So sánh 7 giống ngô lai trong vụ hè thu thu đông trên đất đỏ bazan và đất xám tại huyện krông pắc tỉnh đăk lăk - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

TRƯƠNG VĂN CAO

SO SÁNH 7 GIỐNG NGÔ LAI TRONG VỤ
HÈ THU-THU ĐÔNG TRÊN ĐẤT ĐỎ BAZAN
VÀ ĐẤT XÁM TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC,
TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

TRƯƠNG VĂN CAO

SO SÁNH 7 GIỐNG NGÔ LAI TRONG VỤ
HÈ THU-THU ĐÔNG TRÊN ĐẤT ĐỎ BAZAN
VÀ ĐẤT XÁM TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC,
TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÂM THỊ BÍCH LỆ

BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010

trong những loại cây trồng chính trong ngành sản xuất nông nghiệp của ñịa
phương. Những năm gần ñây do có sự chuyển ñổi cơ cấu cây trồng ñể phù hợp
với ñiều kiện khí hậu thời tiết của từng ñịa phương trong tỉnh, do ñó diện tích
cây công nghiệp lâu năm kém hiệu quả ñược thay thế bằng diện tích cây lương
thực ngắn ngày, trong ñó cây ngô chiếm diện tích ngày càng lớn. Hiện nay diện


2

tích trồng ngô của tỉnh Đắk Lắk khoảng 120.000 ha, là một trong những tỉnh có
diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, năng suất bình quân cũng như
sản lượng trong toàn tỉnh lại không cao, chưa phản ánh hết tiềm năng của giống
trong ñiều kiện khí hậu thời tiết, ñất ñai của vùng. Một trong những nguyên nhân
ñó là giống chưa phù hợp với từng ñiều kiện sinh thái cụ thể của từng tiểu vùng .
Người dân hầu như có rất ít sự lựa chọn ngoài các giống ñã có từ rất lâu như:
CP888, G49, C919 và một số giống khác…
Để xác ñịnh ra ñược các giống ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng
tốt có khả năng thích nghi với ñiều kiện sinh thái của huyện Krông Păc, từ ñó
làm phong phú thêm bộ giống tại ñịa phương, góp phần làm tăng năng suất cũng
như sản lượng ngô trong huyện và ñạt hiệu quả kinh tế cao, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu ñề tài: “ So sánh 7 giống ngô lai trong vụ hè thu - thu ñông trên ñất
ñỏ bazan và ñất xám tại huyện Krông Păc, tỉnh Đắk Lắk”.
2. Mục tiêu và yêu cầu của ñề tài
2.1 Mục tiêu của ñề tài
Chọn ñược giống ngô lai có năng suất cao, sinh trưởng, phát triển tốt phù
hợp gieo trồng vụ hè thu và thu ñông tại huyện Krông Păc, tỉnh Đắk Lắk.
2.2 Yêu cầu của ñề tài
- Thu thập số liệu về ñiều kiện khí hậu, ñất ñai của huyện Krông Păc, tỉnh
Đắk Lắk.
- Nghiên cứu các ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của 7 giống ngô lai trong vụ

