tiểu luận cao học Vai trò của quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất bản ở nước ta hiện nay - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất bản có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội nói chung,
văn hóa nói riêng. Các quan hệ xã hội về xuất bản rất đa dạng, phong phú và phức
tạp. Nó đan xen giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động sáng tạo của tư
duy với lao động sản xuất vật chất, nó xuyên suốt quá trình sản xuất - lưu thông và
tiêu dùng xuất bản phẩm. Hoạt động xuất bản là kênh thông tin quan trọng để
tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần ổn định chính
trị, phát triển văn hóa và kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của nhân
dân... Do đó, tăng cường quản lý nhà nước về xuất bản là vấn đề quan trọng luôn
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 11 năm 1946 Quốc hội
họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho
nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản: "Công dân Nước ta có quyền tự do
ngôn luận, tự do xuất bản...". Kể từ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những bổ
sung, sửa đổi các chủ trương, đường lối quản lý nhà nước đối với xuất bản nhằm
phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với xuất bản ở nước ta
hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế: Mô hình tổ chức và cơ chế chính sách cho hoạt
động xuất bản còn nhiều bất cập, hoạt động xuất bản có những khó khăn, thách
thức gay gắt, một số nhà xuất bản chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế đơn thuần, coi nhẹ
chức năng, nhiệm vụ chính trị, văn hóa; xuất hiện một số xuất bản phẩm có nội
dung không lành mạnh, không phù hợp với truyền thống văn hóa Nước ta, bị dư
luận phê phán; một bộ phận khác hoạt động kém hiệu quả, kém năng động, còn
nặng về trông chờ, bao cấp. Nạn in lậu, in trái phép chưa được ngăn chặn, xử lý kịp
thời, thị trường xuất bản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ, hệ thống phát hành
xuất bản phẩm Nhà nước không được quan tâm, củng cố đúng mức, đang có nguy
cơ bị thu hẹp, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ
-1-


IX - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ: "Công tác quản lý báo

Xét về phương diện mục đích và hiệu quả thì xuất bản hướng tới việc cảm
hoá con người, cải tạo con người, để cải tạo thiên nhiên và xã hội vì mục đích
của con người. Nó là một hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ và vì trí tuệ.
Song khi các sản phẩm của trí tuệ là sách đã “nhiễm” vào con người thì nó
không thể chỉ là dạng tinh thần, mà đến “cái ngưỡng” nhất định nó sẽ chuyển
hoá thành lực lượng chất.
Xuất bản phẩm là kết quả của quá trình tư duy và quy trình sản xuất đặc thù.
Xuất bản là một loại ngành nghề, và nó trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật
đạt lợi nhuận cao ở các nước phát triển. Hoạt động của nó là dạng hoạt động sản
xuất vật chất đặc biệt. Tính đặc biệt do đòi hỏi của sản phẩm sách quy định. Toàn

-5-


bộ quy trình sản xuất hàng hoá sách là một quá trình của lao động tư duy, lao
động trí óc.
Khi xét tới giá trị sử dụng của xuất bản phẩm, ta có thể thấy một số thuộc
tính sau:
Trong tiêu dùng giá trị của xuất bản phẩm không những không mất đi mà
còn được nhân lên. Người đọc sách không chỉ thoả mãn tức thời, như uống nước
khi khát, mà cái giá trị nội dung tiếp nhận được còn tích lũy lâu dài trong nhận
thức. Đọc một cuốn sách hay có khi nhớ cả đời. Người đọc sách còn truyền cho
người khác qua việc kể lại nội dung. Một cuốn sách đâu chỉ một người đọc, mà
được truyền tay nhau để đọc... Đặc biệt khi ở trong thư viện thì vòng luân chuyển
của sách lại càng cao. Trong khi một ấm trà chỉ có một số ít người uống, và khi
uống xong là hết.
1.2. Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lí nhà nước
Trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát
triển đều phải nhờ vào sự hỗ trợ của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi
rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và chịu một sự quản lí nào đó.

