ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ HẢI YẾN
HỎI CUNG BỊ CAN TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ HẢI YẾN
HỎI CUNG BỊ CAN TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự - Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯỢNG
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
cung bị can .......................................................................................................... 10
1.2.1. Bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa ........................ 10
1.2.2. Bảo đảm thực hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án và nguyên tắc
bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng .......................................... 10
1.2.3. Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc khác liên quan đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bị can ..................................................................................................... 10
1.3. Khái quát các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về hỏi
cung bị can ......................................................................................................... 10
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi có Bộ
luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988. ............................................................ 10
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 đến
năm 2003 .............................................................................................................. 10
1.4. Hỏi cung bị can của pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới
.............................................................................................................................. 10
1.4.1. Hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa ....................................................................................................................... 10
1.4.2. Hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga ................. 10
1.4.3. Hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức . 10
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
.............................................................................................................................. 10
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hỏi cung
bị can.................................................................................................................... 10
2.1.1. Đối tượng của hỏi cung bị can ................................................................... 10
2.1.2. Chủ thể của hỏi cung bị can ....................................................................... 10
2.1.3. Trình tự, thủ tục tiến hành hỏi cung bị can ................................................ 10
2.1.4. Hỏi cung bị can là người chưa thành niên ................................................. 10
2.1.5. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can ............. 10
TTHS
: Tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
VKS
: Viện Kiếm sát
TAND
: Tòa án nhân dân
DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ
Biểu đồ 1: Số lượng các vụ việc bức cung, dùng nhục hình...........................57
Biểu đồ 2: Số bị can bị khởi tố điều tra về tội bức cung, dùng nhục hình.....58
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay, để giải quyết nhanh chóng vụ án hình sự và xử lý công
minh, đúng đắ n kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải triệt để tuân thủ các
quy định của pháp luật Tố tụng hình sự để góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ
phạm trong giai đoạn hiện nay.
Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Hỏi cung bị can trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về biện
pháp hỏi cung bị can ở những mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau như:
“Hỏi cung bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tình hình hiện
nay”, đề tài cấp Bộ của Phó giáo sư, tiến sỹ Lê Minh Hùng năm 2001 –
Học viện An Ninh Nhân dân; “Hỏi cung bị can phạm tội gián điệp trong
tình hình hiện nay”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Quý Khoát năm 2003 –
Học viện An Ninh Nhân dân; “Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình
sự”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Minh năm 2008 – Khoa Luật Đại
học Quốc Gia Hà Nội; “Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị hỏi cung
bị can”, Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hoa năm 2010 – Đại học Luật
Hà Nội; ...
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến vấn đề này
nhưng chỉ ở mức độ đại cương, chưa sâu sắc như: “Giáo trình Luật tố tụng
hình sự” của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân dân,
2013); “Bình luận khoa học Bộ luật TTHS” của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2013); "Sổ tay điều tra hình sự" (Nhà xuất
bản Công an nhân dân, 2010); "Khoa học Điều tra hình sự" của Trường Đại
học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2012); “Chiến thuật điều
2
tra hình sự” (sách chuyên khảo) của Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Huy Thuật
(Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2010) và một số bài báo được công bố
trong một số tạp chí... Đây là những công trình nghiên cứu cơ bản các vấn đề
thuộc lĩnh vực điều tra hình sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự
trong đó có hỏi cung bị can.
thực hiện các nguyên tắc của Bộ luật TTHS trong hỏi cung bị can; khái quát
những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam từ sau 1945 đến nay; Hỏi cung bị
can theo quy định Bộ luận TTHS của một số nước trên thế giới; những quy định
của pháp luật hiện hành và thực tiễn hỏi cung bị can trong tình hình hiện nay.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra đóng vai trò rất quan trọng
trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, đây là một biện pháp khá phức
tạp và nhạy cảm. Bởi để hỏi cung mang lại hiệu quả, thu được chứng cứ có
giá trị chứng minh cao thì ngoài việc biện pháp này phải được tiến hành theo
đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định, còn cần phải có sự kết hợp
với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý bị can trong quá
trình hỏi cung. Việc tác động tâm lý bị can, nắm bắt được tâm lý bị can giúp
cho quá trình hỏi cung đạt được hiệu quả cao, nhằm thu được lời khai đúng và
đầy đủ. Do vậy, trong phạm vi đề tài, luận văn không đi sâu vào nghiên cứu
các phương pháp, chiến thuật hỏi cung bị can mà tập trung làm rõ những quy
định của Bộ luật TTHS hiện hành và một số văn bản có liên quan đến biện
pháp điều tra này và thực tiễn áp dụng hiện nay.
Theo quy định của pháp luật, ngoài Điều tra viên – chủ thể chính tiến
hành hỏi cung bị can thì Kiểm sát viên, những người khác thuộc Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển cũng tiến hành hỏi cung
bị can trong những trường hợp cần thiết. Trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài, luận văn chủ yếu đề cập tới chủ thể chính tiến hành hoạt động hỏi cung là
Điều tra viên.
4
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
Năm là, đánh giá và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật nước ta về hoạt
động hỏi cung bị can trong giai đoạn hiện nay, qua đó rút ra những nhận xét
Sáu là, chỉ ra những hạn chế, thiếu xót và từ đó đề xuất những giải pháp
có tính khoa học, tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp hỏi
cung bị can trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác của các cơ quan tiến hành
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ
và đúng pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở lý luận và
thực tiễn về hỏi cung bị can. Trên cơ sở nghiên cứu này, luận văn góp phần
cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn điều tra vụ án
hình sự. Thông qua việc đưa ra những khái niệm cũng như việc phân tích
sâu sắc những vấn đề liện quan đến hỏi cung bị can nhằm tác động đến nhận
thức của Điều tra viên về việc tuân thủ các trình tự, yêu cầu của pháp luật tố
tụng hình sự trong hỏi cung bị can. Qua đó đảm bảo cho quá trình điều tra,
giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội nhằm
nâng cao hiệu quả của việc vận dụng các quy định của pháp luật về hỏi cung
bị can trong thực tiễn.