Krông Păc, tỉnh Đắk Lắk.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn ñược trình bày trong 64 trang, không kể tài liệu tham khảo và phụ
lục, trong ñó có 30 bảng biểu và 10 biểu ñồ.
Trong quá trình thực hiện, tác giả ñã tham khảo 69 tài liệu, trong ñó có 44
tài liệu tiếng Việt, 22 tài liệu tiếng Anh và 03 trang Web từ Internet.
Toàn bộ luận văn gồm có 05 phần. Trong ñó gồm:
Mở ñầu: 03 trang.
Chương 1 : Tổng quan tài liệu: 20 trang.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 08 trang.
Chương 3: Kết quả và thảo luận: 37 trang.
Kết luận và kiến nghị: 01 trang.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những thành tựu trong nghiên cứu và phát triển ngô trên thế giới và
Việt Nam
Tình hình sản xuất cây lương thực thế giới vào cuối thế kỷ XX có một sự
kiện rất quan trọng, ñó là sự nhảy vọt của cây ngô, là một trong ba cây ngũ cốc
chính của loài người (lúa mỳ, lúa nước và ngô). Nhờ sự phát hiện và sử dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nghiên cứu, ứng dụng hiện tượng ưu thế
lai của công tác chọn tạo giống ngô, ñã cải thiện ñáng kể khả năng chống chịu
của ngô như: chịu hạn, chống ñổ, sâu bệnh hại... và ñặc biệt là có thể trồng ngô ở
mật ñộ cao.
Hiện nay, việc sử dụng các giống ngô lai trong sản xuất của các nước có
nền nông nghiệp phát triển chiếm tỷ lệ 100%, còn các nước ñang phát triển
chiếm khoảng 38%.

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Năm

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

1991

500

0,11

1999

380.000

54,9

1992

12.800

2,80

2000


140.000

25,10

2003

528.952

83,3

1996

230.000

38,30

2004

-

-

1997

300.000

45,20

2005


6

tích ngô toàn vùng, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Bắc
Giang,… với tỷ lệ ñạt tới 95 - 100%.
Qua ñiều tra, ñánh giá về tình hình kinh tế xã hội và ñiều kiện tự nhiên thì
rất nhiều vùng sinh thái của nước ta có khả năng mở rộng diện tích ngô lai như:
vùng Tây Bắc 70 - 80%, vùng Đông Bắc 60%, vùng Bắc Trung bộ 70%... Kế
hoạch ñặt ra trong thời gian tới là tỷ lệ sử dụng giống ngô lai trên toàn quốc sẽ
ñạt 90% diện tích, còn lại 10% diện tích sẽ trồng các giống ngô thụ phấn tự do ở
những vùng ñặc biệt khó khăn.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây ngô ñược bắt ñầu vào những năm
1950, nhưng mãi ñến cuối những năm 1980 và sang ñầu những năm 1990, với sự
ra ñời của 14 giống ngô thụ phấn tự do thì công tác nghiên cứu ngô mới bắt ñầu
ñược quan tâm ñặc biệt (Phạm Hà Thái, 2006) [27].
Thành công nhất trong công tác này phải kể ñến những thành tựu của Viện
Nghiên cứu ngô Quốc gia. Từ khi thành lập ñến nay, kết hợp với một số ñơn vị
nghiên cứu khác như: Viện Cây lương thực - thực phẩm, Trường Đại học Nông
nghiệp I,… Viện Nghiên cứu ngô Quốc gia ñã thu thập, bảo tồn các nguồn giống
và quần thể ngô ñịa phương, các giống ngô nhập nội; nghiên cứu và phục hồi các
giống ngô ñang ñược sử dụng tại các ñịa phương, các giống ngô thụ phấn tự do;
chọn tạo các giống ngô lai chất lượng cao như LVN10, LVN20, LVN24,… và
một số tổ hợp ngô lai có triển vọng như DP5, LVN45, HQ2004… ñang ñược thử
nghiệm ñể ñưa vào sản xuất ñại trà.
Các giống ngô lai do Việt Nam chọn tạo hiện nay hoàn toàn ñáp ứng ñược nhu
cầu của người sản xuất trong nước, bên cạnh ñó còn có khả năng xuất khẩu ra một
số nước khác trong khu vực[44]. Nhiều giống không chỉ cạnh tranh ñược với các
giống ngô của các Công ty nước ngoài mà còn vươn ra thị trường thế giới như: Lào,
Campuchia, Bangladesh, Trung Quốc… (Viện Nghiên cứu ngô, 2005) [43].
Trong 10 giống ngô có diện tích trồng lớn nhất cả nước, phần lớn ñều là các
giống lai ñơn (LVN10, LVN4, G49, CP989) và các giống lai kép (P11, B9698)