thực hiện để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước.
Với quan niệm trên, quản lí nhà nước lá một dạng quản lí đặc biệt thể hiện ở
các đặc trưng sau:
Thứ nhất, quản lí nhà nước mang tính chất quyền lực nhà nước. Quản lí nhà
nước được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước
mang tính mệnh lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp thuận nghiêm chỉnh, mọi
người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các
quyết định quản lí.
Thứ hai, quản lí nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu. Tổ
chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa con người, giữa các tập
-7-


thể để thực hiện một quá trình quản lí xã hội. Tổ chức được hình thành do nhu cầu
quản lí, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả. Trong quản lí nhà nước,
chức năng tổ chức là quan trọng, vì không có tổ chức thì không quản lí được.
Nhà nước phải tổ chức hợp lí để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng
góp đối với xã hội.
Thứ ba, quản lí nhá nước mang tính khoa học kế hoạch. Hoạt động quản lí
nhà nước là hoạt động mang tính chủ quan của con người, nhưng dựa trên những
yêu cầu khách quan. Vì vậy, quản lí nhà nước phải mang tính khoa học, chủ động,
sáng tạo trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức
mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống con người trên địa
bàn mình theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ. Trong quản lí nhà nước được quyền năng động, sáng tạo để tổ chức
thực hiện pháp luật, nhưng không trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật của nhà nước, quản lí nhà nước cũng cần phải có mục tiêu chiến lược, có
chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan quản lí
nhà nước phải có kế hoạch dài hạn, trung hạn và hang năm. Có chỉ tiêu định hướng

nghiên cứu, sáng tác, bình đẳng trong công bố và phổ biến tác phẩm, pháp luật trở
thành phương tiện để các tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Nhà nước quản lí hoạt động của tư duy sáng tạo trong xuất bản bằng pháp
luật, là khuyến khích tài năng sáng tạo và đề cao các tác phẩm có giá trị về khoa
học, về nghệ thuật. Chính từ cơ chế thị trường được pháp luật thừa nhận, là nơi
đánh giá công minh các tác phẩm. Ở đó, công chúng với tư cách là người tiêu dung
sẽ là thước đo về năng lực sáng tạo của tác giả qua tác phẩm.
Thứ hai, quản lí nhà nước về xuất bản là bảo tồn, phát triển nền văn hóa
dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học –
công nghệ của nhân loại.

-9-


Văn minh của loài người được nhân loại đánh giá ở các nền văn hóa có bản
sắc, ở các cuộc cách mạng đã diễn ra trong lịch sử. Mỗi dân tộc có cội nguồn, có
truyền thống riêng, được phản chiếu lên tấm gương văn hóa. Nó là gia sản quá khứ,
tạo nên dòng chảy cho hiện tại và tương lai dân tộc. Đảng và Nhà nước ta coi văn
hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy,
việc bảo tồn, kề thừa phát triển những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc là quốc
sách, được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, và 1992.
Nhà nước khuyến khích bồi dưỡng tài năng nghiên cứu, sáng tạo ra các giá
trị tinh thần mới, làm giàu vốn văn hóa dân tộc. Đồng thời trao vào tay họ các
quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc trong hoạt động văn hóa nói chung, xuất
bản nói riêng. Và cũng vì vậy, quản lí nhà nước về xuất bản đã đưa ra các chế tài
nghiêm khắc đối với những hành vi truyền bá xuất bản phẩm có nội dung trái với
thuần phong mĩ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo
vệ bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhu cầu giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại
là nhu cầu của bản than nên văn hóa dân tộc. Mặt khác, trong thời đại bùng nổ

hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong quản lí nhà nước đối với bất kì lĩnh vực
nào. Quản lí nhà nước bằng pháp luật về xuất bản triển khai thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng trong quản lí nhà nước về xuất bản.
Tương ứng với những thời kì phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của
đất nước, Đảng ta có những chủ trương, đường lối trong quản lí nhà nước đối với
hoạt động xuát bản. Sauk hi những chủ trương đường lối ra đời, các văn bản pháp
luật của Nhà nước sẽ thể chế hóa và ghi nhận các chủ trương, đường lối đó vào
trong các chế định, các quy phạm pháp luật. Khi các chủ trương, đường lối của
Đảng đã thể chế hóa vào pháp luật, một mặt, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
tổ chức thực hiện chúng trong thực tế bằng các hoạt động chuyên môn. Mặt khác,
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quy định của pháp luật đó thong
- 11 -


qua các hoạt động thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi
phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản. Như vậy, các chủ trương, đường lối của
Đảng trước hết được cụ thể hóa, ghi nhận vào pháp luật rồi được thực hiện trong
thực tế, đồng thời được bảo về bằng các hoạt động xử lí hành vi vi phạm pháp luật,
những quy định pháp luật đã cụ thể hóa, những chủ trương, đường lối đó. Khi chủ
trương, đường lối của Đảng thay đổi, thì hoạt động quản lí nhà nước bằng pháp
luật lại thay đổi từ khâu sửa đổi, bổ sung các văn bản, quy phạm pháp luật có liên
quan, sau đó các hoạt động quản lí nhà nước khác mới tiếp tục thay đổi theo.
Thứ hai, quản lí nhà nước về xuất bản giúp tạo lập môi trường tự do sáng
tạo, bình đẳng cho các chủ thể trong hoạt động xuất bản.
Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động sáng tạo
ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thì nhu cầu về tự do sáng tạo, bình
đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan. Tuy
nhiên, tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội, vì lợi ích cộng
đồng, không thể có tự do vượt quá giới hạn cho phép. Giới hạn cho phép này được
nhà nước thể hiện thông qua pháp luật. Pháp luật quy định những gì được phép làm

nước về xuất bản là phải hạn chế đến mức tối đa các hoạt động xuất bản chạy theo
lợi nhuận kinh tế đơn thuần, đặc biệt phải ngăn chặn xu hướng thương mại hóa
hoạt động xuất bản.
Thứ năm, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá
trình phát triển đất nước.
Hoạt động xuất bản là lĩnh vực rất nhạy cảm về mặt chính trị, xã hội, là
phương tiện lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp. Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, việc đảm bảo nội dung xuất bản phẩm lành mạnh, phù hợp với pháp luật, phù
hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam là rất cần thiết.
Các sản phẩm văn hóa, xuất bản nói riêng thuộc hang hóa công cộng, được
mọi tầng lớp nhân dân tiêu dung, nó tác động trực tiếp đến ý thức, tình cảm, suy
- 13 -


nghĩ của từng người dân. Vì vậy, bằng những xuất bản phẩm của mình, hoạt động
xuất bản chuyển tải tới công chúng các ý tưởng cao cả của giai cấp, về việc xây
dựng một xã hội tương lai với bộ máy chính quyền vững mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh và thịnh vượng. Thông tin và giải đáp kịp thời các vân đề của
quốc gia và quốc tế. Như vậy, hoạt động xuất bản đã góp phần ổn định chính trị và
trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động xuất bản, Nhà nước ta đã đề
ra những chính sách cụ thể, như: Chính sách đặt hàng; trợ cước vận chuyển; mua
bản thảo những tác phẩm có giá trị… Tất cả những chính sách đó nhằm đảm bảo
cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hòa bình, ổn định.
Thứ sáu, quản lí nhà nước về xuất bản góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác
và hội nhập quốc tế.
Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế với phương châm:
Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với
nhiều nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trên thế giới. Để quá trình hợp tác, hội nhập

thuật trong soạn thảo, như: tính xác định của cách thức diễn đạt, bảo đảm rõ ràng
và dễ hiểu của ngôn ngữ; điều chỉnh đầy đủ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
tương ứng; tính cụ thể;…
Như vậy, hoạt động ban hành pháp luật xuất bản phải thể chế hóa được các
chủ trương, đường lối của Đảng, phải phù hợp với thực tiễn, phản ánh được xu thế
vận động của các quy luật khách quan, bảo đảm tính đồng bộ trong nội tại trong hệ
thống quy định của pháp luật xuất bản, tính thống nhất với cả hệ thống pháp luật
của Nhà nước; bảo đảm điều chỉnh toàn diện, đầy đủ các quan hệ cơ bản trong hoạt
động xuất bản; hệ thống các quy định phải cụ thể; ngôn ngữ diễn đạt rõ ràng, chính
xác, đồng thời hệ quy định cũng phải bảo đảm tính tương đối ổn định; các văn bản

