MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học và ngôn ngữ là hai phạm trù có mối liên hệ hết sức chặt
chẽ, văn học là nơi ngôn ngữ được bộc lộ và tỏa sáng còn ngôn ngữ là phương
tiện để các tác phẩm văn chương thai nghén và hình thành. Vì thế việc dựa
vào các lý thuyết ngôn ngữ để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu văn học là một
phương hướng hết sức đúng đắn và khoa học.
1.2. Là một trong hai thành phần nghĩa quan trọng của câu, nghĩa tình
thái luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm tìm hiểu chuyên sâu của giới
nghiên cứu ngôn ngữ. Đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ
về nghĩa tình thái được công bố, đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc,
đa chiều hơn về loại ý nghĩa này. Trong hệ thống từ loại tiếng Việt có một
nhóm từ có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện nghĩa tình thái, đặc biệt là
những nội dung như thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối với
vấn đề được nói tới hoặc đối với người đối thoại, đó là các tình thái từ.
Như vậy, nghiên cứu về tình thái từ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò
của lớp từ này trong việc tạo lập câu, phát ngôn, góp phần tham gia giải mã
những ý tình của người nói. Ngoài ra nó còn hết sức hữu ích đối với quá trình
giảng dạy về một số tiểu loại của tình thái từ (thán từ, tiểu từ tình thái, trợ từ)
ở bậc phổ thông.
1.3. Nguyễn Huy Thiệp là một “hiện tượng” văn học mới lạ trong làng
văn Việt Nam sau 1975. Sáng tác của ông thu hút được sự quan tâm của đông
đảo độc giả và làm tốn kém không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê
bình văn học. Không trau chuốt, bóng bảy; không triết lý, bàn luận, bức tranh
đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hiện lên một cách hỗn độn,
trần trụi qua lớp ngôn từ thô sơ, thông tục. Nhưng ẩn sau đó là những suy
ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau gọi nên cái gọi là vị tính
mà thiếu nó thì không thể có thông báo”. [Dẫn theo 13, 84].
3
Ch. Bally lại chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn
hai thành phần cơ bản tương ứng là modus (tình thái) và dictum (ngôn liệu).
Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm năng, nó
gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của ngôn ngữ. Còn modus
thì gắn với bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố như ý chí, thái độ, sự
đánh giá của người nói với điều được nói ra, xét trong các chiều kích quan hệ
với thực tế, quan hệ với người đối thoại và quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp.
[Dẫn theo 13, 86].
- Những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam:
Ở Việt Nam vấn đề tình thái cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên
cứu từ rất sớm. Có thể kể đến các công trình của Hoàng Tuệ (1984, 1988),
Hoàng Phê (1984, 1989), Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Đức Dân (1998),
Nguyễn Quang (1999), Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2003), Nguyễn Thị
Thìn (2003), Bùi Trọng Ngoãn (2004), Võ Đại Quang (2007), Nguyễn Văn
Hiệp (2008), Trần Kim Phượng (2008), Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương
(2008), Bùi Minh Toán (2012)…
Cao Xuân Hạo trong [12] đã thể hiện vô cùng rõ nét và sinh động
những vấn đề về tình thái. Ông chủ trương phân biệt tình thái trong logic học
và tình thái trong ngôn ngữ học. Theo ông, logic học vốn chỉ quan tâm nhiều
đến giá trị chân ngụy của mệnh đề cho nên cái âm giai tình thái của nó giới
hạn trong tính hiện thực (xác thực), tính tất yếu và tính khả năng với những
mức độ khác nhau của tính chất ấy và sự phối hợp giữa các tính chất ấy ;
trong khi tình thái trong ngôn ngữ thì lại khác. Các tình thái của phát ngôn
làm thành một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn đều có liên quan
- Nguyễn Khắc Chí, Một số biểu thức tình thái trong câu tiếng Việt,
Tiểu luận khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994.
5
- Phan Thị Kế, Các kiểu nghĩa trong câu: Nghĩa biểu hiện – nghĩa
tình thái trên tài liệu một số bài văn xuôi Việt Nam (trong sách Ngữ Văn
6), Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.
- Bùi Trọng Ngoãn, Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt,
Luận án tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
- Nguyễn Thị Việt, Nghĩa tình thái (nhận thức) của quán ngữ tiếng
Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005.
