LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------

LÊ THỊ TUYẾT

TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.20.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Phượng

HÀ NỘI, 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất
kì công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Lê Thị Tuyết


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Kim Phượng người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiên

trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (sắp xếp theo tần số)..........................................................65
Bảng 2.11. Tổ hợp thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp...................................................68
(sắp xếp theo tần số).......................................................................................................................68
Bảng 2.12. Tần số sử dụng thán từ trong một câu trong.................................................................72
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.......................................................................................................72


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Quan điểm của các nhà nghiên cứu về tình thái từ.........................................................14
Bảng 2.1. Phân loại trợ từ ...............................................................................................................35
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo cấu tạo.........................................................................35
Bảng 2.2. Trợ từ có cấu tạo là từ đơn trong truyện ngắn................................................................36
Nguyễn Huy Thiệp (sắp xếp theo tần số).........................................................................................36
Bảng 2.3. Tổ hợp trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.......................................................39
(sắp xếp theo tần số).......................................................................................................................39
Bảng 2.4. Tần số sử dụng trợ từ trong một câu...............................................................................46
Bảng 2.5. Kết quả phân loại tiểu từ tình thái ..................................................................................50
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (theo cấu tạo)......................................................................50
Bảng 2.6. Tiểu từ tình thái có cấu tạo là từ đơn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (sắp xếp theo
tần số).............................................................................................................................................50
Bảng 2.7. Tổ hợp tình thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp...................................................54
(sắp xếp theo tần số).......................................................................................................................54
Bảng 2.8. Tần số sử dụng tiểu từ tình thái trong một câu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ...60
Bảng 2.9. Phân loại thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp .................................................63
(theo cấu tạo)..................................................................................................................................63
Bảng 2.10. Các thán từ có cấu tạo là từ đơn...................................................................................65
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (sắp xếp theo tần số)..........................................................65
Bảng 2.11. Tổ hợp thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp...................................................68
(sắp xếp theo tần số).......................................................................................................................68
Bảng 2.12. Tần số sử dụng thán từ trong một câu trong.................................................................72

ngôn từ được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng có sự góp mặt không nhỏ của các
1


tình thái từ và bản thân chúng đem lại những hiệu quả nghệ thuật rất lớn cho
các truyện ngắn của ông.
Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp để làm rõ những đặc điểm của tình thái từ trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như những giá trị mà tình thái từ mang lại cho
truyện ngắn của ông.
2. Lịch sử vấn đề
Trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ tập trung vào điểm lại tình
hình nghiên cứu về nghĩa tình thái, về tình thái từ và về truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp.
 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tình thái
Tình thái luôn là một chủ đề vừa hấp dẫn, vừa phức tạp, dù ở bất cứ
ngôn ngữ nào. Nó đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên
cứu ngôn ngữ trên thế giới cũng như các nhà Việt ngữ.
- Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:
Có thể kể đến các tác giả: B. Gak, C. Bally, V. Vinogradov, O.B.
Xirotinina, N. Chomsky, J. Lyons, F. Palmer,…
Theo quan điểm của B. Gak, “tình thái phản ánh mối quan hệ của
người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế.
Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của
một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói”. [Dẫn theo 13, 84].
Theo cách định nghĩa của O. B. Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị
tính của câu. Đối với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và
ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau gọi nên cái gọi là vị tính
mà thiếu nó thì không thể có thông báo”. [Dẫn theo 13, 84].
Ch. Bally lại chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn

và quan tâm đến tầm tác dụng của các yếu tố tình thái.
Theo Diệp Quang Ban, trong câu tách ra hai thành tố nghĩa cơ bản là
nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Nghĩa tình thái hay còn gọi là nghĩa liên

3


nhân là kiểu nghĩa “phản ánh thái độ của người nói đối với người nghe hoặc
đối với sự việc được phản ánh trong câu.” [3, 24]. Tác giả cũng phân nghĩa
tình thái trong câu thành hai kiểu:
- Tình thái của hành động nói (trong quan hệ với người nghe).
- Tình thái đối với sự việc được phản ánh trong câu (cách đánh giá của
người nói).
Trong [21], Nguyễn Thị Lương khẳng định: “Nghĩa tình thái là một
phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa
người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản
ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài
thực tế khách quan.”(tr178). Tiếp đó tác giả đã giới thiệu các loại tình thái
thường gặp và dễ nhận biết:
- Tình thái của hành động nói (hành động ngôn ngữ);
- Tình thái liên cá nhân;
- Tình thái chủ quan;
- Tình thái khách quan.
Một số luận án, luận văn cũng đã khai thác vấn đề tình thái trên một số
phương diện:
- Nguyễn Khắc Chí, Một số biểu thức tình thái trong câu tiếng Việt,
Tiểu luận khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994.
- Phan Thị Kế, Các kiểu nghĩa trong câu: Nghĩa biểu hiện - nghĩa
tình thái trên tài liệu một số bài văn xuôi Việt Nam (trong sách Ngữ Văn
6), Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.

cảm thán từ.
- Tình thái từ là cách gọi của Bùi Minh Toán [36]. Tác giả tiếp tục phân
loại tình thái từ thành các tiểu loại: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
Đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tiểu loại của
tình thái từ.