trong thế giới thực vật”. Sau ñó, ông ñã lai rất nhiều loài, giống cây trồng với nhau
và khẳng ñịnh rằng “tự phối thường làm giảm sức sống, còn giao phối thì khôi phục
lại nó” (Ngô Hữu Tình và CS, 1997) [25].
Sự phát triển, sử dụng ưu thế lai khá phức tạp và phải trải qua các giai ñoạn
như: lựa chọn vật liệu cho dòng tự phối, phát triển dòng tự phối, thử khả năng tự
phối, nghiên cứu nhân dòng tự phối và sản xuất hạt lai… Ưu thế lai không phải


8

là một kết quả bất biến khi lai giữa hai dòng tự phối, bởi vì các dòng tự phối có
thể giống nhau về mặt di truyền, giá trị dòng tự phối ñược ñánh giá trên cơ sở
mức ñộ ưu thế lai nhận ñược khi tổ hợp với một dòng khác (Slavko Borojecvic,
1990) [62].
Ưu thế lai thể hiện ở tổ hợp lai trên các tính trạng có thể chia thành các
dạng biểu hiện chính như sau:
- Ưu thế lai về hình thái: biểu hiện qua sức mạnh phát triển trong thời gian
sinh trưởng như tầm vóc của cây. Theo tài liệu của Võ Văn Thắng [29], con lai
F1 của ngô có ñộ lớn hạt tăng hơn bố mẹ 11,1%, ñường kính thân tăng 48%,
chiều cao cây tăng 30 - 50%,… Bên cạnh ñó, diện tích lá, chiều dài bông cờ, số
nhánh trên bông cờ ở các tổ hợp lai thường lớn hơn bố mẹ.
- Ưu thế lai về năng suất: ñược biểu hiện thông qua các yếu tố cấu thành
năng suất như khối lượng hạt, số hạt/bắp,… Ưu thế lai về năng suất ở các giống
lai ñơn giữa dòng có thể ñạt 193 - 263% so với năng suất bình thường của bố mẹ
(Trần Hồng Uy, 1985) [38].
Năm 1917, khi Jones ñưa ra phương pháp sản xuất hạt lai kép nhằm hạ giá
thành sản phẩm và ngay trong năm thử nghiệm ñầu tiên (1920), phương pháp
này ñã nhanh chóng ñược chấp nhận. Mặt khác, trong các loại giống cây trồng
của con người, các giống ngô lai ñơn ñầu tiên ñược thử nghiệm năm 1960 ñã
chinh phục loài người bởi năng suất cao và ñộ ñồng ñều, mặc dù giá thành hạt

ñể chỉ các loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt, con người không can thiệp
vào quá trình thụ phấn mà chúng thụ phấn tự do - thụ phấn mở (Nguyễn Thế
Hùng, 2003) [13]. Đây là một khái niệm tương ñối nhằm phân biệt với loài giống
lai. Giống ngô thụ phấn tự do ñược chia làm các loại như sau:
- Giống ñịa phương (local variety) là những giống ngô ñã tồn tại trong một
thời gian dài tại ñịa phương, có những ñặc trưng, ñặc tính khác biệt với các giống
khác và di truyền ñược cho các thế hệ sau. Giống ñịa phương có tính thích nghi cao
thông qua khả năng chống chịu sâu bệnh và ñiều kiện bất thuận của ñịa phương,
giống tuy có chất lượng sản phẩm cao nhưng năng suất thấp (Nguyễn Thế Hùng,
2003) [13]. Với các ñặc ñiểm trên, giống ñịa phương cũng ñược sử dụng làm vật
liệu ñể lai với nguồn nhập nội, nhằm tạo ra các giống lai có năng suất cao mà
vẫn giữ ñược ñặc tính tốt (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [10]. Chính vì vậy, các dòng
ngô ñịa phương là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công tác tạo giống ngô
dựa trên cơ sở ưu thế lai (Tomov N, 1990) [64].


