Vì vậy, trong lịch sử các cách tiếp cận mục tiêu giáo dục thì cách tiếp cận mục tiêu theo
quan điểm của nhóm Bloom được gọi là cách tiếp cận truyền thống (mục tiêu giáo dục xác
lập trong ba lĩnh vực: nhận thức, kỹ năng và thái độ), trong đó quy định cụ thể những yêu
cầu trong lĩnh vực nhận thức (về kiến thức, trình độ nắm vững kiến thức), các kỹ năng cơ
bản cần đạt được là những tiêu chí đánh giá thành quả học tập của học sinh. Mục tiêu kiểu
truyền thống thể hiện sự chờ đợi kết quả học tập ở tất cả học sinh, dù có sự khác biệt cá
nhân như thế nào đều đạt tới một chuẩn mực nhất định sau một khóa học nào đó.
Ở thời điểm ra đời, cách tiếp cận mục tiêu này đã ngay lập tức mang đến cuộc cách mạng
thực sự trong giáo dục, đẩy nhanh sự phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia trong các thập


niên sau đó (từ những năm50 của thế kỷ XX và vẫn còn phổ biến ở nhiều quốc gia cho đến
ngày nay).
Bên cạnh những ưu điểm không thể phủ nhận của cách tiếp cận mục tiêu giáo dục này
thì đồng thời nó cũng thể hiện những hạn chế lớn : Đó là giáo dục khuôn đúc, không quan
tâm tới sự phong phú, đa dạng vốn có của nhân cách cá nhân, cũng có nghĩa là không quan
tâm đến sự khác biệt, phong phú, đa dạng của phong cách học tập, phong cách tư
duy…cũng có nghĩa là không quan tâm đến định hướng tương lai, nghề nghiệp khác nhau

phát, mà là quá trình hoạt động có sự hướng dẫn của giáo viên để học sinh được đặt vào địa
vị người phát hiện lại những tri thức trong di sản văn hóa của loài người, của dân tộc.
Trong mỗi con người đều có một sở trường gì đó, điều đáng nói là phải biết cách khơi gợi,
phát huy sở trường đó. Trong một lớp không phải chỉ có một người mà có nhiều người và
mỗi con người lại rất khác nhau, người tư duy theo hướng này, người tư duy theo hướng
khác; người thích đi vào ý này, người thích đi vào ý kia…đây chính là cơ hội để phát huy trí
tuệ tập thể một cách rộng lớn, sâu xa.
Nghệ thuật của giáo viên là làm thế nào khi trang bị kiến thức cho học sinh, dẫn dắt các
em tiến tuần tự đến nhiệm vụ ngày càng phức tạp thêm và đồng thời chuẩn bị cho các em
hoàn thành những nhiệm vụ này, nhưng phải tính toán sao cho việc giải quyết mỗi nhiệm vụ
mới đòi hỏi ở học sinh lao động tự lực và suy nghĩ căng thẳng tương đương với khả năng
mà đặc điểm lứa tuổi và cá thể của các em cho phép trong những điều kiện cụ thể của dạy
học. Xu thế của dạy học hiện đại là nâng cao tính tự lực của học sinh trong quá trình học
tập.
1.2.3.Cơ sở triết học [5].[6]
♦ Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù là quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy
cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện, nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát
triển của bản thân sự vật. Sự phát triển đó là cao nhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng
được với nhau.
Trong quá trình dạy học, ngoại lực là tác động dạy của thầy, môi trường xã hội (cộng
đồng lớp học, gia đình, xã hội…) có ảnh hưởng đến người học, còn nội lực là sức học, sức
tự học, sự phát triển của trò (vì học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực , sáng tạo của
người học).
♦ Theo quan điểm triết học thì tác động của ông thầy dù quan trọng đến mức “ Không thầy
đố mày làm nên” thì vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện cho trò tự phát
triển và trưởng thành . Tác động của môi trường xã hội dù là quan trọng đến mức “ Học


thầy không tày học bạn” hay giáo dục tay ba: Nhà trường, gia đình, xã hội vẫn chỉ là ngoại
lực giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho người học .


Thầy: là người đạo diễn, kích thích hoạt động của người học, người trọng tài và cố vấn kết
luận làm cho khách thể do người học tự tìm ra với sự hợp tác của các bạn trở thành thực sự
khách quan, khoa học.
So sánh hai mô hình ta thấy mô hình thứ hai là một quá trình hoạt động tự lực, tích cực và
chủ động, có hứng thú và động cơ thúc đẩy từ bên trong của người học, dưới sự hướng dẫn
của thầy giáo (quá trình cá nhân hóa) đồng thời là một quá trình hoạt động có một phạm vi
xã hội nhất định là sự hợp tác của người học với các bạn trong môi trường xã hội cộng đồng
lớp học và có ý nghĩa, có giá trị thật sự về hình thành nhân cách (quá trình xã hội hóa).

