Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chon đề tài
Hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đang là mục tiêu trọng
tâm của nước ta. Đây là vấn đề đặt ra cho cho từng doanh nghiệp, từng ngành
kinh tế và cho toàn xã hội. Để góp phần thực hiện mục tiêu này các doanh
nghiệp khách sạn đã và đang củng cố và tăng cường vị thế cạnh tranh của
mình và của ngành du lịch Việt Nam trên thị trường. Do đó sự cạnh tranh
trong ngành khách sạn cũng ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp khách sạn
sẽ phải đương đầu với nhiều đối thủ nước ngoài rất mạnh ngay trên địa bàn
truyền thống của mình. Nếu doanh nghiệp khách sạn không tự mình nhìn
nhận, đánh giá đầy đủ để cố gắng vươn lên về năng lực quản lý, chiến lược
đầu tư và kinh doanh, cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ, quan hệ đối tác
và công tác tiếp thị thì không thể cạnh tranh được.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh,
khách sạn M đã xác định cho mình những lợi thế, và những chiến lược đúng
đắn để tồn tại và phát triển trong tương lai. Sau 3 tháng thực tập tại nhà hàng
The Gallery – khách sạn M, được trực tiếp góp phần vào việc thực hiện chiến
lược em đã phần nào nhận biết được tầm quan trọng của việc nâng cao năng
lực canh tranh do đó em đã chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nhà hàng The
Gallery - khách sạn M
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Phạm Thị
Nhuận và sự giúp đỡ của các anh chị trong khách sạn M đã giúp đỡ em hoàn
thành tốt kỳ thực tập và chuyên đề này.
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
1
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
2. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong bài chuyên đề này chỉ dừng lại ở phạm vi nhà
hàng The Gallery khách sạn M
niệm này, cần phải bắt đầu từ quá trình hình thành và phát triển của kinh
doanh khách sạn.
Đầu tiên, kinh doanh khách sạn chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm
đảm bảo chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền. Sau đó cùng với những đòi
hỏi thoả mãn nhiều nhu cầu hơn và mức cao hơn thì hoạt động kinh doanh
cũng mở rộng thêm. Các chủ khách sạn muốn đáp ứng toàn bộ nhu cầu của
khách nhằm mục đích lợi nhuận từ đó thúc đẩy ngành kinh doanh khách sạn
từng bước phát triển. Vì vậy khái niệm này được hiểu theo 2 nghĩa là nghĩa
rộng và nghĩa hẹp:
- Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ
phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách.
- Theo ngĩa hẹp, kinh doanh khách sạn chỉ đảm bảo nhu cầu ngủ, nghỉ cho
khách.
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
3
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Ngày nay nhu cầu đi du lịch dần được coi là nhu cầu thiết yếu. Đó chính là
nhu cầu được nghỉ ngơi giải trí, nhu cầu được giao lưu học hỏi, được nâng
cao trình độ… Để đáp ứng được các nhu câu này của khách du lịch, các dịch
vụ của ngành kinh doanh khách sạn ngày càng phong phú và đa dạng về
chủng loại. Đây cũng chính là điểm mấu chốt để kinh doanh khách sạn được
thành công và khái niệm kinh doanh khách sạn cũng được thừa nhận theo cả
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Trên phương diện chung nhất, có thể đua ra định
nghĩa về kinh doanh khách sạn như sau:
“Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các
nhu cầu ăn nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”
(TS. Nguyễn Văn Mạnh & Ths. Hoàng Thị Lan Hương,Giáo trình Quản trị
kinh doanh khách sạn )
Theo định nghĩa trên thì ngành kinh doanh khách sạn có 3 lĩnh vực kinh
Sản phẩm khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ và quá trình phục
vụ này không thể cơ giới hóa được mà chỉ có thể được thực hiện bởi những
nhân viên trong khách sạn. Mặt khác, lao động trong khách sạn có tính
chuyên môn hoá cao, thời gian phục vụ lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng
của khách do đó phải sử dụng một số lượng lớn lao động phục vụ trực tiếp
trong khách sạn. Do việc này đòi hỏi chi phí rất lớn nên một nhà quản lý
khách sạn luôn phải đối mặt với khó khăn về chi phí lao động tương đối cao.
