Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp - Pdf 32

1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-------*****-------

Nguyễn Mạnh hà

T duy tiểu thuyết trong truyện
ngắn
Nguyễn Huy Thiệp

luận văn thạc sĩ ngữ văn


2

Vinh 2009
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-------*****-------

Nguyễn Mạnh hà

T duy tiểu thuyết trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34

luận văn thạc sĩ ngữ văn

5. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát...........................................10
6. Cấu trúc luận văn..................................................................................10
Chơng 1. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh đổi mới
của
tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986.....................................11
1.1. Khái niệm t duy tiểu thuyết................................................................7
1.2.Nguyễn Huy Thiệp - gơng mặt nổi bật của truyện ngắn Việt Nam
sau 1986......................................................................................................8
Chơng 2. Những biểu hiện của t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp...............................................................................33
2.1. Một thế giới hiện thực trần trụi, mang đậm chất văn xuôi..............33
2.2. Rút ngắn khoảng cách trần thuật .....................................................74
2.3. Giọng điệu và ngôn ngữ ...................................................................84
2.4. Tính chất đa thanh trong tổ chức văn bản........................................89
Chơng 3. Tổ chức văn bản - một phơng diện độc đáo thể hiện t duy
tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ..........................91
3.1. Khái niệm văn bản............................................................................91
3.2. Đặc điểm tổ chức câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. .92
3.3. Những dạng thức tổ chức văn bản truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
...................................................................................................................95
3.4. Văn bản truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ phong cách. .103
kết luận.........................................................................................121
Tài liệu tham khảo.................................................................123
Phụ lục...........................................................................................137


5

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

phẩm về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ít hoặc nhiều ngời ta đã đề cập đến vấn


6
đề t duy tiểu thuyết. Bởi lẽ, t duy tiểu thuyết - một khái niệm của hệ hình
(paradigme) t duy, chỉ xuất hiện dới thời hiện đại (Milan Kundera). Nguyễn Huy
Thiệp có đợc may mắn sống dới thời điểm thời đại mới mở ra, cách viết của ông
thể hiện rõ sự thay đổi trong t duy về nghệ thuật, về cách nhìn đối với cuộc đời;
một khi t duy thay đổi thì sự mã hoá t duy đó, tức ngôn ngữ, cũng phải thay đổi
theo (ngôn ngữ là sự trực tiếp của t tởng - V.I. Lenin; ngôn ngữ là nơi ẩn chứa
nhãn quan, nơi chuyển tải mạch ngầm t tởng, thái độ của ngời sáng tạo (ý của F.
de Saussure)). Khi tìm hiểu tác phẩm, ngời tìm hiểu không có con đờng nào khác
ngoài việc thông qua lớp vỏ ngôn ngữ, do đó, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián
tiếp, ngời tìm hiểu đã đề cập đến vấn đề t duy của ngời sáng tạo. Việc tìm hiểu tơng tự đối với sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng không ngoại lệ.
Đối với việc tìm hiểu t duy tiểu thuyết, ở đây áp dụng cho trờng hợp
Nguyễn Huy Thiệp, theo chúng tôi có hai con đờng đi đến kết luận: thứ nhất, đó
là cách tìm hiểu trực tiếp t tởng nhà văn, đại khái muốn nói rằng nó muốn nói gì
vậy (Đặng Anh đào) thông qua thế giới của nó, thái độ của nó là nh thế nào; thứ
hai, tìm hiểu gián tiếp, thông qua các tín hiệu, các thủ pháp mà nó (nhà văn một từ trung tính) sử dụng (những thủ pháp đó là có sự thay đổi so với trớc đây).
Dĩ nhiên cách phân chia nh thế chỉ mang tính chất tơng đối, thậm chí, nếu sát
sao có thể cho là khập khiễng, vì khi đề cập vấn đề thứ nhất là đề cập liên quan
đến vấn đề thứ hai và ngợc lại. Tuy nhiên, để dễ hình dung và thể hiện phần nào
đó sự rạch ròi chúng tôi vẫn mạnh dạn tiến hành. Các ý kiến đánh giá về Nguyễn
Huy Thiệp, nh đã nói, ít nhiều đều đề cập đến t duy tiểu thuyết, về cơ bản đã đợc
nhà báo Phạm Xuân Nguyên tập hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. Thế
nhng, chúng tôi không đủ điều kiện để xem xét hết tất cả các ý kiến (hơn nữa
cũng rất nhiều ý kiến cục bộ chỉ tìm hiểu riêng từng tác phẩm) mà chỉ chọn lọc
một số tiêu biểu.
- Về con đờng thứ nhất:
Mở đầu là bài Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió (09/1987) của