5


Phan Mạnh Hùng đã dành hẳn một chuyên luận để nghiên cứu toàn
diện về tiểu từ tình thái, bao gồm các vấn đề về vị trí trong hệ thống từ loại
tiếng Việt, phân biệt các tiểu từ tình thái với tiểu từ nhấn mạnh, phân biệt các
tiểu từ theo các tiêu chí hình thức (vị trí đối đãi của các tiểu từ đối với nhau
và khả năng kết hợp), mô tả ý nghĩa khái quát của các tiểu từ… [15]
Nguyễn Thị Lương đã vận dụng lí thuyết hành động ngôn ngữ vào việc
tìm hiểu 10 tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi nhằm tìm ra các hành động
ngôn ngữ mà chúng có khả năng biểu thị trong những ngữ cảnh mà chúng
xuất hiện, miêu tả đánh giá hiệu lực của những hành động đó. [20]
Phạm Hùng Việt đã đi vào nghiên cứu chuyên sâu những đơn vị mà
ông gọi là trợ từ trong tiếng Việt hiện đại. Trong cuốn sách này, tác giả đã
đưa ra cơ sở nhận diện và phân loại trợ từ, một số chức năng của trợ từ, cách
sử dụng một số trợ từ, một cách định nghĩa giải thích trợ từ tiếng Việt... [40]
Nguyễn Văn Hiệp trong [13] đã tập hợp lại nhiều vấn đề về tình thái và
tiểu từ tình thái. Riêng về tiểu từ tình thái tác giả đã đề cập đến các nội dung:
- Xác lập một cách miêu tả các tiểu từ tình thái tiếng Việt;
- Phân loại các tiểu từ tình thái theo vai trò đánh dấu kiểu câu;
- Các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt trong vai trò đánh dấu mục
đích phát ngôn và đánh dấu kiểu câu;
- Tầm tác động của quán ngữ tình thái với các tiểu từ tình thái cuối câu
hoặc tổ hợp tương đương;

Nguyễn Thành Nam trong [23] đã tập trung tìm hiểu các nguyên tắc tổ
chức ngôn từ trong 42 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, lấy đó làm cơ sở
định hướng, khảo sát và tìm hiểu các dạng thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật
(lời trần thuật của người kể chuyện, lời đối thoại, độc thoại của các nhân vật)
cùng với đặc trưng của các yếu tố ngôn từ có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện
rõ tư tưởng và phong cách văn chương Nguyễn Huy Thiệp.

7


Trên cơ sở thành tựu của những nghiên cứu đi trước, Nguyễn Văn
Đông đã tập trung nghiên cứu lời văn nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp một cách
toàn diện, hệ thống. Tác giả đã đi từ quan điểm nghệ thuật rút ra các nguyên
tắc tổ chức lời văn nghệ thuật, trên cơ sở đó tập trung đi sâu tìm hiểu lời văn
nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp (lời trần thuật trong sáng tác Nguyễn Huy
Thiệp, lời nhân vật trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp). [10]
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp và cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nghĩa tình thái và tình
thái từ nhưng tính đến thời điểm hiện tại Tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ.
Nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
không chỉ giúp củng cố lí thuyết về nghĩa tình thái, về tình thái từ mà chúng
tôi còn mong muốn góp thêm một tiếng nói trên hành trình “Đi tìm Nguyễn
Huy Thiệp”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm ra và phân tích đặc điểm của các tình thái
từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và chỉ ra vai trò của chúng đối với
việc biểu đạt nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn của ông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

nghiên cứu về vai trò của tình thái từ trên bình diện ngữ dụng.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lí luận
Với việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi không có tham vọng đưa ra
một vấn đề lý thuyết mới mà chỉ mong muốn làm sáng tỏ vai trò của tình thái
từ đối với một văn bản cụ thể.
6.2. Về mặt thực tiễn
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn gợi một hướng tiếp
cận cho giáo viên và học sinh khi tìm hiểu một tác phẩm văn học: vận dụng
9


các kiến thức ngôn ngữ học để đọc - hiểu một tác phẩm văn học theo hướng
tích hợp.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3
chương:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết
- Chương 2: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ
bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa
- Chương 3: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ
bình diện ngữ dụng
Ngoài ra, luận văn còn có phần mục lục, tài liệu tham khảo.

