BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=== – & — ===
NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NÔNG THÔN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy
cô công tác tại Viện Văn học Việt Nam, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Em
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
thầy giáo- PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp-người đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo
tận tình để em hoàn thành tốt luận văn này.
Em xin gửi tới quí thầy cô trong Hội đồng bảo vệ lời cảm ơn chân
thành!
Do còn hạn chế về trình độ nên luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu
sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ phía thầy cô, đồng nghiệp
và các bạn.
Hà Nội, tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Phương
1.2.2.Nông thôn trong truyện ngắn thời kì đổi mới ........................................ 22
1.3. Nguyễn Huy Thiệp- một hiện tượng văn học thời kì đổi mới ................. 24
1.3.1.Truyện ngắn trong văn nghiệp Nguyễn Huy Thiệp ................................ 24
1.3.2. Nông thôn: đề tài cũ, quan niệm mới trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp ........................................................................................................ 29
CHƯƠNG 2:ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP: NHỮNG XUNG ĐỘT VÀ RẠN VỠ VĂN HÓA
......................................................................................................................... 32
2.1. Chất thơ và vẻ đẹp của nông thôn ............................................................ 32
2.2 Một đời sống nông thôn nhếch nhác, xuống cấp trầm trọng về văn hóa ....... 34
2.2.1. Cảnh sinh hoạt đời thường của con người lao động chân lấm tay bùn 34
2.2.2 Số phận của những con người thôn quê................................................. 41
2.2.2.1 Những người phụ nữ chân quê ............................................................ 42
2.2.2.2 Những lão nông, trai làng nơi thôn dã ............................................... 49
2.2.2.3 Những em thơ của xứ đồng ................................................................. 54
2.3. Môi trường tự nhiên bị hủy hoại .............................................................. 59
2.4. Sự biến mất của các giá trị văn hóa.......................................................... 61
2.4.1. Đặc trưng của văn hóa làng.................................................................. 61
2.4.2. Một nông thôn đang xuống cấp trầm trọng về văn hóa ....................... 65
2.4.3. Sự biến mất của các giá trị văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp................................................................................................................ 69
2.5. Sự tha hóa của con người ......................................................................... 71
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ
NÔNG THÔN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP ........ 78
3.1. Miêu tả đời sống nông thôn thông qua những xung đột .......................... 78
3.2. Bút pháp “hiện thực tàn nhẫn” kết hợp với yếu tố kì ảo(1) ....................... 82
3.3. Giọng điệu ................................................................................................ 91
3.3.1. Giọng điệu chất vấn âu lo ..................................................................... 92
quê sau lũy tre làng.
Cùng với đội ngũ nhà văn đã làm mới cho nền văn học nước nhà đặc
biệt là những sáng tác viết về nông thôn trong thời kỳ đổi mới, ta phải kể đến
Nguyễn Huy Thiệp - nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Khẳng
định tài năng của Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Đức Hiểu đã viết, Nguyễn Huy
Thiệp là người có công “tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối
thế kỷ XX này và nâng nó lên một tầm cao mới: thơ ca và triết lý, nó truyền
thống và hiện đại, phương Đông và toàn nhân loại”[29;472]. Vấn đề nông
thôn là một vấn đề quan trọng, là một hiện tượng “bất nhẫn”. Hình ảnh nông
thôn Việt Nam được thể hiện đậm nét, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong nhiều
trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Đó là một nông thôn hiện như một
thực tại phi lí, một nông thôn đầy chất thơ nhưng cũng đầy tha hóa. Ở đó, con
người bị cuốn vào sự phức tạp xô bồ của hiện thực cuộc sống và văn hóa nông
2
thôn đang bị xuống cấp trầm trọng. Đó là tất cả những vấn đề về cuộc sống xã
hội, về nhân sinh, nhân bản, về số phận con người mà Nguyễn Huy Thiệp
muốn gửi gắm đến người đọc. Trong sâu thẳm trái tim, ông nhận thức sâu sắc
rằng: “Tâm hồn Việt Nam nằm ở nông thôn, nó trú ngụ trong những góc
khuất nhất, những căn lều lẻ loi nhất. Tại đó người ta có thể thấy cải tạo nên
văn minh, lòng nhân đạo của Việt Nam “[29;500].