là bình đẳng và dân chủ [134, 112].
Nguyễn Thanh Sơn trong bài Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp (1995) lại trớc sau khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn viết về thực tại, do đó ông nói:
đọc các truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng giống nh một cuộc vật lộn với
chính bản thân mình. Ông viết, ở một đoạn khác: Ông lôi tuột chúng ta xuống
từ khoảng trống lửng lơ giữa trời và đất, buộc chúng ta phải đối mặt với mình,
với một thế giới không có vua, dạy chúng ta những bài học nông thôn, bắt
buộc chúng ta phải hiểu rằng, trớc khi muốn nhìn lên bầu trời thì phải nhìn mặt
đất đã [134, 119]. Với việc khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn viết cuộc
sống trên mặt đất, ông dẫn lại lời Nguyễn Huy Thiệp căm thù sâu sắc những
kết thúc truyền thống, biến nó thành lập luận của mình hay chính xác hơn, ông
căm thù tất cả những bức màn thói đạo đức giả đã căng ra trớc mắt con ngời,
không cho họ nhìn vào sự thật () đó là sự tức giận cần thiết của ng ời cầm bút
trớc sự thiếu vắng của một nền văn hoá chiều sâu, một nền văn hoá mang nặng
cái Tâm của ngời làm văn hoá [134, 121].
- Con đờng thứ hai:
Đặng Anh Đào trong Khi ông tớng về hu xuất hiện đã viết: Cái nhìn dân
chủ hoá của ngời kể chuyện, ở đây chính là chỗ: tin rằng mình không mách nớc
cho ai, lên lớp cho ai, thậm chí, ở nhiều chỗ, đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc
[134, 23]. Mặc dù nhận xét chỉ áp dụng cho truyện Tớng về hu, nhng thực ra đó
là quan điểm thống nhất của Đặng Anh Đào đối với việc nhìn nhận sáng tác


8
Nguyễn Huy Thiệp nói chung khi mà tác giả này liên tục có những bài viết về
Nguyễn Huy Thiệp vẫn trong trờng nhìn đã áp dụng.
Tơng tự nhận xét của Đặng Anh Đào, nhận xét của Trần Đạo cũng chỉ nói
về Tớng về hu, ông tập trung ở lối hành văn: Tớng về hu - một tác phẩm có tính
nghệ thuật thế nhng soi chiếu với toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp thì ta thấy
đấy lại là cách đánh giá chung. Trần Đạo viết: Lối hành văn tạo nên một thế
giới ngổn ngang sự kiện, sự việc, một thế giới tan rã thành muôn mảnh, một thế

kiện hay đào sâu tâm lí, cũng không triết luận dài dòng mà lùi lại phía sau, lẳng


9
lặng trình bày các sự việc, lẳng lặng ném ra các câu đối thoại khiến ngời đọc
lạnh toát ngời trớc tính cách nhân vật [134, 89].
Trong bài: Có nghệ thuật Ba - rốc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
hay không?(1989), tác giả Thái Hoà trớc sau thống nhất chứng minh trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nghệ thuật Ba - rốc. Ông nêu lên bốn luận
điểm: có một bề rậm rạp và một bề sâu thẳm trong các truyện; sự vận động và
chuyển hoá của các chi tiết trong một chỉnh thể và trong tổng thể; những nghịch
lí về thiện - ác, chân - giả và đẹp - xấu và thế giới là một kịch trờng, ai sắm vai
nào sẽ đợc hởng công vai đó. Những thao tác của Nguyễn Hoà cùng những phân
tích tất yếu đã cho thấy sự nhất quán của ông trong việc khẳng định có nghệ
thuật Ba - rốc trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Một khi thừa nhận truyện
Nguyễn Huy Thiệp có nghệ thuật Ba - rốc cũng có nghĩa là thừa nhận truyện
Nguyễn Huy Thiệp mang cảm quan hậu hiện đại, bởi hậu hiện đại là sự phá vỡ
hệ thống, xé lẻ các tình tiết, sự rời rạc trong ngôn ngữ, trong giao tiếp, trong khi
nghệ thuật Ba - rốc quan niệm thế giới nh một kịch trờng, cảm hứng năng động
chuyển hoá gây cảm giác khác thờng và sự ẩn tàng một chiều sâu cần giải mã,
mà khi tác phẩm mang cảm quan hậu hiện đại có nghĩa là tác phẩm đó thể hiện
t duy không khoảng cách đối với thế giới đợc nhìn ngắm, nói rộng ra, là t duy
tiểu thuyết.
Đông La cũng bắt gặp nhiều nhà nghiên cứu khác ở chỗ khẳng định bút
pháp, lối viết mà Nguyễn Huy Thiệp lựa chọn, chỉ có điều tác giả này lại nhấn
mạnh hơn bằng hai từ ma lực: Về cái ma lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp (1999). Tác giả trớc hết nêu lên đặc điểm truyện Nguyễn Huy Thiệp đó là
truyện không có cốt truyện, là chuyện của nhiều vấn đề, cấu trúc ít cái
bóng dáng chặt chẽ, khuôn mẫu truyện ngắn cổ điển, truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp có kết cấu nh kết cấu của tiểu thuyết, nó lỏng lẻo nh chính cái lỏng

