i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
PHẠM THỊ DUNG
TÌNH TRẠNG TĂNG ACID URIC HUYẾT THANH,
YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
CHẾ ĐỘ ĂN Ở NGƢỜI 30 TUỔI TRỞ LÊN TẠI
CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Dinh dƣỡng tiết chế
Mã số: 62 72 73 10
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Bạch Mai
2. PGS.TS. Phạm Ngọc Khái
HÀ NỘI – 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện, các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chƣa
từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Nghiên cứu sinh
Hà nội, ngày tháng 9 năm 2014
Tác giả luận án
Phạm Thị Dung
iv
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ...................................................................................................... i
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục ..............................................................................................................iv
Danh mục các chữ viết tắt...................................................................................vi
Danh mục các bảng .......................................................................................... vii
Danh mục các biểu đồ ........................................................................................ix
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................... 1
CHƢƠNG I .TỔNG QUAN ................................................................................ 3
1.1.
Đại cƣơng về acid uric .......................................................................... 3
1.2. Một số nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh ...................................... 4
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 4
1.2.2. Nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh ở Việt Nam ....................... 6
1.3. Các yếu tố liên quan tới tăng acid uric huyết thanh ...................................7
1.3.1. Liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học ............................................. 7
1.3.2. Yếu tố di truyền và đột biến gen....................................................... 10
1.3.3. Chế độ ăn ........................................................................................ 13
2.3. Quá trình tổ chức nghiên cứu .................................................................. 55
2.3. Quá trình tổ chức nghiên cứu .................................................................. 56
2.4. Biện pháp khống chế sai số ..................................................................... 58
2.5. Các yếu tố rủi ro trong quá trình thực hiện và cách khắc phục ................ 59
2.6. Xử lý và phân tích số liệu ....................................................................... 60
2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ........................................................... 61
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 63
3.1. Tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở ngƣời 30 tuổi trở lên vùng nông
thôn Thái Bình .............................................................................................. 63
3.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng tăng acid uric huyết thanh ............ 75
3.3. Hiệu quả can thiệp khẩu phần đến nồng độ acid uric huyết thanh ........... 85
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN ................................................................................ 97
4.1. Tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở ngƣời 30 tuổi trở lên tại cộng đồng
nông thôn Thái Bình. ..................................................................................... 97
4.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng tăng acid uric huyết thanh .......... 106
4.3. Đánh giá tác dụng của can thiệp khẩu phần đến nồng độ acid uric huyết
thanh ........................................................................................................... 119
4.4. Những ƣu điểm và tính mới của nghiên cứu ......................................... 127
4.5. Những hạn chế của nghiên cứu ............................................................. 127
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 128
KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AU
LDL-C
Low Density Lipoprotein Chlesterol:
Cholesterol tỷ trọng thấp
LTTP
Lƣơng thực, thực phẩm
NMCT
Nhồi máu cơ tim
TCBP
Thừa cân, béo phì
THA
Tăng huyết áp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
3.5. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo giới tính ............. 68
3.6. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số chỉ số nhân
trắc .................................................................................................................... 70
3.7. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo tình trạng huyết áp