10


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vị trí của tình thái từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
1.1.1. Hệ thống từ loại tiếng Việt

- Chức năng: Thực từ có thể đảm nhiệm vai trò của thành tố chính và
thành tố phụ trong cấu tạo của cụm từ và của câu.
VD: Bạn ấy đang tập thể dục.
Trong câu này, hai thành phần bạn (chủ ngữ) và tập (vị ngữ) đều là
thực từ, bổ ngữ thể dục cũng là thực từ, từ chỉ định ấy và phó từ chỉ thời gian
đang đóng vai trò là thành tố phụ trong cụm từ.
- Phân loại:
Hệ thống thực từ tiếng Việt gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
1.1.1.2. Hư từ
* Khái niệm:
Diệp Quang Ban tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu và đưa ra cách
hiểu về hư từ như sau: “Lớp từ có số lượng ít hơn so với thực từ, có ý nghĩa
phạm trù chung mờ nhạt, chuyên dùng biểu thị các quan hệ, tức là những mối
liên hệ giữa các đối tượng phản ánh và dùng biểu thị cách thức phản ánh các
đối tượng đó”. [1, 176].
Như vậy, hư từ là những từ không mang ý nghĩa thực mà có ý nghĩa
ngữ pháp, chúng không có chức năng định danh. Chúng biểu thị cách thức
phản ánh các đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng hoặc quan hệ giữa chủ
thể với đối tượng phản ánh.
* Đặc điểm:
- Về ý nghĩa khái quát: hư từ bổ sung một ý nghĩa ngữ pháp nào đó cho
thực từ. VD: Nó lại đi chơi
Từ lại bổ sung ý nghĩa tái diễn tương tự của hành động đi chơi
- Về khả năng kết hợp, hư từ có thể:

12


(1) Dùng kèm với thực từ với tư cách là công cụ dạng thức hóa các ý
nghĩa ngữ pháp liên quan tới thực từ.

từ), quan hệ từ, tình thái từ (trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ)
1.1.2. Tình thái từ tiếng Việt
Bảng 1.1. Quan điểm của các nhà nghiên cứu về tình thái từ
STT
Tác giả
Khái niệm
Phân loại
1
Diệp Quang Ban - Tình thái từ là tiểu từ - Tình thái từ góp
[1, 170].

chuyên dùng biểu thị ý phần thể hiện mục
nghĩa tình thái trong quan đích phát ngôn:
hệ của chủ thể phát ngôn + Tình thái từ để hỏi:
với người nghe hay với nội à, ư, hứ, chăng…
dung phản ánh; hoặc ý + Tình thái từ mệnh
nghĩa tình thái gắn với mục lệnh hoặc cầu khiến:
đích phát ngôn.

đi, với, nhé, mà…
- Tình thái từ biểu thị
cảm xúc chủ quan
hoặc khách quan:
+ à, á, vậy, kia, mà,
cơ, cơ mà…
+ ôi, ối, ái, ồ, ái chà,
ôi dào, ôi chao…
- Tình thái từ dùng để
gọi đáp: ơi, hỡi, ạ,


đối với nội dung của câu - Các tiểu từ tình thái:
hoặc đối với người cùng à, ư, nhỉ, nhé, mà,
tham gia hoạt động giao đâu, chăng…
tiếp (người nghe, người - Các từ cảm thán: ôi,
đọc)

ối, ái, trời ơi, hỡi ơi…

15


Qua việc tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu, luận văn đưa ra
một số nhận định chung về tình thái từ như sau:
- Khái niệm: tình thái từ là những từ biểu lộ tình cảm, thái độ, cách
đánh giá, nhận xét của người nói đối với nội dung sự tình được nói tới trong
phát ngôn hoặc đối với người nghe.
- Phân loại: tình thái từ gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
1.1.2.1. Trợ từ
* Khái niệm
Đinh Văn Đức cho rằng trợ từ “thiên về nhấn mạnh sự kiện”, mục đích
của trợ từ là “nhằm nhấn mạnh có chủ đích có nội dung cụ thể, một quan hệ
cụ thể trong phát ngôn”. [11, 245 - 246]
Theo Bùi Minh Toán, trợ từ nhấn mạnh là những từ dùng để “nhấn
mạnh vào từ, cụm từ hay một câu nào đó mà chúng đi kèm. Chúng ở trước từ
hay cụm từ cần nhấn mạnh”. [36, 49].
Chúng tôi dựa vào quan niệm này của tác giả Bùi Minh Toán để đi sâu
tìm hiểu về trợ từ.
* Phân loại
- Dựa vào chức năng ngữ nghĩa, trợ từ được chia thành các nhóm sau:
+ Nhóm 1: Những trợ từ có chức năng thể hiện sự đánh giá của người