muốn hay không cũng cần phải có một sự đính chính khớc từ, đối thoại với
những câu trả lời đối diện với anh ta từ nhiều hớng và bằng cách trả lời các câu
hỏi này họ để lại trong tác phẩm chân dung tinh thần của mình [195, 27]. Đi
sâu vào phân tích truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tác giả chỉ ra nhà văn tỏ ra
nghi ngờ năng lực nhận thức hiện thực của văn chơng, nhà văn muốn ngời đọc
tránh những ngộ nhận vơng giả, nhà văn chỉ cho ngời đọc biết thân phận cô đơn
là điều không thể tránh khỏi của giới họ.
- Các bài viết theo con đờng thứ hai:
Phạm Phú Phong, trên TC Sông Hơng số 01/ 2002, viết: Giọng điệu văn
chơng Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả Phạm Phú Phong cho rằng giọng điệu văn chơng Nguyễn Huy Thiệp là giọng đa thanh. Ông chứng minh luận điểm của mình
bằng hai nội dung chính: thông qua việc tác giả sử dụng hình ảnh, thái độ, quan
niệm, ngữ cảnh và thông qua giọng điệu của nhân vật. Ông kết luận: Mỗi
truyện của anh không chỉ gây một ấn tợng duy nhất mà từ hệ thống hình tợng
đến giọng điệu văn chơng đã tạo đợc một mạch t tởng - nghệ thuật phát triển
theo cấp số nhân [145].
Cũng trên tạp chí đó, số 05/ 2003 Nguyễn Đăng Điệp - một ngời nghiên
cứu đã quá quen với thao tác đi tìm giọng điệu, đã triển khai một bài viết khá
dài, nhan đề: Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả cho rằng giọng
điệu trong văn Nguyễn Huy Thiệp là giọng đa thanh. Để đi đến kết luận đó, tác
giả xây dựng những luận điểm tiền đề: trớc hết là kết cấu chung của tác phẩm kết cấu mang sức nén của tiểu thuyết trờng thiên; tiếp đó, theo lôgic trò chơi mà


11
tác giả đa ra - Nguyễn Huy Thiệp tự thiết lập một mô hình nghệ thuật riêng,
không giống truyền thống, viết những gì cảm thấy; rồi, bằng ngôn ngữ quan
phơng tiếp cận đối tợng theo lối suồng sã.
Lê Huy Bắc, trong hội thảo Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy tổ chức năm 2005 tại trờng ĐHSP Hà Nội, có tham
luận nhan đề: bậc hiền triết - con chó xồm hay kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy
Thiệp. Thao tác mà Lê Huy Bắc triển khai trong tham luận của mình là đi tìm