của đối tƣợng nghiên cứu .................................................................................. 71
3.8. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số chỉ số lipid
máu ................................................................................................................... 72
3.9. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo chỉ số đƣờng huyết
.......................................................................................................................... 73
3.10. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo số yếu tố của hội
chứng chuyển hóa .............................................................................................. 74
3.11. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số yếu tố tiền
sử ...................................................................................................................... 74
3.12. Hệ số tƣơng quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với một số chỉ số
nhân trắc, huyết áp và hóa sinh máu .................................................................. 75
3.13. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến tiên lƣợng nồng độ acid uric huyết
thanh theo một số chỉ số tuổi, giới, nhân trắc, huyết áp ...................................... 77
3.14. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với nhóm tuổi và giới tính ................... 78
3.15. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với một số chỉ số nhân trắc ................. 79
3.16. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tình trạng huyết áp ........................ 79
3.17. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với một số chỉ số hóa sinh máu ................. 80
3.18. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tiền sử một số bệnh lý ................... 81
3.19. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với hút thuốc, sử dụng rƣợu bia .......... 82
viii
3.20. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tần xuất sử dụng một số nhóm thực
phẩm ................................................................................................................. 83
3.21. Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa tăng acid uric huyết thanh với một
3.7. Nồng độ acid uric huyết thanh trƣớc, sau can thiệp của 2 nhóm .................. 86
3.8. Mức giảm acid uric huyết thanh sau can thiệp theo nhóm tuổi .................... 87
3.9. Mức giảm acid uric huyết thanh sau can thiệp theo giới tính ....................... 89
310. Tần xuất tiêu thụ thực phẩm thƣờng xuyên theo nhóm acid uric sau can
thiệp .................................................................................................................. 89
3.11. Cơ cấu năng lƣợng khẩu phần trƣớc, sau can thiệp nhóm 30-60 tuổi ......... 95
3.12. Cơ cấu năng lƣợng khẩu phần trƣớc sau can thiệp nhóm trên 60 tuổi ........ 95
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hai thập kỷ qua, mô hình bệnh tật của Việt Nam đã có sự thay đổi
sâu sắc. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số ngƣời mắc các bệnh lý chuyển
hóa liên quan đến thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống nhƣ đái tháo đƣờng, rối
loạn chuyển hóa lipid, glucid ... ngày càng tăng và trở thành một vấn đề rất quan
trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Xu thế này đã đƣợc các
chuyên gia y tế cảnh báo “thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết, rối loạn
chuyển hóa” [46]. Gánh nặng của các bệnh mạn tính không lây nhiễm gặp chủ
yếu ở các nƣớc có thu nhập trung bình và thấp [143]. Nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nƣớc đã xác định chính sự thay đổi thói quen trong ăn uống, sinh
hoạt và thay đổi môi trƣờng sống có tác động quan trọng đến sự thay đổi mô hình
bệnh tật và nguyên nhân tử vong nhƣ hiện nay [24],[103],[125],[142].
Tăng acid uric huyết thanh là một trong những rối loạn chuyển hóa, có
liên quan chặt chẽ đến hàng loạt các bệnh mạn tính không lây nhiễm nhƣ nhồi
máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đƣờng, gút…[54],[76],[93]. Chủ đề này đã thu hút
nhiều tác giả quan tâm nhƣng các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở các thành phố
lớn và trong bệnh viện là chủ yếu [7],[15],[35]. Một số nghiên cứu tiến hành trên
các đối tƣợng đến khám sức khỏe định kỳ hoặc trên các đối tƣợng đƣợc quản lý
sức khỏe. Hiện chƣa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về dịch tễ học tăng
acid uric huyết thanh và các can thiệp dự phòng tại cộng đồng. Trong khi đó,
nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy hiệu quả của các chƣơng trình can thiệp
thanh tại cộng đồng.
3
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN
1.1.
Đại cƣơng về acid uric
Acid uric là sản phẩm chuyển hóa cuối cùng của nucleotid có nhân purin.