Các nhà quản lý luôn tìm cách giảm thỉểu chi phí này nhưng phải đảm bảo
chất lượng sản phẩm dịch vụ của khách sạn.
- Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật
Cũng như các ngành kinh doanh khác, kinh doanh khách sạn chịu rất nhiều
chi phối của các quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật tự nhiên – xã hội,
quy luật tâm lý con người… Các tác động này gây ra những tác động khác
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
5
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
nhau cả tích cực và tiêu cực tới tất cả các khách sạn với những mức dộ khác
nhau. Để tận dụng những cơ hội và hạn chế những thách thức do tác động của
các quy luật này mang lại nhà kinh doanh khách sạn phải nghiên cứu kỹ các
quy luật và sự tác động của nó đến khách sạn. Từ đó đề ra những biện pháp để
kinh doanh khách sạn có thể đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.3. Kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống là một trong 3 hoạt động kinh doanh trong doanh
nghiệp khách sạn. Hoạt động kinh doanh này không chỉ là đơn thuần là cung
cấp thức ăn cho khách mà còn phục vụ nhu cầu thẩm mĩ, nghỉ ngơi và giải trí
của họ nữa. Chính vì vậy kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm 3 hoạt
động chính sau:
- Hoạt động sản xuất vật chất: chế biến thức ăn cho khách.
- Hoạt động lưu thông: bán sản phẩm chế biến của mình và sản phẩm của
các ngành khác cho khách.
tạo sự thuận lợi tối đa cho khách
- Kết hợp các hoạt động giải trí, bố xung thoả mãn nhu cầu và nâng cao
doanh thu. Đây là những hoạt động bổ sung nhưng có vai trò rất quan trọng
trong cả chất lượng dịch vụ và trong hiệu quả kinh tế
1.1.4. Ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội của kinh doanh khách sạn
• Ý nghĩa kinh tế
Kinh doanh khách sạn có ý nghĩa kinh tế to lớn đối với một quốc gia vì nó
là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch và thực hiện những
nhệm vụ chính của ngành. Kinh doanh khách sạn tác động đến sự phát triển
của nghành du lịch và đời sống kinh tế xã hội nói chung của một quốc gia
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
7
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
- Phân phối lại quỹ tiêu dùng cá nhân giữa các vùng trong nước thông qua
kinh doanh lưu trú và ăn uống của khách sạn vì thế góp phần làm tăng GDP
cho các vùng và các quốc gia.
- Kinh doanh khách sạn góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
và trong nước, huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân
- Tạo cơ hội cho sự phát triển của các nghành khác vì hàng ngày khách sạn
tiêu thụ một khối lượng lớn sản phẩm của các nghành như: công nghiệp nặng,
công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, bưu chính viễn thông,
ngân hàng và đặc biệt là thủ công mỹ nghệ.
- Giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm cho lao động
Tất cả những điều trên làm cho kinh doanh khách sạn có ý nghĩa kinh tế to
lớn đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
• Ý nghĩa xã hội
- Kinh doanh khách sạn góp phần gìn giữ và phục hồi khả năng lao động và
sức sản xuất của người lao động thông qua việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi
tích cực trong thời gian đi du lịch của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên. Đồng thời việc thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi cuối tuần một
nhận như sau: “ Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt , quyết liệt giữa các
nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi
nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển”.
- Ngày nay sở dĩ nền kinh tế thị trường phát triển và chiếm ưu thế so với
kinh tế tập trung là do nó có những ưu thế nhất định. Vai trò của cạnh
tranh ngày càng được thừa nhận và thể hiện rõ nét hơn:
• Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh mối quan hệ cung – cầu đảm bảo việc
phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội một cách hiệu quả nhất
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
9
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
• Cạnh tranh cho phép sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối ưu
• Khuyến khách áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
• Thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng
• Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế
1.2.1.2. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp trên thị trường.