một cái nhìn nhất quán vẫn cha thấy có. Với việc hiểu khái niệm (t duy tiểu
thuyết), cùng với việc lĩnh hội kết quả của những nhà nghiên cứu đi trớc, chúng
tôi mạnh dạn đi vào khai thác vấn đề.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định khái niệm t duy tiểu thuyết.
- Khảo sát, phân loại các biểu hiện của t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp trên hai nội dung chính: những biểu hiện của t duy tiểu
thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; tổ chức văn bản - một phơng diện
độc đáo thể hiện t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành đồng thời các phơng pháp:
- Phơng pháp thống kê - phân loại.
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu.
- Phơng pháp phân tích - miêu tả.
5. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
- Với đề tài T duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng
tôi chọn đối tợng nghiên cứu là t duy tiểu thuyết và t duy tiểu thuyết trong truyên
ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
- Phạm vi khảo sát của chúng tôi là những truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Anh Trúc tuyển chọn),
Nxb Văn hoá - Thông tin, 2002; bổ sung thêm 5 truyện ngắn trong tuyển tập
cùng tên do Đỗ Hồng Hạnh tuyển chọn, Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi chia làm ba chơng:
- Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết,
truyện ngắn Việt Nam sau 1986.
- Những biểu hiện của t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp.
- Tổ chức văn bản - một phơng diện độc đáo thể hiện t duy tiểu thuyết
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

thể loại tồn tại dựa trên sự khai thác con ngời cá nhân. Đặc tính này đã quy
định các phạm trù quan trọng khác nh kết cấu, cốt truyện, nhân vật, không gian,
thời gian. Đây chính là nguyên nhân khiến Henri Bénac khái quát ngắn gọn:
tiểu thuyết là câu chuyện kể trải dài trên một độ dài thời gian, cho phép tờng
thuật lại sự diễn biến của một nhận thức, khác với truyện ngắn, truyện ngắn
không trình bày tâm lí đầy đủ của các nhân vật [17, 724].
1.1.1.2. Khái niệm truyện ngắn


14
Khái niệm truyện ngắn cũng nh khái niệm tiểu thuyết là có rất nhiều định
nghĩa. Thoạt kỳ thuỷ truyện ngắn là chuyện kể ngắn về một cuộc phiêu lu đợc
kể lại lần đầu tiên cho những ngời cùng thời nghe (tin, tin thời sự trong báo chí)
[17, 611]. Truyện ngắn đợc hiểu là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ [67, 370], [7, 345],
là hình thức ngắn của tự sự [160, 240]. Nội dung của nó bao trùm hầu hết các
phơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là
ngắn. Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không
nghỉ [67, 370].
Chính vì lí do nh vậy mà truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc hoạ một
hiện tợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm
hồn con ngời [160, 241]. Câu chuyện đợc kể trong truyện ngắn thờng cũng chỉ
diễn ra trong một thời gian không gian hạn chế để nhằm nhận ra một điều gì
đó sâu sắc về cuộc đời và tình ngời [67, 371]. Và, kết cấu của nó cũng thờng
không nhiều tầng nhiều tuyến [7, 347]. Yêu cầu của việc viết đối với truyện
ngắn tối cần là phải súc tích, chi tiết cô đọng. Tôi tin rằng một truyện ngắn có
thể là cốt lõi đến độ không thừa dù chỉ là một dấu phẩy (Gi. Borges) [15, 11].
Nh vậy, đặc điểm quan trọng nhất của truyện ngắn là sự tập trung: ít sự
kiện, ít nhân vật, ít miêu tả, nhng tất cả các chi tiết đều góp phần làm cho câu
chuyện đạt tới hiệu quả mong muốn, đều duy trì sự hồi hộp chờ đợi của ngời
đọc [17, 612].

chúng ta chỉ thấy chúng khác nhau ở cách thức tổ chức tác phẩm (tức là các đặc
điểm khác đều giống nhau). Mà ngay từ cách thức tổ chức tác phẩm (giữa
truyện ngắn và tiểu thuyết) cũng đang có nguy cơ xoá nhoà ranh giới bởi lẽ quy
định của phơng thức viết (yêu cầu thời hiện đại) yêu cầu tiểu thuyết phải dồn nén
trong lúc truyện ngắn gia tăng tính đa thanh, tính mở.
Cũng ở công trình vừa nêu, các tác giả định nghĩa về truyện ngắn (ở trang
370): tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm các
phơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là
ngắn. Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không
nghỉ, định nghĩa tiểu thuyết (trang 328): tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng
phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết
có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức
xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa
dạng. Theo hai định nghĩa này thì truyện ngắn và tiểu thuyết về căn bản khác
nhau ở một bên tự sự cỡ nhỏ, một bên tự sự cỡ lớn (tự sự cỡ nhỏ, cỡ lớn chỉ
là một cách nói) theo đó sẽ khác nhau về độ dài (dung lợng). Nếu nh theo những
điều nêu trên thì truyện ngắn và tiểu thuyết xem ra khó phân biệt (Nguyên Ngọc
khi đọc (ông đã dịch ra tiếng Việt) tác phẩm của Milan Kundera, chịu ảnh hởng
t tởng của ông này, đã khẳng định truyện ngắn và tiểu thuyết không phân biệt
nhau). Phải thừa nhận một thực tế, truyện ngắn và tiểu thuyết có nhiều điểm
chung, nhng t duy trên nét lớn, chúng ta cũng có thể nhận thấy những điểm phân
biệt (theo quan niệm này (sự khác biệt) mà Thuận - tác giả trẻ đang sống tại