1.2.5.Cơ sở sinh học [5], [6].
♦ Cơ sở sinh học của mô hình dạy học thụ động lấy việc dạy (thầy) làm trung tâm là theo
học thuyết của I.P .Pavlop (ví dụ: thí nghiệm cho heo ăn sau khi bật sáng đèn hoặc bấm
chuông reo).
Theo Pavlop, dạy là thành lập những phản xạ có điều kiện hình thành kinh nghiệm hành
động.
Học là hình thành những phản xạ trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ không điều kiện
được di truyền.
Cơ chế để hình thành một phản xạ có điều kiện là phối hợp một kích thích có điều kiện
với một kích thích không điều kiện để tạo ra một trả lời không có điều kiện.
Theo cách đó, quy trình dạy học bao gồm các khâu:
Xác định yêu cầu cần dạy, tức là định rõ phản xạ có điều kiện sẽ hình thành; chọn tác nhân
kích thích; tiếp theo đó là biến tác nhân kích thích trung tính thành tác nhân kích thích có
điều kiện.
Tăng hiệu quả dạy học : bằng cách kết hợp tác nhân kích thích trung tính với tác nhân
kích thích không điều kiện một số lần tối thiểu để củng cố phản xạ trả lời, hoặc là bằng cách
tăng cường độ kích thích không điều kiện để thúc đẩy động cơ học.
♦ Cơ sở sinh học của mô hình dạy học tích cực lấy học trò làm trung tâm là học thuyết
của B.F. Skinner.
Theo Skinner, cha đẻ của điều khiển học, học là tự điều hòa hành vi để dẫn tới một hành

học sinh quyết định chiến lược học giáo viên và SGK áp đặt. (GV là
tập với sự chủ động, hỗ trợ và hợp trung tâm).
tác của giáo viên, (HS là trung tâm).
2. Phù hợp với nhiều phong cách học 2. Phù hợp với một số học sinh có
khác nhau do HS được quyết định cách tư duy: logic, tuần tự chặt chẽ.
một phần chiến lược học tập.
3. Hướng đến các mục tiêu: phát triển 3. Nếu thành công có thể góp phần
hiểu biết vượt khỏi khuôn khổ nội đạt đến nhiều mục tiêu của môn học:
dung, hiểu biết tiến trình khoa học và chiếm lĩnh kiến thức mới, bồi dưỡng
rèn luyện các kỹ năng thực hiện tiến phương thức tư duy khoa học và
trình khoa học: quan sát, thu thập dữ phương pháp nhận thức khoa học.
liệu, xử lý, suy luận và áp dụng thực
tiễn.
4. Dạy theo một chủ đề thống nhất 4. Dạy theo từng bài riêng rẽ trong
được tổ chức lại từ một phần chương một thời lượng cố định dành cho


trình học.

từng bài.

5. Kiến thức thu được là những khái 5. Kiến thức thu được chỉ có mối liên
niệm liên hệ mạng lưới với nhau.

hệ tuyến tính một chiều theo sự thiết
kế chương trình học.

6. Trình độ nhận thức có thể đạt ngay 6. Trình độ nhận thức có đạt: biết,
trong quá trình thực hiện các nhiệm hiểu, vận dụng (giải bài tập).
vụ học tập : phân tích, tổng hợp, đánh



Cần lưu ý khi dạy theo chủ đề cũng như các mô hình dạy học tích cực khác là không
được coi học sinh chưa biết gì mà cần tận dụng những kinh nghiệm sống thực tiễn của học
sinh để giải quyết vấn đề.
1.4. Những nét đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề [5],[6].
1.4.1. Mục tiêu của dạy học theo chủ đề.
Dạy học theo chủ đề cũng như các mô hình dạy học tích cực khác đều nhằm đáp ứng
những yêu cầu về đổi mới PPDH và qua đó cũng thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục
môn học trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, cũng như các chiến lược dạy học hiện đại khác,
dạy học theo chủ đề còn đặt mối quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của học sinh có các
phong cách học tập khác nhau với sự phát triển không ngừng của thực tiễn. Do đó, dạy học
chủ đề còn hướng đến các mục tiêu tích cực khác:
-