- Dương Thị Thúy Vinh, Các phương tiện từ ngữ biểu hiện tình thái
chủ quan trong tác phẩm của Nam Cao, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ
Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006.
- Lưu Văn Hưng, Tình thái nhận thức trong truyện ngăn Nguyễn
Minh Châu, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2009.
- Bùi Thị Thùy Linh, Biểu thức tình thái trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2011.
Những nghiên cứu về tình thái từ
Trong các giáo trình viết về Ngữ pháp tiếng Việt, ở phần từ loại, các tác
giả đều có đề cập đến tình thái từ.
- Nguyễn Kim Thản trong [33] đã đề cập đến với tên gọi Ngữ thái từ
(gồm Ngữ khí từ và thán từ).
- Từ đệm và từ cảm là cách gọi của Hữu Quỳnh. [30]
- Diệp Quang Ban phân loại “Lớp lớn thực từ gồm có danh từ, số từ,
Nguyễn Văn Hiệp trong [13] đã tập hợp lại nhiều vấn đề về tình thái và
tiểu từ tình thái. Riêng về tiểu từ tình thái tác giả đã đề cập đến các nội dung:
- Xác lập một cách miêu tả tình thái cuối câu tiếng Việt;
- Phân loại các tiểu từ tình thái theo vai trò đánh dấu kiểu câu;
7
- Các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt trong vai trò đánh dấu mục
đích phát ngôn và đánh dấu kiểu câu;
- Tầm tác động giữa các quán ngữ tình thái với các tình thái từ cuối
câu hoặc tổ hợp từ tương đương;
- Tầm tác động và tương tác giữa các tiểu từ tình thái với động từ ngôn
hành;
- Khả năng kết hợp giữa tiểu từ tình thái với các vị từ tình thái tính có ý
nghĩa cầu khiến, khuyên bảo;
- Sự kết hợp giữa các tiểu từ tình thái.
Lê Thị Hồng Vân đã vận dụng lí thuyết tình thái vào việc nghiên cứu
trợ từ nhấn mạnh theo hướng ngữ dụng học để tìm ra những nguồn gốc, đặc
điểm chức năng có tính chất khái quát của nhóm trợ từ này. [39]
Vũ Thị Dụ trên cơ sở lí thuyết của ngữ pháp chức năng và lí thuyết về
ngôn ngữ trong dụng học đã thừa nhận vai trò quan trọng của tiểu từ tình thái
và tiến hành khảo sát, so sánh, đối chiếu, phân loại tiểu từ tình thái trong các
tác phẩm của Nguyễn Công Hoan. Từ đó chỉ ra sự hoạt động, vai trò của lớp
từ này trong việc góp phần biểu đạt giá trị tác phẩm. [9]
Những nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp nói chung và truyện ngắn của ông nói
riêng, ngay từ buổi đầu xuất hiện đã luôn “nằm trong dòng xoáy của dư luận”
(Nguyễn Thái Hòa). Xung quanh hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ.
Nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
không chỉ giúp củng cố lí thuyết về nghĩa tình thái, về tình thái từ mà chúng
tôi còn mong muốn góp thêm một tiếng nói trên hành trình “Đi tìm Nguyễn
Huy Thiệp”.
9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm ra và phân tích đặc điểm của các tình thái
từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và chỉ ra vai trò của chúng đối với
việc biểu đạt nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn của ông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các tình thái từ theo ba tiêu chí: cấu tạo, vị trí và
tần số sử dụng.
- Miêu tả các trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ trên phương diện nghĩa.
- Làm rõ dấu hiệu nhận diện các tình thái từ đối với những trường hợp
đa từ loại (12 từ tiêu biểu: có, đã, đấy, đến, độc, mới, những, nào, này, thế,
thôi, trời).
- Phân tích, miêu tả tình thái từ trong việc biểu thị các hành vi ngôn
ngữ: biểu hiện, điều khiển, bộc lộ, kết ước theo quan điểm của Searle.
- Phân tích giá trị của tình thái từ trong mối quan hệ với đối tượng tham
gia giao tiếp.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình thái từ trong 46 truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết (gồm 22 trang)
- Chương 2: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ
bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa (gồm 52 trang)
- Chương 3: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ
bình diện ngữ dụng (gồm 36 trang)
Ngoài ra, luận văn còn có phần mục lục, tài liệu tham khảo
11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vị trí của tình thái từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
1.1.1. Hệ thống từ loại tiếng Việt
Hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ hết sức phong phú, đa dạng, do đó
tất yếu cần có sự phân định thành những những loại, những lớp dựa vào các
đặc trưng ngữ pháp.