Bất kỳ doanh ngiệp nào cũng phải đối mặt với cạnh tranh, do đó muốn
tồn tại trên thị trường cần phải cố những chiến lược cạnh tranh, những
công cụ cạnh tranh hữu hiệu. Thông thường doanh nghiệp có các công cụ
cạnh tranh chủ yếu sau:
• Cạnh tranh bằng sản phẩm
Đối với tất cả các doanh nghiệp thì vấn đề sản phẩm được người tiêu
dùng tiếp nhận và tiêu dùng là yếu tố quan trọng hang đầu. Sản phẩm là bộ
mặt của doanh nghiệp, đại diện cho thương hiệu, cho sự lớn mạnh hay yếu
kém của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thành công hay thất bại đều mở
đầu và kết thuc bởi sản phẩm. Sản phẩm là cầu nối giữa doanh nghiệp và
người tiêu dung, giữa cung và cầu trên thị trường do đó khi tiếp cận thị
trường sản phẩm là một công cụ có tác động mạnh mẽ nhất. Cạnh tranh về
sản phẩm thường được thể hiện qua các mặt sau:
- Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm: Sử dụng
phơng pháp này doanh nghiệp cần phải sang suốt đua ra quyết định nên
đưa ra sản phẩm mới hay duy trì khai thác sản phẩm cũ.
• Cạnh tranh về giá
Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩ mà người bấn hay
doanh nghiệp dự tính có thể nhậ được từ người mua thong qua việc trao
đổi sản phẩm trên thị trường. Giá cả là tín hiệu tin cậy phản ánh tình hình
biến động trên thị trường.
Cạnh tranh về giá cả thường được thể hịên qua các chính sách định giá :
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
11
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
- Chính sách định giá thấp
- Cính sách định giá ngang giá thị trường
- Chính sách định gía cao
- Chính sách định gía phân biệt
- Chính sách bán phá giá
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Trong lực lượng
tương quan với giá trị khách hang mong đợi, nếu khoảng cách giưa giá và
giá trị càng nhỏ thì doanh nghiệp càng có nhiều lợi thé cạnh tranh. Do đó
doanh ngiệp cũng dần chiếm được lòng tin người tiêu dung và cũng có
nghĩa là vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng cao. Tuy nhiên hạ
giá ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp do đó khi sử dụng
chiến lược giá làm vũ khí cạnh tranh trên thị trường doanh nghiệp cần phải
lựa cjon thời điểm thích hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu của chính sách
này.
• Cạnh tranh về phân phối bán hàng
Phân phối, bàn hàng là một trong những công cụ Marketing và là một
trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp khách sạn.
Cạnh tranh về phân phối bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu
về sản phẩm dịch vụ khách sạn. Có thể nói thương hiệu là tài sản quý giá
nhất của khách sạn. Đây là một tài sản vô hình nhưng có giá trị vô cùng to
lớn nhất là đối với doanh nghiệp khách sạn.
Khách của khách sạn là những người từ nơi khác đến, họ chưa tiêu dùng
sản phẩm dịch vụ của khách sạn do đó thương hiệu khách sạn là tiêu chí
đầu tiên để họ lựa chọn. Tuy nhiên không phải bất cứ khách sạn nào cũng
có thương hiệu. Tất cả các khách sạn đều có nhãn hiêu nhưng để nhãn hiệu
trở thành thương hiệu nó phải trải qua một quá trình dài, được khách hàng
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
13
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
công nhận và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Một khách
sạn có thương hiệu mạnh sẽ là một khách sạn có năng lực cạnh tranh lớn,
có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh về thương hiệu còn tạo ra sự trung thành từ phía khách hàng.