Có thể nói văn xuôi Việt Nam, chưa bao giờ vấn đề nông thôn lại đươc
quan tâm thể hiện một cách chân thực, sinh động như hiện nay đặc biệt là
trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Trên đây chính là những gợi ý để luận văn này hướng tới đề tài: Những
vấn đề về nông thôn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
2. Lịch sử vÊn ®Ò
Nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn trong bài viết: Tưởng tượng
Thanh), Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Đông La), Đi
tìm Nguyễn Huy Thiệp (Phạm Xuân Nguyên), hay Khảo sát mười truyện ngắn
trong Những ngọn gió Hua Tát (T. N.Philimônova), Tại sao tôi dịch truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh (Greg Lockhart)….. “Tính về số lượng,
chỉ trong hơn ba năm (1987 đến 1990), số bài viết về sáng tác Nguyễn Huy
Thiệp, chủ yếu là truyện ngắn lên đến con số hàng trăm. Điều này chứng tỏ tác
phẩm của ông có vấn đề, hoặc là có sức hút kỳ lạ, hoặc là sự riết róng của nhu
cầu đối thoại ở cây bút văn chương này đã tác động mạnh mẽ đến người đọc,
cuốn hút họ vào môi trường can dự”[39;10]. Vì theo Nguyễn Đăng Điệp “đây
là khoảng thời gian ngòi bút của ông sung mãn đến độ xuất thần”. Tuy nhiên,
vì khuôn khổ có hạn nên chúng tôi chỉ xin được điểm lại những thành tựu của
các công trình nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực với đề tài luận văn.
Trước hết ta phải kể đến những nhận định của nhà bình luận người Pháp
- Sean Tamis Rose với những nhận xét sâu sắc về sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp trong bài Trái tim Thiệp, tác giả viết: “Đọc các tên truyện của Nguyễn
Huy Thiệp (Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê ) người đọc thấy
ông gần như là một nhà văn của đất đai…Thiệp không muốn là một nhà văn
mang tính địa phương. Tác giả Hà Nội thích nông thôn vì nó mang trong mình
bản chất bi kịch của thân phận con người: người ta đã cày xới nhiều, thiên
nhiên bao giờ cũng sẽ là điểm cao nhất…nhưng người ta vẫn cứ cày xới”
[29;499].
Cùng với đó, khẳng định những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn
viết về nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh
4
trong bài Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vài cảm nghĩ lại đặc biệt chú ý đến
Những bài học nông thôn trong việc nhà văn đã sử dụng đắc địa yếu tố “tục”
“như một sức mạnh tu từ và không gì thay thế được”, từ đó tác giả đã có những
thường, những khôn ngoan chín từ những khốn nhục của cuộc đời”[29;370371].
Đánh giá tác phẩm dựa trên những đặc sắc về thủ pháp nghệ thuật trong
các sáng tác Tâm hồn mẹ, Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Thái Hòa đã
thấy được sự pha trộn giữa thế giới huyền hoặc kì ảo xen lẫn với thực tại:
“Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, cái thực luôn đi kèm cái ảo, tạo ra sự đối
lập: thực đến rợn người và ảo đến bàng hoàng kinh dị”[29;96]. Hay Mai Ngữ
khi đọc Con gái thủy thần cũng khẳng định: “mỗi dòng chữ của nhà văn đều
lấp lánh thực và hư, ảo và mộng, ước mơ và hiện thực…Ngòi bút của anh
Thiệp đúng là hiếm. Của hiếm của một tài năng đồng thời cũng là của hiếm của
một bệnh lí, sự vội vã định hình, sự bộc lộ sâu sắc cái tâm lí chủ đạo là chối bỏ
và phản kháng, lật đổ và hạ bệ mọi thần tượng”[29;427].
Nhà thơ Diệp Minh Tuyền trong bài viết Nguyễn Huy Thiệp, một tài
năng mới đã đi sâu tìm hiểu những biểu hiện về ngôn ngữ, giọng điệu trong văn
phong của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả chú ý đến vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ
thuật Nguyễn Huy Thiệp, đó là “thứ ngôn ngữ Việt Nam chính xác, trong sáng,
tinh tế, giàu hình tượng, đầy cá tính. Nó có nhiều lớp từ khác nhau: một lớp từ
rất dân dã, đồng quê mà không quê mùa; một lớp từ đầy tính thị dân của người
Hà Nội đương đại; một lớp khác nữa lại phảng phất không khí cổ xưa”[29;
401-402].