Các nhà nghiên cứu thường dựa vào hai tiêu chí sau để tiến hành phân
chia từ loại :
- Ý nghĩa ngữ pháp khái quát .
- Hình thức ngữ pháp.
Tuy còn nhiều điểm khác biệt trong quan niệm song đa phần các nhà
nghiên cứu đều thống nhất phân chia từ loại tiếng Việt làm hai mảng là thực
từ và hư từ.
1.1.1.1. Thực từ
* Khái niệm:
Diệp Quang Ban cho rằng: thực từ là lớp từ có số lượng lớn nhất, có ý
nghĩa phạm trù chung khá rõ, dùng để biểu thị thực thể, quá trình hay đặc
trưng, là những đối tượng phản ánh hiện thực được nhận thức và phản ánh
trong tư duy. [1, 175]
Như vậy, thực từ là những từ có “nghĩa thực”, dùng để gọi tên các sự
Như vậy, hư từ là những từ không mang ý nghĩa thực mà có ý nghĩa
ngữ pháp, chúng không có chức năng định danh. Chúng biểu thị cách thức
phản ánh các đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng hoặc quan hệ giữa chủ
thể với đối tượng phản ánh.
* Đặc điểm:
- Về ý nghĩa khái quát: hư từ bổ sung một ý nghĩa ngữ pháp nào đó cho
thực từ. VD: Nó lại đi chơi
13
Từ lại bổ sung ý nghĩa tái diễn tương tự của hành động đi chơi
- Về khả năng kết hợp, hư từ có thể:
(1) Dùng kèm với thực từ với tư cách là công cụ dạng thức hóa các ý
nghĩa ngữ pháp liên quan tới thực từ.
VD: Nó đang học bài.
Từ đang biểu thị ý nghĩa thời gian cho hành động học
(2) Dùng kết nối các thực từ biểu thị các kiểu quan hệ ngữ nghĩa- ngữ
pháp giữa các thực từ, làm công cụ tổ chức về mặt cú pháp
VD: Tiền của tớ đấy!
Từ của biểu thị quan hệ sở hữu giữa hai đối tượng tớ và tiền.
(3) Tham gia vào các kiểu kiến trúc cú pháp, làm công cụ diễn đạt mục
đích phát ngôn. VD: Vì lười học nên nó bị điểm kém.
Cặp vì - nên nối kết hai vế câu, tạo thành kết cấu nguyên nhân - kết quả
- Về chức năng:
(1) Làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ.
VD: mọi gia đình, hãy làm, đừng đi, rất giỏi, đẹp lắm…
(2) Biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu.
VD: Bố mẹ và các em sẽ đến dự lễ tốt nghiệp của con.
(3) Dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái.
- Tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý
- Tình thái từ góp phần thể hiện mục
nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát
đích phát ngôn:
ngôn với người nghe hay với nội dung phản
+ Tình thái từ để hỏi: à, ư, hứ,
ánh; hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích
chăng…
phát ngôn.
+ Tình thái từ mệnh lệnh hoặc cầu
khiến: đi, với, nhé, mà…
- Tình thái từ biểu thị cảm xúc chủ
quan hoặc khách quan:
+ à, á, vậy, kia, mà, cơ, cơ mà…
+ ôi, ối, ái, ồ, ái chà, ôi dào, ôi chao…
- Tình thái từ dùng để gọi đáp: ơi, hỡi,
ạ, này…
2
3
Bùi Minh Toán [36, 49 - 50].
- Tình thái từ là những từ biểu lộ thái độ, tình
- Các trợ từ nhấn mạnh: cả, chính,
cảm của người nói (người viết) đối với nội
đích, đúng, chỉ, những…
dung của câu hoặc đối với người cùng tham gia
- Các tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé,
hoạt động giao tiếp (người nghe, người đọc)
mà, đâu, chăng…
- Các từ cảm thán: ôi, ối, ái, trời ơi,
hỡi ơi…
Qua việc tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu, luận văn đưa ra
một số nhận định chung về tình thái từ như sau:
- Khái niệm: tình thái từ là những từ biểu lộ tình cảm, thái độ, cách
đánh giá, nhận xét của người nói đối với nội dung sự tình được nói tới trong
phát ngôn hoặc đối với người nghe.