Phát triển hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng của một tiến trình

khoa học.
-

Phát triển tư duy bậc cao, phát triển suy luận, tổ chức kiến thức và tiếp nhận thông tin

một cách chọn lọc, có phê phán
-

Rèn luyện các kỹ năng sống và làm việc của con người trong thời đại ngày nay: giao

tiếp, hợp tác, quản lý, tự quyết định, tự đánh giá, tự điều chỉnh…
-


(hay toàn bộ) chiến lược học tập của mình (trách nghiệm với sự phát triển hiểu biết, phát
triển của chính mình).
1.4.4.Nội dung học trong dạy học theo chủ đề.
Ở cấp THPT, môn vật lý được chia thành các chủ đề lớn như: Cơ học, Nhiệt học, Điện- tư
học, Quang học,…Trong đó nội dung được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính đảm bảo
những nguyên tắc chung: tính hệ thống, tính khoa học, tính sư phạm,…bỏ qua tính tự thời
gian và tính cá nhân ( tác giả) của kiến thức làm cho hiệu quả học tập cao hơn. Tuy nhiên xu
hướng này làm cho chương trình, nội dung học và cách học của chúng ta ngày càng nặng
tính lý thuyết, hàn lâm và xa rời thực tiễn mà người học đang sống, xa rời nhu cầu của đa số
người học tạo nên áp lực ngày càng nặng nề, đồng thời nó còn đang tạo ra tiền đề vững chắc
cho sự duy trì kiểu dạy học truyền thống đang ngày càng tiến triển theo hướng tiêu cực như
hiện nay.
Tổ chức lại nội dung học vấn phổ thông theo hướng tích hợp là yêu cầu khách quan và
hiện nay đã trở thành xu thế. Trong phạm vi một môn khoa học như môn vật lý chẳng hạn,
tích hợp giúp tinh giản kiến thức , giúp cho kiến thức có tính thực tiễn và tính công cụ mạnh
hơn vì thế hữu dụng và vững chắc hơn.
Tích hợp là một giải pháp thích hợp đã được thực tế giáo dục ở nhiều nước khẳng định để
rút ngắn khoảng cách giữa học và hành, giữa lý thuyết và thực tiễn. Tích hợp là xu thế tất


yếu để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học khoa học trong nhà trường phổ thông ở
Nước CHDCND Lào mà chúng ta cần quan tâm thích đáng.
1.4.5.Phương pháp dạy học.
Dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác đều đặt trọng tâm phát triển
tư duy cho HS. Chính vì thế, dạy học phải chú trọng đến các phương pháp tạo cơ hội, tạo
điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biết là quan điểm kiến tạo trong dạy học,
còn quá trình học là quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học
(học thuyết kiến tạo cho rằng: mọi người, không phân biệt lứa tuổi, học tốt nhất bằng cách:
thu thập thông tin mới, suy nghĩ về nó, và làm việc theo nhiều cách khác nhau. Những
hướng dẫn trực tiếp được giảm tối thiểu, thay vào đó là tạo cơ hội cho người học thăm dò,

trọng của các mô hình dạy học hiện đại (đây cũng là những kỹ năng cơ bản, cần thiết cho sự
thành công của tất cả mọi người sống và làm việc trong thế kỷ XXI mà HS cần được rèn
luyện ngay trong nhà trường phổ thông).
1.4.8.Kiểm tra đánh giá.
♦ Kết hợp giữa kiểu đánh giá cuối cùng theo kiểu dạy học truyền thống (các mục tiêu
truyền thống của chương trình học) với đánh giá quá trình (đánh giá chất lượng và hiệu quả
công việc của học sinh trong quá trình làm việc theo nhóm qua các phiếu học tập thông qua
đó đánh giá quá trình phát triển của HS: đánh giá các mục tiêu nhân văn của chương trình
học).
♦ Kết hợp đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh.
1.5.Những nét mới trong dạy học theo chủ đề [5],[6],[8],[9].
1.5.1.Những định hướng chung.
Khác với cách dạy học truyền thống vì dạy học từng đơn vị kiến thức cụ thể, trọn vẹn,
tương đối độc lập, phù hợp kiểu dạy theo lớp- bài. Dạy học theo chủ đề là dạy hệ thống kiến
thức của một chủ đề mang tính chất tổng quát có thể liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực,
chuyên ngành khác nhau. Việc dạy học theo chủ đề sẽ được bước đầu định hình bằng một
hệ thống câu hỏi định hướng (ở mức độ thấp là do GV yêu cầu, cao hơn là xây dựng với sự
thỏa thuận giữa GV và HS, thậm chí do học sinh đề xuất dựa trên mục tiêu và nội dung kiến
thức của chủ đề học tập (trong luận văn này chỉ dừng ở mức độ thấp).