10

- Giống tổng hợp (Synthentic variety) là thế hệ ñầu tiên của giống lai nhiều
dòng bằng thụ phấn tự do. Giống tổng hợp ñầu tiên ñược sử dụng vào sản xuất
thuộc về Hayes và Garber vào năm 1919. Sản xuất hạt giống ngô cải tiến bằng
cách tái hợp nhiều dòng tự phối có ưu ñiểm cao hơn so với lai ñơn, lai kép vì
người nông dân có thể giữ giống từ 2 - 3 vụ. Giống tổng hợp ngoài việc sử dụng
trực tiếp trong sản xuất còn ñược coi là nguồn vật liệu tốt ñể rút ra dòng và tạo
giống ngô lai (Nguyễn Thế Hùng, 2003) [13].
- Giống thụ phấn tự do cải tiến (Improved variety) gồm các giống tổng hợp
và hỗn hợp, có một số ñặc ñiểm chính như: hiệu ứng gen cộng ñược khai thác
trong chọn tạo, có nền di truyền rộng, tiềm năng năng suất khá, ñộ ñồng ñều cao,
dễ sản xuất, ñược sử dụng từ 2 - 3 ñời (Mai Xuân Triệu, 1998) [35].
- Giống hỗn hợp (Composite variety) là thế hệ tiến triển của tổ hợp các

các giống mới sau khi chọn tạo, cần phải thông qua công tác khảo sát, ñánh giá
nhằm xác ñịnh khả năng thích ứng của giống trước khi ñưa vào sản xuất ñại trà.
Theo tài liệu của Võ Văn Thắng (2005) [29], Bùi Phúc Khánh và cộng sự
(1993) ñã tiến hành khảo nghiệm các giống ngô trong vụ ñông tại Vĩnh Phúc và
ñưa ra kết luận: Nên ñưa các giống ngô lai vào sản xuất ñại trà, như giống P11
vừa có năng suất ổn ñịnh, trung ngày, vừa có phạm vi thích ứng rộng. Tiến hành
thử nghiệm sản xuất với các giống LVN6, LVN11, LVN12, VN1 cho thấy, ñể
ngô ñông có năng suất cao thì nhóm chín muộn nên trồng trước 15/9 và nhóm
trung bình nên trồng trước 20/9.
Theo kết quả khảo nghiệm vụ xuân tại Gia Lâm (Hà Nội) của Phùng Quốc
Tuấn và Nguyễn Thế Hùng (1995) [11]: Các giống ngô LVN10, LVN18,
LVN20, DK888 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín trung bình, năng suất
cao, thích hợp cho luân canh vụ xuân ñồng bằng Bắc bộ.
Tại khu vực duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, ñã tiến hành khảo
nghiệm 59 giống ngô và kết luận một số giống như: A8864, NK46, T.9, T.5,
DK171, 30P95, 30A65, SC7114 thuộc nhóm chín trung ngày có triển vọng, năng
suất cao và khả năng chống chịu khá (Kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm
giống cây trồng 2003-2004) [37].
Theo tài liệu của Nguyễn Hồng Hạnh [14], trong giai ñoạn 2001 - 2005, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ñã công nhận chính thức 25 giống ngô lai,
gồm: LVN24, LNS222, VN25-99, HQ2000, VN8960, LVN22, LVN9, B9698,


12

DK5252, CP989, NK54, NK4300, DK414, MX2, MX4, Pac.963, CPA88, NK46,
B9999, C191, DKGold… Giống VN25-29 là giống ngô lai ñơn do tác giả La Đức
Vực, Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc thuộc Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông
nghiệp Hưng Lộc lai tạo, ñã ñược công nhận và khu vực hóa ở phía Nam tháng
8/2002. Giống VN25-29 có thời gian sinh trưởng 93 - 98 ngày, năng suất trung