Khách hàng sẽ dễ dàng chọn mua một sản phẩm nổi tiếng. Do đó thương
hiệu không chỉ là công cụ để khách sạn giữ chân khách hàng truyền thống
mà còn thu hút khách hàng mới cho khách sạn. Trong môi trường cạnh
tranh, để giữ gìn thương hiệu và nâng cao khả năng thu hút khách thì vấn
đề quan trọng nhất là nâng coa chất lượng dịch vụ. Thương hiệu là một
công cụ hữu hiệu do đó khách sạn cần phải duy trì thương hiệu và sử dụng
nó như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu.
1.2.2. Năng lực cạnh tranh trong ngành khách sạn
1.2.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị
trường thì phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị
trường. Đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Năng lực
cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc có được các lợi thế cạnh
tranh so với các đối thủ cạnh tranh để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài
trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ
kinh nghiệm và tạo được sự trung thành với nhãn hiệu của khách hàng. Mặt
khác, vị thế cạnh tranh càng vững chắc hơn nếu công ty có năng lực đặc biệt
về nghiên cứu và phát triển, marketing, hiểu biết thị trường, tạo được uy tín
nhãn hiệu - những thế mạnh vượt trội mà các đối thủ không có được. Nói
chung, công ty có thị phần lớn nhất với năng lực cạnh tranh lớn nhất, độc đáo
nhất sẽ có vị thế cạnh tranh tốt nhất. Hai yếu tố trên đây củng cố, hỗ trợ lẫn
nhau và giải thích tại sao có những công ty ngày càng vững mạnh và liên tục
phát triển. Yếu tố độc đáo, duy nhất trong năng lực cạnh tranh sẽ tạo ra mức
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
15
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
cầu cao về sản phẩm, dẫn đến thị phần lớn cho công ty. Và đến lượt nó, thị
phần lớn là điều kiện để công ty có thêm nguồn lực nhằm củng cố và phát
triển thế mạnh độc đáo, duy nhất.
1.2.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
• Yếu tố con người
Con người luôn là yếu tố quan trọng và quyết định nhất đối với hoạt động của
mọi doanh nghiệp. Yếu tố con người bao trùm lên toàn bộ mọi hoạt động của
doanh nghiệp thể hiện qua khả năng, trình độ, ý thức của đội ngũ quản lý và
người lao động. Đội ngũ lao động tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, thái độ phcj vụi khách
hàng, sự sáng tạo,…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao
chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa.
Đội ngũ lao động của doanh nghiệp khách sạn có trình độ cao, biết các tiêu
chuẩn dịch vụ, các sản phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ.
Nó sẽ tác động tới giá của dịch vụ và thông qua đó khách sạn sẽ có nhiều lựa
chọn khi định giá dịch vụ tạo lợi thế về cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đặc biệt đối với ngành dịch vụ như khách sạn ,số lượng lao động là rất lớn.
Quá trình sản xuất một phần gắn với việc người lao động trực tiếp tiếp xúc
với khách hàng.Thái dộ cử chỉ và trình độ chuyên môn của số lao dộng này sẽ
một loại sản phẩm, độc quyền trong tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nguồn
nguyên liệu sẽ có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với các doanh nghiệp khách
sạn khác. Thị trường khách của ngành kinh doanh khách sạn vô cùng rộng lớn
do đó muốn nâng cao lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp phải tìm cho mình một
thị trường mục tiêu để phát triển sản phẩm của mình, trở thành nhà độc quyền
trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng .
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
17
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Tính độc quyền ảnh hưởng trực tiếp tới lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp . Do đó tìm ra lợi thế cạnh tranh và phát triển sản phẩm duy nhất,
doanh nghiệp khách sạn sẽ trở thành người đi tiên phong trong ngành .