- 15 -


pháp quy phải kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh trong lĩnh
vực xuất bản…
Trong hoạt động ban hành các văn bản pháp luật xuất bản của các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền, trước hết, phải nói đến các hoạt động ban hành các Luật,
các Nghị quyết về tổ chức và hoạt động xuất bản của Quốc hội và Ủy ban thường
vụ Quốc hội, như: Luật xuất bản 1993; Luật xuất bản 2004. Tiếp theo là việc ban
hành các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ nhằm cụ thể hóa các quy định trong các luật về tổ chức và hoạt
động xuất bản. Sau đó các Bộ, các cơ quan ngang Bộ ban hành các Thông tư, Bộ
trưởng ban hành các Quyết định, Chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ cụ thể trong
lĩnh vực xuất bản. Ngoài ra, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành
các Nghị quyết, Viện trưởng Việt kiểm sát nhân dân ban hành các quyết định để
giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực xuất bản.
Thứ hai, các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách và
các quy định của pháp luật xuất bản. Các cơ quan này bao gồm:
+ Hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định và thực hiện quyền giám sát

sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc,
đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật để thể chế hóa đường lối, chính sách
của Đảng trên các lĩnh vực xã hội trong giai đoạn mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí
ban hành sắc luật 003/SLt ngày 18/06/1957 quy định về chế độ xuất bản. Sắc luật
này đặt cơ sở pháp lí đầu tiên cho hoạt động xuất bản ở Việt Nam.
Dự án về Luật Xuất bản được xây dựng từ sau đại hội lần thứ VII, được
Quốc hội khóa IX kì họp thứ 3 thông qua ngày 07/07/1993 và Chủ tịch nước công
bố ngày 19/07/1993. Luật Xuất bản 1993 là cơ sở pháp lí bảo đảm cho sự phát triển
của hoạt động xuất bản.

- 17 -


Trước yêu cầu phát triển sự nghiệp xuất bản trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản liên quan
đến hoạt động xuất bản để điều chỉnh từng mặt hoạt động xuất bản như Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX), Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… Một số nội
dung điều chỉnh này có nhiều khác biệt so với một số điều khoản của Luật Xuất
bản. Đứng trước yêu cầu đó, Luật Xuất bản 2004 đã được Quốc hội khóa XI thông
qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2005.
Luật Xuất bản 2004 là đỉnh cao của pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, nó đã
kế thừa được những tiến bộ của Luật Xuất bản 1993, tổng kết được thực tiễn lãnh
đạo và quản lí xuất bản trong những năm đổi mới, đón nhận được những đòi hỏi
mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và nhu cầu
hòa nhập, giao lưu trong cộng đồng quốc tế.
2. Những kết quả đạt được trong hoạt động quản lí nhà nước về xuất
bản ở nước ta trong những năm gần đây
2.1. Công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
Năm 2010, Cục Xuất bản đã phối hợp với các cơ quan chức năng soạn thảo

Đàng và Nhà nước; kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội; giới thiệu những
thành tựu phát triển của đất nước sau 20 năm đổi mới; sách phục vụ cuộc vận động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; sách về biển đảo và chủ
quyền quốc gia… Nhiều xuất bản phẩm có giá trị được đầu tư xuất bản như: “Từ
điển bách khoa giới thiệu đất nước và con người Việt Nam” – NXB Từ điển bách
khoa, “Hồ Chí Minh toàn tập” – NXB Văn học, “Bộ sách ảnh về 54 dân tộc Việt
Nam” – NXB Thông tấn…
Ngoài nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cho các nhà xuất bản Trung
ương, một số Bộ, ngành, địa phương còn bố trí nguồn ngân sách đặt hàng (80 tỉ
đồng) khác như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Dân tộc và Miền núi, UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở
- 19 -