Sản phẩm này đƣợc hình thành từ 3 nguồn: nguồn thoái giáng các nucleotid từ
thức ăn, thoái giáng các nucleoprotein do quá trình hủy tế bào trong cơ thể hoặc
tạo ra từ sự tổng hợp nội sinh các nucleoprotein. Việc tổng hợp và chuyển hóa
purin xảy ra ở mọi tổ chức nhƣng sự tổng hợp acid uric chỉ diễn ra ở các tổ chức
có chứa enzym xanthin oxydase (thực hiện chủ yếu ở gan và ruột non). Bình
thƣờng lƣợng acid uric đƣợc tạo ra hàng ngày từ tổng hợp nội sinh khoảng
350mg và từ purin của thức ăn khoảng 300mg. Lƣợng acid uric đào thải ra khỏi
cơ thể hàng ngày cũng tƣơng đƣơng, khoảng 650 mg, chủ yếu qua thận (80%) và
một phần thải qua đƣờng tiêu hóa. Ở pH 7,4 trong huyết tƣơng, acid uric tồn tại
chủ yếu dƣới dạng monosodium urat. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở
nam giới là 50 ±29mg/l (hay 180-420 µmol/l) và ở nữ là 40 ± 20mg/l (hay 150360 µmol/l). Tăng acid uric huyết thanh đƣợc xác định khi nồng độ >420 µmol/l
ở nam và > 360 µmol/l ở nữ. Ngƣỡng xác định này dựa trên các yếu tố vật lý, hóa
học, tính đến sự hòa tan của sodium urat ở 37oC, với pH khoảng 7,4 trong huyết
tƣơng. Tăng acid uric có 2 loại nguyên phát, thứ phát và đƣợc phân biệt theo cơ
chế bệnh sinh và chẩn đoán. Vì thế tăng acid uric huyết thanh đƣợc phân loại
theo 3 nhóm tăng acid uric do tăng tổng hợp, do giảm đào thải hoặc phối hợp cả
tăng tổng hợp và giảm đào thải.
phát triển của nền kinh tế mà biểu hiện trực tiếp là sự thay đổi lối sống và chế độ
ăn. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình đã tăng lên nhanh chóng trong thời
gian gần đây. Nghiên cứu thuần tập theo dõi dữ liệu Y khoa trong 50 năm cho
thấy nếu nhƣ giai đoạn 1954 -1958, nồng độ acid uric huyết thanh trung bình là
5mg/dl ở nam và 3,9mg/dl ở nữ thì đến giai đoạn 1972-1976, Giá trị trung bình
đã tăng lên 5,7mg/dl ở nam và 4,7mg/dl ở nữ [55]. Kết quả phân tích gộp một số
nghiên cứu về tỷ lệ tăng acid uric và bệnh gút đã cho thấy New Zealand là một
trong những nƣớc có tỷ lệ mắc cao nhất, đặc biệt là trong cộng đồng ngƣời thổ
dân Maori, tỷ lệ mắc bệnh gút ở ngƣời trên 65 tuổi của tộc ngƣời này chiếm tới
5
trên 25% [145]. Mỹ cũng là một nƣớc có tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh và bệnh
gút khá cao và bệnh có xu hƣớng tăng nhanh trong hai thập kỷ qua. Nghiên cứu
Zhu cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 6,14mg/dl và
ở nữ giới là 4,87mg/dl, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh khoảng 20% dân số.
Tƣơng ứng với tỷ lệ tăng acid uric, tỷ lệ mắc bệnh gút ở Mỹ cũng chiếm tỷ lệ khá
cao 3,9% (trong đó nam giới chiếm 5,9%, nữ giới chiếm 2%) [153]. Robinson
thực hiện phân tích tổng hợp các nghiên cứu về tăng acid uric tại Úc cho thấy tỷ
lệ tăng acid uric huyết thanh và bệnh gút chiếm tỷ lệ cao so với một số nƣớc
trong khu vực có cùng điều kiện kinh tế. Xu hƣớng này hiện tại cũng đang có
chiều hƣớng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ tăng acid uric đã tăng nhanh từ năm 1959
so với năm 1980 (17% ở nam giới độ tuổi 30-40) ở quần thể dân cƣ gốc Úc.
Tƣơng ứng, tỷ lệ mắc bệnh gút cũng tăng từ 0% năm 1965 đến 9,7% ở nam và
2% ở nữ năm 2002. Tỷ lệ mắc bệnh gút ở ngƣời cao tuổi của Úc đứng hàng thứ 2
sau New Zealand là nƣớc có báo cáo tỷ lệ mắc bệnh gút cao nhất thế giới [122].