- Phân loại: tình thái từ gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
+ Nhóm 2: Những trợ từ đi sau thành phần cần nhấn mạnh (chiếm số
lượng nhỏ): đó, đâu, đây, đấy, ngay, qua...
* Đặc điểm:
- Vị trí: trợ từ thường đứng trước thành phần cần nhấn mạnh, một số ít
trường hợp đứng sau thành phần cần nhấn mạnh. VD:
(1) Ông biết đấy chính là điều ông vẫn hằng khao khát mong tìm. (Đất
quên, 213)
Trợ từ chính đứng trước thành phần cần nhấn mạnh điều ông vẫn hằng
khao khát mong tìm, khẳng định dứt khoát đây là điều ông khao khát mong
tìm chứ không phải điều khác.
(2) Cơ ngơi của anh ác thật. (Tướng về hưu, 25)
Trợ từ thật đứng sau thành phần được nhấn mạnh cơ ngơi của anh, thể
hiện sự đánh giá ở mức độ cao người nói (ông Chưởng) với cơ ngơi của gia
đình ông Thuấn.
17
- Đặc điểm cú pháp:
+ Không sử dụng độc lập để cấu tạo phát ngôn và trả lời cho câu hỏi
+ Không đóng vai trò làm thành phần câu, có thể lược bỏ mà không ảnh
hưởng đến cấu trúc câu. VD:
(3) Thuyền lão bỏ cách thuyền khác đến nửa cây số. (Chảy đi sông ơi, 8)
Trợ từ đến đánh giá mức độ cao về lượng, có thể lược bỏ mà câu vẫn
giữ nguyên nghĩa: Thuyền lão bỏ cách thuyền khác nửa cây số.
- Đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng:
+ Tập trung sự chú ý, quan tâm của người nghe, người đọc
+ Thể hiện sự đánh giá của người nói đối với nội dung của phát ngôn
(đánh giá về lượng, về độ) và đối với người đối thoại (đánh giá về vị thế xã
hội, về tuổi tác, về độ thân tình…). VD:
Qua đây có thể thấy trợ từ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc biểu
thị ý nghĩa tình thái cũng như ý nghĩa hàm ẩn của phát ngôn. Với việc sử
dụng trợ từ một cách hợp lý, người nói có khả năng biểu hiện nhiều hơn
những gì muốn nói, nói một cách dễ dàng hơn những điều khó nói từ đó góp
phần nâng cao hiệu quả và mục đích giao tiếp.
1.1.2.2. Tiểu từ tình thái
* Khái niệm
Nguyễn Thị Lương quan niệm: “Tiểu từ tình thái là những tiểu từ có
hiệu lực tạo tính tình thái”. [20, 5]
Bùi Minh Toán cho rằng: tiểu từ tình thái “là những từ thường làm dấu
hiệu chỉ rõ dấu hiệu mục đích nói của câu (hỏi, ra lệnh, kể, cảm thán…)
Chúng đứng ở cuối câu để biểu hiện các sắc thái nghi vấn, cầu khiến hay cảm
thán. Đồng thời chúng cũng bộc lộ thái độ, tình cảm của người nói, người
viết”. [36, 49]
Những cách định nghĩa trên đây cho thấy quan niệm của các nhà
nghiên cứu về vấn đề tiểu từ tình thái còn nhiều điểm chưa thống nhất. Trong
19
luận văn này, chúng tôi dựa vào quan niệm của nhà nghiên cứu Bùi Minh
Toán để tìm hiểu lớp từ này.