Ngoài ra, luận văn còn tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn hỏi cung bị can
để thấy được những điểm hạn chế, tồn tại của việc sử dụng biện pháp này, từ đó
6
đề xuất những kiến nghị sát thực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động
chuyên khảo chiến thuật điều tra hình sự của Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Huy
Thuật đã đưa ra định nghĩa: hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra hình sự
do những người theo luật định tiến hành nhằm mục đích thu thập theo trình tự
TTHS lời khai của bị can về vụ án, hành vi và mức độ phạm tội của bị can và
đồng phạm và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với
hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm [22, tr.173].
Trong giáo trình tâm lí học tư pháp do tác giả Đặng Thanh Nga chủ
biên có viết: Hoạt động hỏi cung bị can là một dạng hoạt động điều tra sử
dụng các phương pháp tác động tâm lí đến tư duy, tình cảm, ý chí của bị can
trong khuôn khổ pháp luật thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ và các phương
8
pháp biểu cảm khác như ánh mắt, cử chỉ, nét mặt giữa Điều tra viên với bị can
nhằm thu thập chứng cứ do họ đưa ra góp phần giải quyết vụ án hình sự [13,
tr. 275]. Theo đó, có thể thấy, hỏi cung bị can là cuộc đấu tranh quyết liệt
giữa bị can và ĐTV trong khuôn khổ pháp luật. Dưới góc độ tâm lí học, hỏi
cung bị can là được hiểu là quá trinh nhận thức gián tiếp của CQĐT, Điều tra
viên về vụ án thông qua tài liệu, thông tin mà bị can cung cấp. Nói cách khác,
hoạt động hỏi cung là một dạng hoạt động phức tạp gồm hai quá trình độc lập
tương đối: Quá trình khai thác thông tin và quá trình nhận thức đánh giá thông
tin của Điều tra viên.
Như vậy, hỏi cung bị can được xem xét, nghiên cứu ở nhiều khí cạnh
khác nhau, mặc dù đưa ra những nhận định khác nhau về hỏi cung bị can
nhưng trong các quan điểm đó cho thấy vị trí của hỏi cung bị can là một trong
những biện pháp điều tra cơ bản của giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Mục
đích của hỏi cung bị can là thu thập và mô tả theo trình tự TTHS thật đầy đủ,
chính xác, khách quan lời khai của bị can về vụ án hình sự, hành vi phạm tội
của bị can cùng đồng bọn và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý
nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt chú ý,
thập chứng cứ nói riêng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của
các nhà lập pháp mỗi nước khi xây dựng Bộ luật TTHS. Thu thập chứng cứ là
hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra và thu giữ những sự
kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật
định, để từ đó khai thác những sự kiện chứng minh. Xét trên góc độ thông tin,
thì phát hiện, thu thập chứng cứ là quá trình thu thập thông tin để làm căn cứ
xác định sự thật của vụ án. Phát hiện, thu thập chứng cứ vừa là hoạt động
mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý nên quá trình phát hiện, thu thập
chứng cứ vừa phải quán triệt những nguyên tắc, quy luật của nhận thức, vừa
phải bảo đảm tính pháp lý, hay nói cách khác là phải khách quan và phải tuân
thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục của Bộ luật TTHS.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2002),“Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/1/2002 về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2005),“Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 về
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020”, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (2005),“Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 2/6/2005 về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội.
4. Bộ Công an (2004), “Chỉ thị số 13/2004/CT-BCA (V11) ngày 22/9/2004
của Bộ trưởng Bộ Công an về việc tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh tổ
chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân”, Hà Nội.
5. Bộ luật tố tụng hình sự Công hòa liên bang Đức, theo bản dịch của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2012;
6. Bộ luật tố tụng hình sự của Nga, theo bản dịch của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao năm 2012;
sự”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
19. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2000), “Giáo trình điều tra
hình sự” NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
20. Lê Thị Thanh Hằng (2009), “Quy định của Luật TTHS về giai đoạn
điều tra vụ án hình sự”. Luận văn Thạc sỹ Luật học. Hà Nội.
21.“Nghiên cứu về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự Việt Nam”,
Tạp chí Công an nhân dân số 08/ 2010.
22. Nguyễn Huy Thuật (2010), “Chiến thuật điều tra hình sự” (Sách
chuyên khảo – Lưu hành nội bộ), NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
23. Nguyễn Ngọc Anh (2013), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 (tái bản, có sửa chữa bổ sung), NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội.
24. Nguyễn Quyết Thắng (2/2012), “Quyền bào chữa trong tố tụng
hình sự Cộng hòa liên bang Đức”, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 03.
12
25. Nguyễn Thị Hoa (2010), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị
hỏi cung bị can”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2010),“Bộ luật hình
sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009”, NXB Tư pháp, Hà Nội.
27. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2002), “Luật tổ chức
VKSND”, NXB Tư pháp, Hà Nội.
28. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2004), “Pháp lệnh tổ
chức điều tra hình sự 2004, NXB Tư pháp, Hà Nội.
29. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992 và 2013), “Hiến
pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1988),“Bộ luật tố
tụng hình sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988”, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
14