(Cao Đắc Điểm, 1988) [7]. Ngoài việc sử dụng làm lương thực cho người, ngô
còn là thức ăn giàu năng lượng, là thành phần quan trọng trong thức ăn hỗn hợp
cho gia súc và gia cầm.
Theo thống kê, ở các nước phát triển, 70 - 90% sản lượng ngô ñược dùng
ñể sản xuất thức ăn gia súc và hơn 50% tổng số thức ăn gia súc là các dạng khác
nhau từ ngô (FAO, 1995) [8]. Trong những năm gần ñây, ngô là một trong
những cây lương thực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho một số nước như Trung
Quốc, Thái Lan (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [10]. Bên cạnh việc cây ngô cung cấp
chất tinh là hạt ngô thì thân, lá ngô còn dùng làm thức ăn xanh và ủ chua lý
tưởng cho ñại gia súc, ñặc biệt là bò sữa (Ngô Hữu Tình, 1997) [25].
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới (2002-2006)
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(Triệu ha)

(Tấn/ha)

(Triệu tấn)

2002

138,7

42,4

602,6


694,0

Năm

(Nguồn: http://www.nue.okstate.edu) & FAOSTAT, 2004 - 2006) [70]
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 75 nước trồng ngô, bao gồm cả các nước
phát triển và các nước ñang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100.000 ha. Trong
số 25 nước sản xuất ngô hàng ñầu thế giới, có 8 nước phát triển, 17 nước ñang
phát triển (9 nước châu Phi, 5 nước châu Á và 3 nước châu Mỹ La tinh). Những
nước sản xuất ngô hàng ñầu thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Brazil, Mexico...
Có thể nói, thành tựu có ý nghĩa quyết ñịnh ñến sản lượng ngô ngày càng cao
là việc lai tạo và sử dụng giống ngô lai trên thế giới. Ngô lai ñã chứng minh là một
trong những thành tựu tạo giống cây trồng lớn nhất của loài người, ñồng thời ñóng
góp vào việc giải quyết nạn ñói ở các nước ñang phát triển vùng châu Á, châu Phi
và châu Mỹ La Tinh (Nguyễn Thế Hùng, 1995) [11].


14

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới (2003-2005)
Diện tích
(triệu ha)

Quốc
gia

2003 2004 2005
Châu Á
Mỹ

Tổng sản lượng
(triệu tấn)

Tỷ lệ
ngô lai
2003 2004 2005 2003 2004 2005 (%)

Năng suất (tấn/ha)

3,8
9,0
4,8
3,7
2,5
2,0
3,2

4,1
10,1
5,1
3,4
2,8
2,0
3,3

4,0 165,6 181,7 185,5
9,3 256,9 299,9 282,3
5,0 116,0 130,4 139,4
3,0 48,3 41,8 41,0
2,6 19,7 22,0 19,5