Còn T.N.Philimônova – nhà nghiên cứu văn học người Nga trong bài
viết Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu các truyền
thuyết văn học lại đánh giá cao nét đặc sắc trong việc sử dụng yếu tố dân gian
trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp: “Yếu tố dân gian chiếm một vị
trí to lớn trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp… hầu như trong mỗi truyện
ngắn của anh đều hiện diện vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân
ca, tục ngữ…”[29;59].
Tìm hiểu những nét độc đáo trong bút pháp của Nguyễn Huy Thiệp,
trong bài viết Nguyễn Huy Thiệp: Những chuyện huyền kỳ, núi, sông và nước,
tác giả Nguyễn Vy Khanh đã nói: “Thương nhớ đồng quê, Nguyễn Huy Thiệp
đối với những trang văn hấp dẫn, giản dị, mộc mạc, thấm đẫm hồn quê của
người nghệ sĩ tài hoa mà cũng lắm truân chuyên này.
Bên cạnh đó cũng có một số luận án, luận văn ít nhiều đề cập đến vấn
đề này như: Luận án Tiến sĩ Văn học: Lời văn nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp
của Nguyễn Văn Đông; Luận văn Thạc sĩ: Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
7
Huy Thiệp của Nguyễn Thị Lan, Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp của Bùi Thị Đức Thiện…
Tóm lại, đã có nhiều ý kiến đánh giá về đặc sắc trong nội dung cũng
như nghệ thuật truyện ngắn của Nguy Huy Thiệp nhưng lại chưa có một công
trình nào nghiên cứu cụ thể, toàn diện về việc thể hiện những vấn đề về nông
thôn trong truyện ngắn của ông. Luận văn của chúng tôi nhằm đáp ứng nhu
cầu đó.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: Nghiên cứu vấn đề nông thôn trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp, luận văn nhằm mục đích thấy được những nét độc đáo
trong cách chiếm lĩnh đời sống và thể hiện hiện đời sống thông qua hình
tượng nghệ thuật trong hình thức truyện ngắn. Từ đó làm rõ hơn một khuynh
hướng vận động của văn học Việt Nam đương đại.
- Đối tượng: Luận văn tập trung vào việc thể hiện những vấn đề nông
thôn trong truyện ngắn viết về nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp.
- Phạm vi:
Chúng tôi tập trung vào thể loại truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
Và đặt sáng tác của ông trong mối tương quan với các sáng tác cùng chủ đề
của trào lưu văn học thời kì đổi mới.
Văn bản tác phẩm truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi khảo sát
trong cuốn: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Văn hóa
Những hình ảnh của đất nước nông nghiệp xứ nhiệt đới gió mùa là nét độc
đáo trong tâm hồn Việt Nam được thể hiện đa dạng, phong phú trong đời
sống, trong văn học từ cổ chí kim.
1.1.Văn xuôi viết về nông thôn Việt Nam trước thời kì đổi mới
1.1.1.Vài nét về văn xuôi Việt Nam viết về nông thôn thời kì trước 1945
Một nước nông nghiệp ngàn năm, với khoảng 74% dân số sinh sống ở
nông thôn như Việt Nam thì trong tâm thức mỗi chúng ta những hình ảnh về
nông thôn luôn luôn là sự ám ảnh khôn nguôi. Hình ảnh đó, dù ở đâu hay bất
cứ khi nào vẫn luôn có sức níu kéo tâm hồn người cầm bút. Nó là chất men
cho các văn nghệ sĩ làm nên những tác phẩm viết về nông thôn có sức sống
bền lâu. Những tác phẩm văn xuôi viết về nông thôn từ xưa đến nay vẫn luôn
là một phần quan trọng trong kho tàng văn học dân tộc.