Từ hệ thống câu hỏi định hướng, giáo viên tổ chức, phân công nhiệm vụ cho học sinh để
giải quyết các nhiệm vụ của hệ thống câu hỏi. Thông qua đó, học sinh sẽ chủ động xây dựng
hệ thống kiến thức chặt chẽ, thiết thực.
Hệ thống câu hỏi định hướng bao gồm: câu hỏi khái quát (Essential Question_ EQ), câu
hỏi bài học ( Unit Question_ UQ) và câu hỏi nội dung ( Content Quétion_ CQ).
Trong phương pháp này, học sinh sẽ tận dụng tối đa những hiểu biết, kinh nghiệm và
những kiến thức tự tìm hiểu được để trình bày, trao đổi với các bạn học sinh khác trong lớp.
Từ đó hình thành cho học sinh kỹ năng giao tiếp, hợp tác, tích cực, chủ động, có cơ hội phát
huy mọi khả năng của bản thân. Học sinh luôn phải tìm kiếm, phân tích, tổng hợp, xử lý

mò, nắm được sơ bộ mối quan hệ tất yếu giữa các phần nội dung khác nhau của chủ đề.
Nắm được tổng quan về chủ đề học tập giúp học sinh định hướng sự tự học, tự đọc sách, tự
tìm kiếm thông tin, giúp học sinh vượt qua những áp lực tâm lý khi phải tự đọc, tự học.
♦ Bước 2: Nêu bộ câu hỏi định hướng.
Giáo viên nêu bộ câu hỏi định hướng cho việc dạy và học chủ đề nhằm định hướng và
tạo hứng thú học tập và làm việc cho học sinh. Tiếp theo, GV hướng dẫn HS tự tìm hiểu nội
dung học qua các tài liệu hỗ trợ bằng cách giao các nhiệm vụ học tập cho học sinh, thể hiện
cụ thể qua các phiếu giao việc và giao cho từng nhóm học sinh, yêu cầu các nhóm phân
công công việc cho từng thành viên. Đồng thời giới thiệu bộ công cụ đánh giá để học sinh
có thể định hướng các công việc mà mình cần phải làm.
♦ Bước 3: Tổ chức quá trình học tập trên lớp.
Lớp học thường được chia thành các nhóm nhỏ cùng nhau làm việc, thảo luận, với tinh
thần tập thể cao để trả lời các câu hỏi nội dung tương ứng với từng câu hỏi bài học, và trả
lời câu hỏi bài học. cụ thể:
-

Mỗi học sinh báo cáo lại thông tin mình thu thập được về nhiệm vụ được giao và trình

bày kết quả thu nhận của mình trước nhóm học tập.
-

Sau đó cả nhóm thảo luận, so sánh, sắp xếp, phân loại thông tin và cùng nhau, tranh

luận, đánh giá để xây dựng các câu trả lời cho các nhiệm vụ được giao.
-

Các nhóm trình bày câu trả lời của nhóm mình trước lớp để các nhóm khác bổ sung,

điều chỉnh, chất vấn, đánh giá.
-

cụ thể đến khái quát bằng cách sử dụng tư duy phân tích, tổng hợp, là một tổng thể kiến
thức mới. Tổng thể kiến thức này thường không giống với trật tự nội dung kiến thức trình
bày trong SGK và sẽ khác ở những HS khác nhau tùy vào khả năng tư duy của các em. HS
sau khi học chủ đề sẽ trả lời được nhiều câu hỏi từ câu hỏi cụ thể đến các câu hỏi có mức
khái quát khác nhau. Qua đó, HS được phát triển tư duy bậc cao đồng thời từng bước rèn
luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu giải quyết về vấn đề.

1.7. Kết luận của chương 1:
Mô hình dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học hiện đại, có cơ sở khoa học rõ ràng,
phát huy được tính tích cực học tập và sự hợp tác của học sinh trong học tập, có điểm tương
đồng với dạy học truyền thống là vẫn coi trọng việc lĩnh hội một dung lượng kiến thức nền
tảng, đồng thời lại có khả năng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng như tự tìm kiếm kiến
thức, liên hệ kiến thức lý thuyết với thực tiễn, làm nhóm…Vì vậy, việc vận dụng mô hình
dạy học theo chủ đề vào thực tiễn dạy học ở trường THPT của Nước CHDCND Lào là phù
hợp và rất cần thiết.


Chương 2: VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀO DẠY
HỌC CHƯƠNG “ CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN” – VẬT LÝ 10 THPT Ở NƯỚC
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO.
2.1 Nội dung kiến thức chương “ Cân bằng của vật rắn” – Vật lý 10 THPT ở
Nước CHDCND Lào.
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương “ CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN” –Vật lý 10
THPT ở Nước CHDCND Lào.
NỘI DUNG

KIẾN THỨC

Điểm cân bằng của vật rắn.


bằng không.
Phát biểu được công thức và quy tắc
cân bằng của vật rắn treo ở đầu dây
thẳng đứng.
Phát biểu được công thức và quy tắc
cân bằng của vật rắn chịu tác dụng
của ba lực không song song.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status