Mỹ
Các nước khác
Xuất khẩu
Mỹ
Các nước khác

Năm
2005/2006
696,2
282,3
413,9
702,5
232,1
470,5
82,6
56,1
26,5

2006/2007
702,2
267,6
434,6
772,8
235,6
487,2
84,7
53,0
31,7

2007/2008

nông dân trồng ngô của Trung Quốc mua hạt giống ngô lai và 81% trong tổng số
hạt giống ngô ñược sử dụng ở Đông và Nam Phi là giống ngô lai [45].
Sản lượng ngô trên thế giới trung bình hàng năm ñạt từ 696,2 - 723,3 triệu
tấn (năm 2005 - 2007), trong ñó nước Mỹ sản xuất ñược 40,62% tổng sản lượng
ngô và 59,38% do các nước khác sản xuất. Nhu cầu tiêu thụ nội ñịa của ngô trên
thế giới rất lớn, trung bình hàng năm từ 702,5 - 768,8 triệu tấn, trong ñó nước
Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngô và các nước khác tiêu thụ 66,48%. Xuất
khẩu ngô trên thế giới hàng năm ñạt từ 82,6 - 86,7 triệu tấn, trong ñó nước Mỹ
xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng ngô và các nước khác chiếm 35,59%.
Do có những ưu ñiểm nổi bật so với các loại cây trồng khác nên ngô ñược
trồng ở hầu hết các nước trên thế giới. Trong ñó, Mỹ là nước có diện tích trồng
ngô lớn nhất thế giới, nhờ năng suất cao nên tổng sản lượng luôn ñứng ñầu.
Tuy nhiên, năng suất và sản lượng ngô nếp thực sự vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng của nó. Diện tích trồng ngô trắng và ngô nếp trên thế giới là 32
triệu ha, trong ñó châu Á là 6,9 triệu ha, năng suất trung bình mới chỉ ñạt 1,7
tấn/ha. Tỷ lệ diện tích trồng giống ngô ưu thế lai, trong ñó có ngô nếp ở một số
nước trên thế giới như: Mỹ là 100%, Đông Phi 24%, còn lại là ở các quốc gia
khác [45], [57].
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của các ngành khoa học, sinh
học, di truyền học... các nhà khoa học trong nông nghiệp ñã áp dụng các biện
pháp kỹ thuật tiên tiến vào việc lai tạo ñể tạo ra những giống ngô lai có khả năng
cho năng suất cao, kháng sâu bệnh tốt, chống chịu và thích nghi tốt với nhiều
vùng sinh thái khác nhau như: LVN10 (Việt Nam); Cargill919 (Mỹ), CP-DK999
(Thái Lan), Bioseed9698 (Ấn Độ)...


16

1.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Sản xuất ngô ở Việt Nam những năm qua ñã ñạt ñược nhiều kết quả rất khả

816,0

30,8

2.511,2

2003

912,7

34,4

3.136,3

2004

991,1

34,6

3.430,9

2005

1.043,3

36,0

3.756,3


Vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng có hai mùa mưa và khô
rõ rệt. Nhìn chung các yếu tố khí hậu về nhiệt ñộ, ẩm ñộ phù hợp với sinh
trưởng phát triển của cây ngô. Tổng lượng mưa khá cao, từ 1.500 - 1.800 mm,
tuy nhiên mưa phân bố không ñều trong năm, chủ yếu là vào 6 tháng mùa mưa,
các tháng còn lại lượng mưa không ñáng kể, do vậy thời vụ trồng ngô nhờ nước
trời chỉ bố trí ñược 2 vụ là hè thu và thu ñông.
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Đắk Lắk (2005-2009)
Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

2005

126,495

4,03

510,077

2006

117,176

4,64

544,012

rãi ở hầu hết các vùng trồng ngô. Trong số diện tích ngô ñược gieo trồng ở Đắk
Lắk năm 2005 có ñến hơn 95% là giống ngô lai (Tôn Nữ Tuấn Nam, 2008) [18].
Hiện nay tại Đắk Lắk ñã sử dụng khoảng 15 giống ngô lai gồm: LVN10,


18

CP888, CP989, DK171, DK414, Bioseed, NK46, NK54, G49, A88, C1919,
C5252, HQ2000... Các giống ngô này có thời gian sinh trưởng trung bình từ 90 115 ngày. Một số giống ngắn ngày như G49, DK171, NK46 có năng suất khá
cao nên có ưu thế hơn trong việc bố trí thời vụ gieo trồng. Nếu trước ñây giống
ngô vàng Tây Nguyên (Western yellow) dài ngày chỉ bố trí ñược vụ 1 thì giờ
ñây, với các giống ngắn ngày có thể bố trí ñược cả 2 vụ/năm và ñều cho năng
suất cao. Nhiều hộ nông dân ở Đắk Lắk ñã trồng ngô 2 vụ liên tiếp, vụ sau gieo
gối vụ trước và ñã ñạt tổng năng suất cả 2 vụ là trên 10 tấn ngô hạt/ha [18].




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status