Thơ ca dân gian là điệu tâm hồn của người dân đất Việt, là sự biểu hiện toàn
vẹn, sâu sắc không gian địa - văn hóa làng quê Việt Nam. Thơ ca dân gian mang
đến cho ta cảm nhận về cái đẹp trong cuộc sống, trong thiên nhiên và trong quan
hệ ứng xử. Hình ảnh nông thôn trong văn học dân gian không ít. Trong ca dao,
dân ca, tục ngữ, hò vè… nông thôn được thể hiện sinh động ở nhiều phương
diện khác nhau. Ở đó, đời sống tình cảm của nhân dân ta biểu hiện rất dồi
dào, thắm thiết và sâu sắc.
Bước sang văn học Việt Nam trung đại, hình ảnh nông thôn được thể
hiện khá đa dạng. Mười thế kỷ văn học trung đại là sự kết tinh tinh hoa của
lối văn học mang nặng tính quy phạm, ước lệ tượng trưng. Nó cũng dành
một chỗ đứng trang trọng để miêu tả những hình ảnh nông thôn. Và hơn bao
giờ hết, những hình ảnh thân thuộc của quê hương luôn là nguồn cảm hứng
không bao giờ vơi cạn của các văn sĩ. Tình cảm đó được các nhà thơ phản ánh
vào những trang thơ đẹp như những bức tranh hữu tình. Đọc những vần thơ
của những nhà thơ từ Lý -Trần đến những năm cuối thế kỷ XIX mà tiêu biểu
10
thay ở quan niệm sáng tác mới trong văn xuôi Việt Nam thời kì đầu thế kỉ.
11
Vào đầu thế kỉ XX, có nhiều vấn đề mới đặt ra cho người cầm bút. Đó
là một xã hội náo nhiệt, xô bồ mà đồng tiền tư sản, lối sống tư sản, đạo đức tư
sản đang dần dần chiếm vị trí quan trọng ở chốn thành thị. Trong khi đó ở
nông thôn bọn cường hào, quan lại, địa chủ cấu kết với nhau hà hiếp dân lành.
Cuộc sống của người dân nghèo vốn đã lam lũ, khốn khó nay lại càng điêu
đứng gấp bội. Hiện thực cuộc sống ngày càng đa dạng, phức tạp với biết bao
vấn đề mới lạ đập vào mắt nhà văn. Họ không thể làm ngơ, mà ngược lại cần
phải mô tả chân thật, sinh động cuộc sống xã hội đó. Ở đó, điều làm cho nhà
văn luôn trăn trở và hướng đến là: hướng thẳng vào người lao động nghèo
khổ. Đây chính là yếu tố làm cho chủ nghĩa nhân đạo trong văn học rực sáng
ở thời kì này.
Đề tài nông thôn trong văn xuôi thời kì này đã được các nhà văn quan
tâm nhiều hơn trước. Bởi cảm xúc thẩm mỹ có thay đổi, thế giới quan và nhân
sinh quan của người sáng tác đã khác trước. Lực lượng sáng tác tiểu biểu của
thời kì này là lớp nhà văn Hán học cấp tiến cùng với các nhà văn Tây học đầu
tiên còn rất trẻ đảm nhiệm. Chưa bao giờ người ta thấy chủ nghĩa nhân đạo
trong văn học thời kì này gắn liền với sự thức tỉnh về ý thức cá nhân của
người cầm bút, chưa bao giờ mà chủ nghĩa nhân đạo lại hướng tới người cần
lao sâu sắc như thế. Những tác giả tiêu biểu của thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết thời kì này gồm có:
Nguyễn Bá Học- một trong những nhà văn nổi tiếng đầu tiên ở Việt
Nam với những tác phẩm đã in dấu ấn đậm nét trong văn học nước nhà như:
Chuyện ông Lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư...Trong những
sáng tác của mình, ông đã đi vào phản ánh hiện thực xã hội thực dân nửa
phong kiến một cách sâu sắc. Đó là cuộc sống ở thành thị với những náo
nhất ở Việt Nam vào những năm trước 1930. Tác phẩm của ông bao quát
nhiều mảng hiện thực khác nhau ở thành thị và nông thôn Nam Bộ trong
nhưng năm sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, với nhiều hạng người thuộc
nhiều tầng lớp và giai cấp xã hội, tiêu biểu như: Con nhà nghèo, Khóc thầm,
Cha con nghĩa nặng...Trong tác phẩm của ông, mọi cái xấu xa của xã hội
đương thời đều được đưa ra ánh sáng. Ông lên án, phê phán, tố cáo gay gắt
những hành động phi đạo đức của những kẻ có quyền thế ức hiếp người dân
chốn thôn quê. Đồng thời bày tỏ niềm cảm thông chân thành trước cuộc sống
lầm than cơ cực, số phận bi thảm của nông dân nghèo.