Tác giả Sari nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, tỷ lệ tăng acid uric trong cộng
đồng dân cƣ khu vực thành thị là 12,1% và tỷ lệ mắc có liên quan đến các bệnh
lý tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đƣờng và hội chứng chuyển hóa [128].
là một vấn đề thời sự có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Điều tra của Lê Thanh Vân
năm 1999 ở các đối tƣợng cán bộ quân đội, tuổi trên 40 cho thấy tỷ lệ tăng acid
uric huyết thanh là 17,96%. Nhƣng đến năm 2001 tỷ lệ này đã chiếm 22,4% [40].
Tác giả Doãn Thị Tƣờng Vi nghiên cứu tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh ở cán bộ
viên chức Hà Nội và các tỉnh lân cận đến khám sức khỏe tại bệnh viện 19/8, kết
quả cho thấy nhóm nam giới 30 -60 tuổi có tỷ lệ tăng acid uric là 6,2%, nữ là
2,5%, tỷ lệ mắc chung là 4,9% [42]. Các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng acid
uric huyết thanh trong nghiên cứu này đã đƣợc xác định là tần xuất tiêu thụ thực
phẩm giàu đạm và rƣợu bia nhiều, cân nặng và BMI cao. Những ngƣời tăng acid
uric huyết thanh có nguy cơ bị tăng huyết áp, cholesterol, triglycerid huyết thanh
cao hơn so với ngƣời bình thƣờng.
Phan Văn Hợp nghiên cứu trên đối tƣợng ngƣời cao tuổi tại 2 xã thuộc
huyện Vụ Bản Nam Định năm 2011 cho thấy, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh là
9,5%, trong đó nam giới chiếm 16,3%, nữ giới chiếm 5,5%. Tỷ lệ tăng acid uric
huyết thanh là 10,1% ở nhóm 60-90 tuổi; 9,7% ở 70-79 tuổi và 8,1% ở trên 80
7
tuổi [21]. Tác giả Bùi Đức Thắng theo dõi trên 151 đối tƣợng là ngƣời cao tuổi
đƣợc quản lý sức khỏe tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội cho biết tỷ lệ tăng acid
uric là 33,8% và có xu thế tăng dần theo tuổi, tỷ lệ mắc giữa 2 giới không có sự
khác biệt đáng kể [33]. Nghiên cứu của Lê Văn Đoàn trên các đối tƣợng sỹ quan
quân đội tuổi trung niên tại quân khu 9 cho thấy tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh
trong nhóm này là 26,2%, tỷ lệ mắc cũng có xu hƣớng tăng theo tuổi. Các yếu tố
liên quan: tuổi, chế độ ăn giàu đạm, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thừa cân,
béo phì [11].
1.3. Các yếu tố liên quan tới tăng acid uric huyết thanh
1.3.1. Liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học
Tuổi
xu hƣớng ngày càng tăng cao trong cộng đồng.
Giới tính
Bình thƣờng nồng độ acid uric huyết thanh ở nữ bao giờ cũng thấp hơn so
với nam giới cùng độ tuổi. Ngƣỡng đánh giá mức độ tăng acid uric trong máu ở
nữ là trên 360 µmol/l trong khi ngƣỡng này ở nam giới là trên 420 µmol/l. Một
điều tra trên cơ sở dữ liệu của Chƣơng trình điều tra dinh dƣỡng và sức khỏe
quốc gia của Mỹ lần thứ 3 cho biết nồng độ acid uric huyết thanh có xu hƣớng
tăng dần theo tuổi từ 5,21 mg / dL ở những ngƣời trong độ tuổi 20-29 đến 5,72
mg / dL ở những ngƣời độ tuổi từ 80 tuổi trở lên. Đặc biệt xu hƣớng này thể hiện
rõ rệt ở nhóm nữ giới trên 60 tuổi so với nhóm dƣới 60 [121]. Sau đó, nghiên cứu
của Zhu cũng tại Mỹ điều tra trên đối tƣợng ngƣời trƣởng thành lặp lại sau 2 thập
kỷ đã cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình trong quần thể là
6,14mg/dl ở nam giới và 4,87mg/dl ở nữ giới. Tuy vậy, không có sự khác biệt
nhiều về tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh giữa nam và nữ (tỷ lệ hiện mắc là 21,2
và 21,6%) [153].