1.2.2.4.Thực trạng cạnh tranh trong ngành khách sạn
Hệ thống khách sạn và cơ sở lưu trú Việt Nam trong những năm gần đây
phát triển nhanh cả về số lượng, quy mô, hình thức sở hữu và chất lượng dịch
vụ. Từ năm 2007 đến nay, tại Hà Nội có 5 dự án xây dựng khách sạn 5 sao,
Tp.HCM là 11 dự án khách sạn 5 sao với khoảng 3.611 phòng. Theo dự báo
của Công ty CBRE, trong 4 năm tới Việt Nam cần có 10.000 phòng. Điều này
chứng tỏ trong vài năm gần đây nguồn cung khách sạn luôn trong tình trạng
không đủ đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước, số lượng phòng khách sạn 4-
5 sao hiện tại còn rất hạn chế. Giá phòng của 9 khách sạn 5 sao ở Hà Nội, bao
gồm cả khách sạn InterContinental Hanoi Westlake mới đi vào hoạt động, dao
động trong khoảng từ 120-350 USD/ngày. Hệ số sử dụng phòng đạt xấp xỉ
82%. Khách đến Hà Nội thường gặp khó khăn trong việc tìm thuê phòng
khách sạn cho thấy nhu cầu cần có thêm nhiều phòng khách sạn hơn.
Xu hướng hiện nay là các khách sạn thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài để nâng cấp thành các khách sạn cao cấp hơn. Như vậy sự cạnh tranh
trong ngành khách sạn vẫn chưa thực sự diễn ra gay gắt Doanh nghiệp khách
sạn phải nhanh chóng tìm ra lợi thế cạnh tranh của mình nhằm phục vụ những
đoạn thị trường mục tiêu của mình, chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh trong ngành
chung giữa các doanh nghiệp khách sạn, tạo nên sức cạnh tranh tổng hợp trên
trường quốc tế. Mặt khác, các doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt những
nội dung mà Việt Nam đã cam kết mở cửa trong lĩnh vực du lịch, từ đó xây
dựng chiến lược phát triển phù hợp theo hướng phát triển bền vững
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu
khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nếu không
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
19
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
làm được điều này, doanh nghiệp không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn
gánh chịu những hậu quả tương tự trên chính “sân nhà”. Để nâng cao năng
lực cạnh tranh thì một trong những công việc mà doanh nghiệp cần làm là chủ
động đánh giá thực lực kinh doanh của mình và tìm ra những điểm mạnh cơ
bản để phát huy
1.3. Tóm tắt chương 1
Kinh doanh khách sạn ngày càng đóng góp nhiều hơn trong ngành kinh tế.
Trên góc độ kinh doanh, hiểu biết về khách sạn và các nhân tố ảnh hưởng đến
doanh ngiệp khách sạn là vô cùng cần thiết bởi nó là những nền tảng cơ bản
để doanh nghiệp nâng cao năng lục cạnh tranh và hiệu suất kinh doanh.
Chương 1 trình bày những vấn đề sau:
- Những lý luận cơ bản về kinh doanh khách sạn và kinh doanh ăn uống. Nó
cung cấp những nguyên tắc, những đặc điểm cơ bản để doanh nghiệp tập
trung khi tiến hành kinh doanh. Bản thân kinh doanh khách sạn cũng có những
đặc điểm riêng. Nó không chỉ chịu sự phụ thuộc vào tài nguyên của mỗi điểm
du lịch mà còn đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn. Hoạt động kinh doanh khách
sạn còn đòi hỏi một lực lượng lao động lớn
- Lý luận về năng lực cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh. Doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh trước hết xác định
được chiến lược kinh doanh của minh, phải hiểu được lợi thế cạnh tranh của
mình
Năm thứ 1-
22
Năm thứ 23-
26
Năm thứ 27-
30
Sau năm thứ
30
Việt Nam 25.90% 40% 49% 60%
Nước ngoài 74.10% 60% 51% 40%
Nguồn: Phòng kế toán khách sạn M
Khách sạn Guoman Hà Nội được xây dựng với tổng số vốn đầu tư ban
đầu là 13.200.000USD. Ban đầu bên Việt Nam góp 25.9% vốn pháp định
bằng quyền sử dụng diện tích đất 2.950m
2
trong thời gian 30 năm ( được định
giá tại thời điểm góp vốn là 1.414.000USD) và 333.971USD tiền mặt; bên đối
tác góp 74.1% vốn pháp định bằng thiết bị, vật tư, phương tiện vận chuyển và
ngoại tệ tương đương 5.000.592 USD. Khách sạn được xây dựng theo kiến
trúc hình hộp theo tiêu chuẩn của khách sạn 4* với 12 tầng và 151 phòng và
dịch vụ đa dạng. Với nội thất được trang trí tạo không khi gia đình và thái độ
phục vụ tận tình, thân thiện của nhân viên, khách sạn Guoman đã thực sự đem
lại sự ấm cúng và hài lòng cho khách hàng. Khách sạn đã nhận được nhiều
danh hiệu và đang vững bước với mục tiêu của mình.