Có thể thấy thời kì này, văn xuôi Việt Nam chưa có những kiệt tác
nhưng những tìm tòi trong việc đổi mới về nghệ thuật và nội dung (đặc biệt là
13
mảng văn xuôi viết về nông thôn Việt Nam) sẽ là cái lượng cần thiết cho tiến
trình hiện đại hóa văn học ở bước đầu và tạo nên những thành tựu rực rỡ cho
văn xuôi viết về nông thôn vào giai đoạn 1932-1945.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1932- 1945 thực sự là một cuộc “cách
mạng văn học”, "cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy
mươi thế kỷ" (chữ của Hoài Thanh). Nền văn học đến thời kì này mới thật sự
đổi mới sâu sắc và toàn diện với sự phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn và
tiểu thuyết. Quá trình phát triển văn học trong khoảng 15 năm diễn ra với hai
bộ phận: bộ phận văn học vô sản và bộ phận văn học tư sản, tiểu tư sản nằm
trong ý thức hệ tư sản. Ở đó, “Trong khu vực văn học thuộc ý thức hệ tư sản,
dòng văn học hiện thực phê phán là một dòng tiến bộ. Nhà văn sáng tác
không phải để nói đến mình và để cho mình thưởng thức. Họ cũng không bị
giam hãm trong quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Họ biết quan tâm đến đời
sống xã hội ...”[23;148]. Trong 15 năm phát triển, văn học hiện thực phê phán
đã có những đóng góp đáng kể. “Nói chung, nó đã lên án và lập hồ sơ về
thì người ta mới nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ cho những gì gọi là
khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân khốn cùng ở một nước thuộc địa”. Văn
học Việt Nam vốn có truyền thống nhân đạo. Tiếp thu truyền thống đó, nhiều
tác phẩm hiện thực phê phán chan chứa một lòng xót thương đối với những kẻ
khốn cùng. Các nhà văn hiện thực đã phản ánh được cuộc sống nghèo khổ của
người nông dân và bước đầu lí giải được vì sao họ rơi vào đói nghèo, tối tắm
như vậy. Ở tác phẩm Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là vấn đề tước
đoạt ruộng đất và đẩy người nông dân rơi vào cảnh tù tội. Đó là anh Pha nhân vật chính, một người hiền lãnh đã bị bọn địa chủ, cường hào quan lại
đẩy đến bước đường phá sản, “bước đường cùng”: nhà phải bán, ruộng phải
cầm, gánh hàng của vợ phải sang tay người khác, gia tài khánh kiệt, vợ chết,
con chết. Bản thân anh bị đánh chửi, cùm kẹp. Hay ở Tắt đèn, Ngô Tất Tố lại
lí giải vấn đề sưu thuế là nguyên nhân đẩy người nông dân vào bóng đêm cơ
cực. Tác phẩm đưa ta vào một hoàn cảnh náo động, cảng thẳng nhất ở làng
Đông Xá trong vụ thuế: cổng làng đóng chặt, việc đồng áng bị đình đốn, dân
làng bị dồn lại, bọn cường hào bắt đầu đốc thuế bằng gậy gộc, gông cùm,
người nông dân đầu óc căng thẳng hoặc chạy ngược chạy xuôi vay nợ, cầm
cố hoặc kêu khóc thảm thiết. Sau lũy tre làng, làng Đông Xá êm đềm lặng lẽ
bỗng trở thành một bãi chiến trường. Chọn vào một thời khắc bất bình
thường, Ngô Tất Tố đã nói lên được cái bình thường phổ biến nhất ở nông
thôn với mức độ tập trung nhất, điển hình nhất. Thuế má là một thứ tai họa
15
khủng khiếp của nông dân trước cách mạng. Trong mối tai họa đó, tác giả
xoáy sâu vào nạn thuế thân, thứ thuế hết sức dã man của chế độ thực dân
phong kiến. Và trong rất nhiều những nạn nhân của nó, tác giả muốn người
đọc chú ý đến Chị Dậu. Vì thuế, chồng chị bị đánh, chị phải bán con, bán chó,
suýt bị hãm hiếp....Chị Dậu cứ bị đẩy mãi vào “hết nạn nọ đến nạn kia” không