* Phân loại tiểu từ tình thái:
Đinh Văn Đức (2010) trong Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt
dựa vào vị trí của các tiểu từ tình thái để chia ra làm ba loại:
- Những tiểu từ thường đứng đầu phát ngôn: à, ấy thế, thế mà, ấy, kia,
đấy…
- Những tiểu từ đứng cuối phát ngôn: ư, nhỉ, nhé, thôi, vậy, mà, hử, hả,
thật…
- Những tiểu từ vừa có khả năng đứng đầu vừa có khả năng đứng cuối:
hử, hở, nhỉ, nhé, rồi, thôi, thay, thế… VD:
(9) Sáng mai tôi cho xe vào chuyển gỗ ra đấy. (Những người thợ xẻ, 112)
(10) Những người gần ta không phải kẻ tầm thường đâu. (Kiếm sắc, 142)
+ Các tiểu từ tình thái có cấu tạo từ hai âm tiết trở lên: ấy chứ, chứ lị,
cơ đấy, chứ sao, đấy ạ, chứ gì, kia ạ, kia mà, thế này… VD:
(11) Sao em Minh con máu me đầy người thế này? (Thương nhớ đồng
quê, 181)
(12) Cái con bé trắng trẻo, vẫn hay nói lắp chứ gì. (Sống dễ lắm, 444)
- Vị trí:
+ Các tiểu từ tình thái thường đứng đầu phát ngôn: à, này, nhỉ, thôi,
thế, ấy, à này, kìa, hẳn… VD:
(13) Kìa, cẩn thận con dao. (Không có vua, 43)
(14) Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à? (Tướng về
hưu, 26)
+ Các tiểu từ tình thái thường đứng cuối phát ngôn: ạ, à, đấy chứ, chứ
gì, chăng, đâu…VD:
(15) Không ngốc đâu. (Chăn trâu cắt cỏ, 364)
(16) Người già ai chết cũng khổ như thế này à? (Tướng về hưu, 22)
- Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng
21
+ Chức năng tạo kiểu câu:
. Có thể thêm tiểu từ tình thái thích hợp vào cuối câu trần thuật để tạo
câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán. VD:
(17) Cha tôi là Cún. (Cún, 32)
Nếu thêm tiểu từ tình thái ư vào cuối câu thì được câu nghi vấn: Cha
tôi là Cún ư?
Nếu thêm tiểu từ tình thái nhé vào cuối câu thì được câu cảm thán: Cha
tôi là Cún nhé!
(22) Bộ mỹ phẩm này tám triệu đấy.
(23) Bộ mỹ phẩm này tám triệu thôi.
Cả hai phát ngôn đều đánh giá về lượng: phát ngôn (22), người nói đánh
giá về lượng cao (thể hiện qua từ đấy) tức giá đó là đắt; phát ngôn (23) đánh
giá về lượng là thấp (thể hiện qua từ thôi) tức giá đó rẻ.
Nếu coi đây là hai luận cứ và có hai kết luận là: nên mua và không nên
mua thì phát ngôn (22) sẽ dẫn đến kết luận không nên mua, phát ngôn (23)
dẫn đến kết luận nên mua.
23
1.1.2.3. Thán từ
* Khái niệm
Theo Bùi Minh Toán, thán từ “là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp xúc
cảm của người nói. Chúng không thể dùng làm tên gọi cho xúc cảm được mà
chỉ làm dấu hiệu cho những xúc cảm mà thôi. Chúng không thể làm thành
phần cho cụm từ hay câu nhưng lại có thể tách riêng khỏi câu để làm thành
một câu riêng biệt”. [36, 50].
Lê Biên quan niệm thán từ là những từ, tổ hợp từ như: ái, ối, ôi, ồ, chà,
vâng, dạ, than ôi… [4, 173].
* Phân loại
- Các thán từ dùng để gọi đáp:
+ Thán từ thường dùng để gọi: ơi, hỡi, ới, bớ, ê…
+ Thán từ thường dùng để đáp: vâng, dạ, ừ, ơi…
- Các thán từ dùng để bộc lộ cảm xúc:
+ Vui mừng: ôi, a, trời ơi…
+ Ngạc nhiên: ô, ơ, ủa, ơ kìa…
+ Đau đớn: ái, ối, hỡi ôi, than ôi…
+ Sợ hãi: eo ôi, ối giời ơi…
dung sự tình, có chức năng thông tin mệnh đề còn tình thái là thành phần thể
hiện thái độ nhận xét của người nói, gắn với phương diện tâm lý. Hai phương
diện này gắn bó mật thiết với nhau. Từ sự phân biệt dictum và modus, Bally
định nghĩa về tình thái như sau: “Tình thái là thái độ của người nói được biểu
thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu”. [Dẫn theo 20, 10].
Fillmore cũng đồng quan điểm với Bally khi thừa nhận nội dung của
câu cũng gồm hai thành phần là mệnh đề và tình thái. Theo ông, mệnh đề là
tập hợp những mối liên hệ có tính phi thời giữa động từ và các danh từ còn
tình thái là một loại ý nghĩa liên quan đến toàn bộ của câu như là: thì, thể,
thức… [Dẫn theo 11, 233].
25