Thành tích của Guoman đã đạt được trong những năm gần đây:
- Đạt danh hiệu “Best Boutique Hotel in Ha Noi” năm 2001
- Đạt danh hiệu “ Best Hight Quality Hotel in Hà Nội ” năm 2002
- Đạt “ Excellent 4 – Star Hotel in Hà Nội ” năm 2006-2007
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
- Làm việc uy tín với tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ chuẩn mực.
Vina Capital quản lý hai quỹ chính là quỹ cơ hội Việt Nam (VOF) và
quỹ Vina Land (VLN). Trong đó có một lĩnh vực chuyên về khách sạn nhằm
nắm bắt và phát triển khách sạn và resorts có tên là Vina Capital Hopitality
được bắt đầu hoạt động vào tháng 6 năm 2006. Hiện nay VinaCapital đã là
chủ sở hữu của 4 khách sạn lớn trong đó có 3 khách sạn ở Hà Nội đó là:
khách sạn Sofitel Metropole, Hilton và M. Với mỗi khách sạn, công ty ROXY
đều có mục tiêu riêng và vạch ra những chiến lược thực hiện mục tiêu đó. Đối
với khách sạn M công ty muốn đưa ra cho khách hàng một hình ảnh khách
sạn luôn đi tiên phong trong ngành khách sạn (Trend Setting Hotelier) và
khách sạn ấm cúng nhất Việt Nam (Best Boutique Hotel in VietNam). Để
thực hiện mục tiêu đó khách sạn đã lựa chọn tập đoàn Movenpick Hotel
(Thụy Sĩ) là nhà quản lý và dự định đến tháng 6/2008 đổi tên thành khách sạn
Movenpick Hotel Hanoi.
Tập đoàn Movenpick có trụ sở chính tại 8152 Glattbrugg, Thụy Sĩ, là tập
đoàn quản lý khách sạn và resort hàng với gần 100 năm kinh nghiệm đầu thế
giới . Tập đoàn có khoảng 12.000 nhân viên, hơn 80 khách sạn ở 25 nước
Gồm 2 loại đó là khách sạn dành cho khách hội thảo, kinh doanh và resort
nghỉ dưỡng. Với chiến lược phát triển bao phủ hệ thống khách sạn và resort
trên toàn cầu tập doàn Movenpick có kế hoạch đến 2011 mở thêm 31 khách
sạn và 2 khách sạn ở Việt Nam sẽ được mở vào 2008.
Hiện nay khách sạn M đang trong giai đoạn chuyển giao quản lý và hoạch
định chiến lược mới. Ban quản lý khách sạn nhận định: Ngành công nghiệp
dich vụ Việt Nam đang phát triển nhanh ước tính dến năm 2010 Hà Nội sẽ
đón tiếp hơn 2 triệu khách du lịch. Hiện nay, Hà Nội đã có 516 điểm nghỉ
ngơi cho khách du lịch với 12.894 so với nhu cầu còn thiếu tới 13.000 phòng
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
24
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
nữa. Mặt khác nhu cầu đòi hỏi của khách ngay càng cao nên các khách sạn
25