thoát được “khốn nạn cái thân đàn bà như nó, thật là khổ sở đủ đường”. Phản
thành công của quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, của những nhà văn phải
hoạt động, phải xông pha, phải lăn lộn...Thành công này là thành công của
chủ nghĩa hiện thực phê phán luôn trung thành với sự thực, dũng cảm khoét
sâu vào những mâu thuẫn xã hội, phê phán không thương xót những kẻ áp
bức, bóc lột nhân dân trên tinh thần nhân đạo thiết tha đối với những người
lao động nghèo khổ. Những tác phẩm này không chỉ sắc sảo, mới lạ, ám ảnh
bởi tính vấn đề của chúng mà những điển hình như anh Pha, chị Dậu, Chí
Phèo…đã làm lu mờ khá nhiều hình tượng nông dân khác trong văn học thời
kì này.
Như vậy, thời kì 1932-1945, văn xuôi viết về nông thôn phát triển một
cách rầm rộ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt văn đàn công khai, trở thành một hiện
tượng văn học được nhiều người quan tâm. Những sáng tác của các tác giả
văn học viết về nông thôn phản ánh nhiều khía cạnh của cuộc sống đương
thời, đi sâu vào nhiều chủ đề chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng
của mọi thời đại.
1.1.2.Vài nét về văn xuôi Việt Nam viết về nông thôn thời kì 1945-1975
Cách mạng Tháng 8 thành công, lịch sử dân tộc Việt Nam bắt đầu bước
sang một trang mới. Sức sống của cuộc cách mạng từ năm 1945 như một cơn
gió lớn thổi sáng mát trên gương mặt đất nước, trên gương mặt con người để
làm bừng dậy một sinh khí mới mẻ, vui tươi. Đời sống nông thôn Việt Nam
đã có nhiều thay đổi lớn lao. Cuộc sống cách mạng ấy đã “giải phóng dân tộc
đồng thời giải phóng cho văn học thoát khỏi những trói buộc của quan niệm
nghệ thuật cũ”[17;10] .
Từ năm 1945-1954, văn học Việt Nam có sự chuyển mình lớn lao. Các
nhà văn viết về nhiều thể tài như: ca ngợi đất nước giải phóng, ca ngợi lãnh
tụ, ca ngợi cuộc sống mới, tố cáo tội ác của thực dân Pháp, trong đó đề tài về
nông thôn vẫn được coi là điểm nhấn quan trọng trong hành trình phát triển và
hoàn thiện nền văn học nước nhà. Tuy nhiên có điều đặc biệt là văn xuôi viết
nông thôn thời kì này hòa quyện trong văn xuôi viết về kháng chiến: “Nhìn
bao quát, ranh giới giữa văn xuôi trực tiếp viết về nông thôn với văn xuôi nói
đường ra hay vào hợp tác trong thời kì đầu của phong trào hợp tác hóa nông
nghiệp, rồi tiến đến là chủ đề con người mới trong thời kì cải tiến quản lý hợp
tác xã và xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hay đó là
những tác phẩm mang âm điệu sử thi khi viết về nông thôn trong chiến tranh
chống Mỹ như: Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm ( Đào Vũ), Cái hom giỏ, Vợ
18
chồng ông lão chăn vịt (Vũ Thị Thường), Vụ mùa chưa gặt (Nguyễn Kiên),
Bão biển (Chu Văn), Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Hãy đi xa hơn nữa,
Mùa lạc (Nguyễn Khải), Cửa song (Nguyễn Minh Châu)…Bên cạnh đó, số
đông những tác phẩm văn xuôi viết về nông thôn trong văn học giải phóng
miền Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ đã để lại dấu ấn đậm sâu trong lòng
người đọc như: Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Rừng U Minh
(Trần Hiếu Minh), Hòn đất (Anh Đức)…
Tóm lại, giai đoạn 1945 đến 1975, văn xuôi viết về nông thôn đã có ít
nhiều thay đổi diện mạo, chuẩn mực để thích ứng với đặc điểm của thời đại.