16
Paris (đã viết các tiểu thuyết Phố Tầu, Pari 11- 8, T mất tích) đã kịch liệt phản
đối Nguyên Ngọc bằng một loạt bài in trên website: http:// Vietnamnet.vn):
Thứ nhất, về việc phản ánh đời sống: tiểu thuyết và truyện ngắn đều phản
ánh đời sống dới góc độ đời t, nhng tiểu thuyết đi sâu phản ánh số phận cuộc đời
còn truyện ngắn thiên về một đoản khúc, một nhát cắt. Chính vì đặc điểm này

mắt nhân vật, truyện ngắn xen hình thức trữ tình ví dụ Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn
Thành Long), nó thờng phụ thuộc lớn vào trạng huống tâm lí nhất định của tác
giả (chẳng hạn khi tác giả đang say sa, chìm trong cái đẹp, cái nên thơ, truyện
ngắn đẫm chất trữ tình, hay khi tác giả muốn biến tấu một khúc đoạn đau khổ


18
nào đó tác giả đã qua, truyện ngắn giàu chất ký vv), nó có thể thoát ra khỏi
trạng huống đó và kết thúc.
Thứ t: truyện ngắn và tiểu thuyết trần thuật với khoảng cách gần. Đặc
điểm này trên thực tế không giúp phân biệt đợc truyện ngắn và tiểu thuyết. Bởi lẽ
đó là một tiêu chí về cơ bản phân biệt tiểu thuyết (và qua đó là truyện ngắn) với
sử thi. Sử thi trong quá trình miêu tả, ngời miêu tả luôn phải giữ một khoảng
cách với điều đợc miêu tả, đó là tâm thế của cháu con đối với đấng, bậc, nói theo
M. Bakhtin đó là độ lùi sử thi. Còn tiểu thuyết là cái nhìn xoi mói, có thể lật
đối tợng theo mọi bề để mô tả, có thể phỉ báng nó, có thể phân xuất trong nó
những lớp sóng nội tâm (tiểu thuyết phức điệu của Ph. Dostoievsky, chẳng hạn
Anh em nhà Cazamadop). Còn truyện ngắn dù thờng tác giả đứng bên ngoài
quan sát nhng cũng không tôn đối tợng thành những kẻ bề trên, thậm chí còn mô
tả một cách trần trụi, đó là cha kể đến những truyện ngắn mà các tác giả đã đi
vào nội tâm nhân vật để đan lồng các bè ngôn ngữ, chẳng hạn truyện ngắn Chí
Phèo của Nam Cao. Tuy nhiên tinh ý cũng có thể thấy: tiểu thuyết do chỗ u tiên
phản ánh số phận, cuộc đời nên với khoảng cách trần thuật gần nó tái hiện đợc
nội tâm nhân vật, phản ánh đợc nội tâm nhân vật; còn truyện ngắn thì điều này
không cơ bản và không nhất thiết.
Mọi sự so sánh đều khập khiễng. Những kết quả so sánh có đợc trên đây
chỉ mang tính chất tơng đối chứ cha hẳn đã là sự phân biệt rạch ròi, quy những
điểm có đợc về hệ thống thi pháp hết sức chặt chẽ (của mỗi thể loại). Có thể do
những nhập nhằng thể loại nh phân tích ở đây mà M. Bakhtin dù từng khẳng
định: tôi cho rằng có tồn tại ở mức độ cao vấn đề về thể loại nh ng cũng không