đình ông Thuấn.
- Đặc điểm cú pháp:
+ Không sử dụng độc lập để cấu tạo phát ngôn và trả lời cho câu hỏi
+ Không đóng vai trò làm thành phần câu, có thể lược bỏ mà không ảnh
hưởng đến cấu trúc câu. VD:
(3) Thuyền lão bỏ cách thuyền khác đến nửa cây số. (Chảy đi sông ơi, 8)
Trợ từ đến đánh giá mức độ cao về lượng, có thể lược bỏ mà câu vẫn
giữ nguyên nghĩa: Thuyền lão bỏ cách thuyền khác nửa cây số.
- Đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng:

17


+ Tập trung sự chú ý, quan tâm của người nghe, người đọc
+ Thể hiện sự đánh giá của người nói đối với nội dung của phát ngôn
(đánh giá về lượng, về độ) và đối với người đối thoại (đánh giá về vị thế xã
hội, về tuổi tác, về độ thân tình…). VD:
(4) Những hơn nghìn ngày lội bùn và vác đất nên chân tôi chắc lắm,
cắm xuống như cọc. (Con gái thủy thần, 73)
Trợ từ những đánh giá lượng hơn nghìn ngày là nhiều.
(5) Từ nhà tôi ra nghĩa địa đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường
chính qua cổng làng phải hai cây số. (Tướng về hưu, 24)
Trợ từ chỉ đánh giá lượng năm trăm mét là ít.
Đánh giá của trợ từ là kiểu đánh giá ngầm ẩn, không hiển ngôn, tùy
từng văn cảnh cụ thể mà có thể dẫn tới các hiệu lực ở lời khác nhau. VD:
(6) Tớ còn mỗi một trăm nghìn.
Trợ từ mỗi đánh giá về lượng là thấp, do đó có thể dẫn tới các hiệu lực
ở lời sau: từ chối (= Tớ không có tiền cho cậu vay đâu), than phiền (= lúc nào
tớ cũng thiếu tiền, buồn quá), lo lắng (= Từ giờ đến cuối tháng tớ lại phải ăn
mì tôm rồi)…

viết”. [36, 49]
Những cách định nghĩa trên đây cho thấy quan niệm của các nhà
nghiên cứu về vấn đề tiểu từ tình thái còn nhiều điểm chưa thống nhất. Trong
luận văn này, chúng tôi dựa vào quan niệm của nhà nghiên cứu Bùi Minh
Toán để tìm hiểu lớp từ này.
* Phân loại tiểu từ tình thái:
Đinh Văn Đức (2010) trong Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt
dựa vào vị trí của các tiểu từ tình thái để chia ra làm ba loại:
- Những tiểu từ thường đứng đầu phát ngôn: à, ấy thế, thế mà, ấy, kia, đấy…
- Những tiểu từ đứng cuối phát ngôn: ư, nhỉ, nhé, thôi, vậy, mà, hử, hả,
thật…
19


- Những tiểu từ vừa có khả năng đứng đầu vừa có khả năng đứng cuối:
ấy, đấy, thôi, kia, à… [11, 246]
Vũ Thị Dụ đã tổng hợp lại kết quả của các nhà nghiên cứu và tiến hành
phân chia tiểu từ tình thái như sau:
- Theo chức năng sử dụng:
+ Tiểu từ tình thái chuyên dụng: à, ư, nhỉ, nhé, đâu, đấy…
+ Tiểu từ tình thái lâm thời: với, đã, cho, xem..
- Theo cấu tạo hình thức:
+ Tiểu từ tình thái là một từ đơn: ấy, thôi, nhỉ, nhé…
+ Tiểu từ tình thái là từ ghép: cơ chứ, cơ mà, ấy thế…
- Theo vị trí trong câu:
+ Tiểu từ tình thái đứng ở đầu câu: đấy, này, ấy, thế…
+ Tiểu từ tình thái ở cuối câu: à, ư, nhỉ, nhé…
+ Tiểu từ tình thái đứng đầu hoặc cuối câu: ấy, đấy, thế, thôi…
- Theo mục đích nói:
+ Tiểu từ tình thái cầu khiến: thôi, nhé, với, đi…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status