Trong giai đoạn này, các nhà văn viết về nông thôn đã nói một cách thấm thía
về niềm vui trong hạnh phúc. Vẻ đẹp của con người mới toàn tâm toàn ý phục
vụ lợi ích chung của phong trào cách mạng, những ước mơ đẹp đẽ của nông
thôn mới đi vào lề lối làm ăn tập thể đã trở thành hình tượng có sức hấp dẫn.
Đó là kiểu con người đứng mũi chịu sào, kiểu người vừa suy nghĩ vừa hành
động táo bạo, nhiều khó khăn thử thách, nhưng rồi thấy rõ đường đi tới cách
mạng giản dị mà cũng chân lí biết bao! Có thể thấy, ở địa hạt văn xuôi viết về
nông thôn, các nhà văn đã phần nào phản ánh được một góc của cuộc sống
cách mạng, xã hội Viêt Nam trong 30 năm chứa đầy những điều thần kì!
1.2. Nông thôn trong truyện ngắn thời kì đổi mới
1.2.1.Một cái nhìn chung về truyện ngắn thời kì đổi mới
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ thắng lợi bằng kết thúc chiến dịch
đau khổ về thể xác và tinh thần của con người, niềm vui và sự đắng cay của
cuộc đời, sự trung thành và sự phản bội quay quắt…Truyện ngắn đã nhìn sâu
hơn vào cảnh ngộ và số phận con người…Ở một góc độ khác lại bộc lộ nhiều
triết lí nhân sinh”[38;202]. Cùng với thể tài đa dạng, phong phú, đây cũng là
thời kì văn học bắt đầu nở rộ, đa dạng về trường phái và phương pháp nghệ
thuật như: thủ pháp dòng ý thức, huyền ảo…
Từ sau năm 1986 đến nay: từ sau năm 1986, đời sống xã hội Việt Nam
có nhiều thay đổi. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã
thổi vào nền văn nghệ nước nhà một luồng gió mới “thay đổi sâu sắc tư duy
sáng tạo của người nghệ sĩ …các văn nghệ sĩ khi xóa bỏ được “nỗi sợ hãi
treo lơ lửng” đâu đó trên đầu, đã bản lĩnh hơn trong chiếm lĩnh hiện thực bằng
nghệ thuật, đa dạng hơn trong biểu hiện và tự biểu hiện con người tác giả chủ thể thẩm mỹ…trong tác phẩm”[32;229]. Thực tế đó đã khiến văn học
nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng có nhiều chuyển biến mới: Văn học
Việt Nam hiện đại đã chuyển sang một hệ hình tư duy nghệ thuật khác. Đó là
20
từ mô hình văn học sử thi hiện đại với những chuẩn mực mang tính quy phạm
của nó chuyển sang mô hình văn học phi sử thi với sự phong phú đa dạng và
xu thế phá vỡ mọi quy phạm trước đó. Truyện ngắn không nằm ngoài quy luật
ấy. Tiếp tục những thành công của mùa đầu sau giải phóng, truyện ngắn Việt
Nam từ 1986 đến nay thực sự gặt hái được nhiều thành công không chỉ ở số
lượng mà cả chất lượng. Mật độ cuộc thi từ năm 1985 đến 2000 tăng lên
nhiều. Theo thống kê “chỉ có ba cuộc thi truyện ngắn trên báo Văn nghệ, Hội
nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ quân đội đã tổ chức có
gần 700 truyện ngắn dự thi. Nếu tính cả truyện ngắn đăng trên báo, tạp chí
trong năm con số sẽ lên hàng vạn”[2;98]. Hay “cuộc thi truyện ngắn 20012002 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức có gần 2000 tác phẩm dự thi bằng
số lượng truyện ngắn bốn năm 1978-1979, 1983-1984”[8;90]. Số liệu trên cho
thấy, mỗi lần mỗi cuộc thi được tổ chức là mỗi lần ta phát hiện những tài năng