chịu dao động đến tận cùng vẫn là kẻ u t kia. Do đó có thể đa ra một phán đoán
phản ánh trực tiếp rằng: t duy sử thi và t duy tiểu thuyết có cùng cơ sở là (nguyên
lí) t duy của con ngời bắt nguồn từ hành động, trong đó, nhạy cảm và đặc thù
nhất là hành động sáng tạo khoa học. Dĩ nhiên khi chúng tôi nói t duy sử thi, ở
trờng hợp này, là nói t duy sử thi hiểu theo nghĩa hệ hình t duy, dới một thời đại
đã khai sáng. T duy sử thi có nguồn gốc từ những khám phá cơ học của khoa
học. Mầm mống của câu chuyện này bắt nguồn từ trong cội rễ của những phát
hiện của Newton - các định luật cơ học về chuyển động và tơng tác giữa các vật
thể trong không gian - để đến lúc Laplace nghiên cứu về thiên văn và kết luận:
nếu biết trớc trật tự vũ trụ tại một thời điểm nhất định sẽ có thể tiên đoán chính
xác trật tự vũ trụ tại bất cứ thời điểm nào khác [115] nguyên lí này đợc ngời ta
thừa nhận và gọi tên là nguyên lí tất định. Chính điều này đã làm cho bộ óc tham
khám phá của con ngời thêm đợc cổ suý. Ngời ta kì vọng về việc hiểu trọn vẹn
về đối tợng, có thể tách đối tợng khỏi mình để ngắm nghía và kết luận về nó. Đó
chính là nguyên nhân dẫn đến cái nhìn duy lí về sự vật - hiện tợng, về con ngời một bớc đột phá của diễn trình t duy nhân loại (trên cơ sở tạo nên bộ mặt của nửa
cuối thế kỉ XIX và nửa đầu XX với những thành quả khoa học kĩ thuật) và những
hậu hoạ khủng khiếp nó mang lại. Tác giả cuốn Cuộc phiêu lu t tởng văn học Âu
châu thế kỉ XX 1900 - 1959 đã diễn tả lại tâm lí của ngời Tây âu trớc khi họ bớc
vào cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, họ hồn nhiên cảm tởng nh đi picnic trong
sự kì thú và khám phá mãi đến khi chứng kiến sự không đùa giỡn của đạn bom


20
họ mới vỡ lẻ và hoảng loạn. Đó cũng là nguyên nhân để văn học thế giới xuất
hiện những hiện tợng nh J. P. Sartre, Albert Camus, Ph. Kafka - những nhà văn
hiện sinh đau đớn trớc thân phận con ngời. Nhng những lí thuyết cơ học lập tức
bị phản bác bởi những khám phá của ngành lợng tử mà đại diện là W.
Heisenberg. W. Heisenberg nêu lên nguyên lí về tính bất định (của thế giới lợng
tử). Nguyên lí này về sau đợc Niels Bohr ủng hộ và bảo vệ. Nguyên lí bất định
nói rằng: bạn không thể tiên đoán chính xác vị trí của một hạt cơ bản tại một