Trƣớc kia, ngƣời ta cho rằng tăng acid uric huyết thanh và bệnh gút là
bệnh của nam giới với 97% số bệnh nhân gút là nam. Nhƣng hiện tại, một số
nghiên cứu mở rộng đã cho thấy nếu nhƣ nguy cơ tăng acid uric huyết thanh và
bệnh gút bắt đầu xuất hiện ở nam giới lứa tuổi 30 thì nguy cơ này xuất hiện ở nữ
lứa tuổi 50 (muộn hơn 20 năm), tƣơng ứng với thời kỳ mãn kinh của phụ nữ
9
[108]. Nếu nhƣ trƣớc tuổi 65 tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh của nam cao gấp 4
lần so với nữ thì sau tuổi 65 khoảng cách này thu hẹp lại dần. Một nghiên cứu tại
Đài Loan cho biết ở lứa tuổi trẻ và trung niên, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh có
sự khác biệt rõ ràng giữa nam và nữ nhƣng đến tuổi trên 65 thì cả 2 giới có tỷ lệ
mắc tƣơng đƣơng nhau [61].
Nghiên cứu tại Việt Nam trên nhóm đối tƣợng quản lý sức khỏe tác giả
liên quan đến tỷ lệ tăng huyết áp cao ở ngƣời Mỹ gốc Phi. Ngoài ra, nồng độ acid
uric huyết thanh dƣờng nhƣ cao hơn ở những ngƣời thổ dân, nhƣ quan sát thấy
trong nhóm ngƣời Maori ở Newzealand hay thổ dân Đài Loan cho thấy ảnh
hƣởng yếu tố di truyền đến nồng độ acid uric huyết thanh. Có thể yếu tố chủng
tộc gây tăng acid uric huyết thanh có liên quan đến một số gen quy định quá trình
chuyển hóa, thải trừ và tái hấp thu acid uric huyết thanh.
1.3.2. Yếu tố di truyền và đột biến gen
Với sự tiến bộ vƣợt bậc ở lĩnh vực công nghệ sinh học trong thời gian qua,
những hiểu biết về cơ chế vận chuyển urat đã đang làm sáng tỏ thêm các nguyên
nhân gây tăng acid uric huyết thanh có liên quan đến di truyền.Nhiều nghiên cứu
về dịch tễ học di truyền trong thời gian gần đây đã xác định rõ vai trò của một số
gen và biến thể liên quan đến tình trạng tăng acid uric huyết thanh. Một số giả
thuyết nghiên cứu trƣớc đây đã cho rằng nồng độ acid uric tăng ở con ngƣời có
liên quan đến sự đột biến gen khoảng 15 triệu năm trƣớc. Các tác giả đã giải
thích sự đột biến này bằng giả thuyết “gen tiết kiệm” khi cơ thể con ngƣời phản
ứng với tình trạng tình trạng thiếu lƣơng thực và sự ấm lên của trái đất lúc đó. Sự
đột biến này đã làm mất chức năng của enzym uricase nên nồng độ acid uric của
con ngƣời cao hơn các loài linh trƣởng [53].
Sự đột biến của các gen quy định quá trình chuyển hóa purin trong cơ thể
ngƣời sẽ làm rối loạn việc sản xuất các enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa
làm tăng acid uric huyết thanh, điển hình là một số bệnh và hội chứng sau:
- Bệnh Lesch-Nyhan là một bệnh di truyền hiếm gặp gây tăng acid uric
huyết thanh và bệnh gút do sự khiếm khuyết gen trên nhiễm sắc thể X. Bất
thƣờng gen này gây ra rối loạn hoàn toàn hay một phần hoạt động của enzyme
11
hypoxanthin-guanin-phosphoriposyl-transferase (HGPT). Bình thƣờng enzyme
này có tác dụng trong việc tái sử dụng các phosphoribosyl-pyrophosphate