định lập tức chúng ta hiểu ngay rằng đã tách biệt chủ thể và khách thể, bên trong
và bên ngoài, xấu và tốt, nói rộng ra, đó là sự phân cực và lỡng giá, khẳng định
một chân lí đúng, chân lí độc tôn. Hẳn ai trong chúng ta cũng biết tuyên ngôn
nổi tiếng của Descartes: Tôi t duy vậy tôi tồn tại. Mà đã nói: tôi t duy tức là
tôi t duy về cái gì đó. Cái gì đó ở đây, trong quan điểm Descartes, tách khỏi
chủ thể một cách cơ giới. T duy sử thi bằng việc tách biệt các giá trị, tạo dựng
khoảng cách nh trên đã chứng tỏ rõ ràng rằng mọi sự vật có sự hoàn tất khép kín.
Đối với t duy tiểu thuyết thì ngợc lại không khẳng định sự hoàn tất khép kín, từ
đó không khẳng định sự phân cực, biệt lập các giá trị mà xem các giá trị chỉ có
tính chất tơng đối, do đó đa đến quan niệm tính đa chân lí, hay tính đa nguyên.
Bùi Văn Nam Sơn, một trí thức thành danh dới nền Tây học, trực tiếp là nền triết
học Đức, trong Tơng lai của khai sáng ở một mối quan tâm khác cũng khẳng
định: xã hội đợc khai sáng không đồng nghĩa với đại đồng, đại thuận, đại
trị, trái lại xem tranh chấp và bất đồng là hình thức bình thờng của giao tiếp xã
hội; các yêu sách về tính chính đáng (legitimationen) tối hậu, chung tất cả là
không thể có đợc [76, 83]. T duy tiểu thuyết quan niệm rằng khó có thể lờng trớc những biến động của cuộc đời, của ngoại giới (xin lu ý đây không phải là một
quan niệm bi quan mà có từ thực chứng) nhất là những biến động trong lòng ngời, điển hình cho điều đó là những biến thái đang diễn ra trong kiếp hiện sinh. 2,
Đối với t duy sử thi vì khẳng định tính hoàn tất khép kín, tức là nhìn nhận
khoảng cách giữa chủ thể và ngoại giới nên con ngời có tính đại diện. Tính đại
diện ở đây biểu hiện nh những công thức cơ giới: một ngời xem ngắm coi nh kết
quả xem ngắm của nhiều ngời (bởi lẽ sự vật đợc hoàn tất, con ngời đợc cơ cấu
hoàn tất); một ngời - đối tợng xem ngắm là sự đại diện cho nhiều ngời, cho tập
thể (vì lẽ đó mới có cái gọi là con ngời đại diện cho phẩm tính cộng đồng). Về
cách nhìn này trong văn học, ở thể loại sử thi đợc gọi là khoảng cách sử thi:
khoảng cách thời gian giữa thời đại đợc nói trong tác phẩm và thời đại phản ánh
nó vào tác phẩm (theo M. Bakhtin khoảng cách này là hàng triệu năm); khoảng
cách tâm thế, nh đã nói, đó là tâm thế của cháu con đối với cha ông, đấng, bậc.
Chính vì đặc thù này (đặc thù của loại hình) mà phải chăng ngời ta mặc nhiên
thừa nhận t duy sử thi thành một khái niệm của hệ hình (kiểu t duy)? Và tiểu
thuyết cũng vậy? Đặc điểm của tiểu thuyết là phản ánh cái đang diễn ra, cái hiện

Trên cơ sở quan niệm là hệ hình t duy và đã tiến hành thao tác phân xuất,
ta hãy cùng phóng chiếu vào các tác phẩm văn chơng để cùng nhận diện các biểu
hiện của nó. Trớc hết cần khẳng định rằng khi đã là hệ hình t duy thì không cứ
riêng gì tiểu thuyết mà với hầu hết thể loại đều vận dụng t duy tiểu thuyết, chẳng
hạn thơ, kịch, truyện. Đối với thơ đó là sự lộn ngửa đối tợng ra mà nói - xin đợc
lấy riêng ở văn học Việt Nam - sự đa vào thơ những sắc thái thông tục nh tiếng
nớc đái của phụ nữ trong bồn cầu (Ngọn cỏ - Nguyễn Thị Hoàng Bắc) hoặc thơ
của nhóm Mở Miệng (Bùi Chát, Lí Đợi); trong kịch có thể thấy ở kịch Nguyễn
Huy Thiệp; ở truyện ngắn có thể thấy ở hàng loạt truyện ngắn của các tác giả
viết sau 1975: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh
1, Biểu hiện đầu tiên cần chú ý của t duy tiểu thuyết là sự trần thuật không


23
khoảng cách, nói khác đi là sự trần thuật ở điểm nhìn hiện tại, ở cái cha hoàn
thành/ 2, Giọng điệu và ngôn ngữ: nh đã nói, giọng điệu đó là giọng điệu xoi
mói, giễu cợt, có sắc điệu xót xa, là chất giọng của đời thờng của ngôn ngữ đời
thờng vốn sinh động và giàu sắc thái, không thuần khiết/ 3, biểu hiện thứ ba của
t duy tiểu thuyết trong văn chơng là sự bất định, nói rõ hơn đó là những dự cảm
của tác giả về cuộc đời (theo Milan Kundera là sự hiển minh của lỡng lự), của
cái tôi thử nghiệm (vì trên đời này có rất nhiều cái tôi) của tác giả trong hành
trình tác phẩm; có thể bắt gặp trong tác phẩm những bất trắc, những sự không
đoán lờng, những chân thật của cõi lòng kiếp hiện sinh. Với việc khẳng định tính
đa chân lí, xoá bỏ khoảng cách, khẳng định cá nhân nh đã nói trên, t duy tiểu
thuyết đã làm cho văn học mở rộng đề tài, chủ đề, tránh đợc sự nhàm chán đơn
điệu, tác phẩm trở nên phong phú - đây là một trong những hệ quả khả thi của t
duy tiểu thuyết/ 4, biểu hiện thứ t đó là sự tự do, kết cấu mở của tác phẩm: kết
cấu mở đợc hiểu là việc nhà văn tạo ra tác phẩm của mình giống nh cuộc sống
anh ta miêu tả nó cứ tự nhiên tuôn chảy, độc lập với anh ta(Koginov) [41] cái
gốc rễ của kết cấu mở là: cuộc sống đang diễn tiến; nh vậy, kết cấu mở là sự mở

của Nguyễn Minh Châu - một biểu tợng về ngời nông dân, Nguyễn Huy Thiệp
mợn đề tài dục tính kiến giải về văn hoá), sắc thái ám dụ có khi còn nhiều bình
diện nên ngời đọc khó đa ra câu hỏi cuối cùng, thậm chí còn tự buộc mình vào
cuộc đối thoại với nhà văn mà gã này đa ra một cách nửa vời, nh trêu ngơi.
Giống nh phản ứng dây chuyền, tính đa thanh của tác phẩm lại dẫn đến hệ quả
tất yếu: sự đồng sáng tạo - một khái niệm của tiếp nhận văn học. Ngời đọc, trớc
hết, nhìn trên lí luận chung, là một mắt khâu trong việc tạo thành tác phẩm văn
học: từ văn bản đến tác phẩm văn học. Nh vậy, tác phẩm văn học nếu nhìn trong
quá trình, phụ thuộc khá lớn vào sự đánh giá của ngời đọc. Khi tiếp cận tác
phẩm, với những tác phẩm đa thanh trong sự quan tâm của chúng tôi, ngời đọc
buộc lòng phải đặt mình vào cuộc đối thoại mà nhà văn tạo dựng dù muốn dù
không. Ngời đọc đa ra kiến giải về nhân vật, về cuộc đối thoại trong tác phẩm
nhng đó là kiến giải của một trong những kiến giải. Kiến giải đó, thậm chí, gây
bất ngờ cho kẻ chủ trơng (nhà văn). Vậy là, sự giàu có của tác phẩm hẳn nhiên đợc tính đến. Ngoài ra, một câu chuyện thú vị khác trong chiều diễn suy cũng xin
đợc kể: từ việc hiểu nhân vật, hiểu cuộc đối thoại, ngời đọc mang tham vọng
tìm hiểu nhà văn, tìm hiểu xem ông ta muốn nói gì. Tất nhiên lại là một công
đoạn không mấy dễ dàng, những đối cực sẽ xuất hiện. Và, vậy là anh ta lại tự đặt
mình vào trong cuộc đối thoại bất tận với nhà văn, một con ngời tồn tại thực
bằng sinh thể sinh học (điều này giúp ta hiểu vì sao nhà văn nhà thơ (dĩ nhiên họ
muốn nói gì cũng là qua tác phẩm) bị quản thúc, chẳng hạn Đặng Hoàng Hng,
Nguyễn Huy Thiệp một thời).
Trên đây là những thuyết minh của chúng tôi về t duy tiểu thuyết - một
khái niệm hiểu trên hai nghĩa trong đó bao quát là nghĩa chỉ hệ hình t duy: nó là
một kiểu t duy xuất hiện và phát triển ở thời hiện đại.
1.2. Nguyễn Huy Thiệp - gơng mặt nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau
1986
1.2.1. Bức tranh chung của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986


25

truyện ngắn nói chung. Dù đến sau nhng ông có công đẩy cách tiếp cận hiện
thực lên một tầm mới - với nghĩa hiện thực vốn có, hiện thực nh tôi thấy, đồng
thời đa vào đó một cách viết khá táo bạo và phù hợp. Nghĩa là, ông kế thừa
những ngời trớc đó chỉ có điều cách làm của ông có vẻ triệt để hơn, táo bạo hơn.
Sau Nguyễn Huy Thiệp, các tác giả văn xuôi dù ít dù nhiều cũng bị ám ảnh bởi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status