Thông tin và Truyền thông tỉnh Nghệ An, UBND tỉnh Đà Nẵng…Đặc biệt là Dự
án sưu tầm, biên soạn và xuất bản tủ sách về Thăng Long – Hà Nội được UBND
thành phố Hà Nội đầu tư 53 tỉ đồng.
2.4. Công tác khác
- Toàn ngành xuất bản đã tham gia các Triển lãm, Hội chợ sách trong nước
và quốc tế, đặc biệt đã tổ chức thành công Triển lãm – Hội chợ Sách Quốc tế - Việt
Nam lần III để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với quy mô lớn
nhất từ trước đến nay với nhiều hoạt động phong phú và chất lượng. Triển lãm –
Hội chợ sách 2010 đã thực sự là ngày hội tôn vinh văn hóa đọc và đã được bình
chọn là một trong mười sự kiện nổi bật của ngành Thông tin và Truyền thông năm
2010.
- Phối hợp với Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức thành công Giải thưởng Sách
Việt Nam lần thứ VI và mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho biên tập viên các nhà
xuất bản; Phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông
để triển khai việc bỗi dưỡng quản lí nhà nước về xuất bản cho các Sở Thông tin và
Truyền thông.

và Truyền thông thực hiện đúng quy định, phục vụ kịp thời, có hiệu quả nhiệm vụ
chính trị của địa phương.
3. Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động quản lí nhà nước về xuất bản
trong những năm gần đây
3.1. Về kế hoạch xuất bản
- Một số nhà xuất bản bổ sung kế hoạch xuất bản nhiều lần trong năm, hiện
tượng đăng kí “xếp chỗ” quá nhiều đề tài diễn ra phổ biến. Thực tế này làm cho cơ
quan quản lí nhà nước rơi vào tình trạng quá tải khi xem xét, chấp nhận kế hoạch
xuất bản, gây lãng phí về thời gian và công sức.
- Tình trạng “đội mũ” đề tài, chuyển từ đề tài sách thành dạng chuyên đề, tạp
chí in xong mới xin bổ sung kế hoạch xuất bản vẫn xảy ra nhiều.
- 21 -


- Việc xem xét và chấp nhận đăng kí kế hoạch xuất bản còn thiếu cơ sở và
điều kiện cần thiết, vì những nội dung đòi hỏi đăng kí theo quy định của Luật Xuất
bản quá sơ sài, không đủ thông tin kiểm soát đầu vào, để có những xuất bản phẩm
lành mạnh ở đầu ra.
- Nhu cầu về xuất bản nhất thời luôn phát sinh, nhưng lại bị hạn chế trong
việc cấp giấy phép, trong khi đó kế hoạch của các nhà xuất bản chỉ được bổ sung
vào tháng 3, tháng 6, tháng 9 và năm xuất bản.
- Bộ Văn hóa – Thông tin vừa là cơ quan chủ quản, vừa là cơ quan quản lí
một số nhà xuất bản. Cục Xuất bản là cơ quan tham mưu và có một số quyền cụ
thể về quản lí nhà nước do Bộ Văn hóa – Thông tin giao. Như vậy, việc xem xét,
chấp nhận đăng kí kế hoạch xuất bản của các nhà xuất bản thuộc Bộ Văn hóa –
Thông tin không thể giống như các nhà xuất bản ngoài bộ. Tình trạng Cục Xuất
bản xem xét lại, không chấp nhận quyết định của lãnh đạo Bộ, kể cả quyết định của
Thứ trưởng phụ trách ngành xuất bản trong việc phê duyệt kế hoạch đề tài của nhà
xuất bản thuộc Bộ là trái với cơ chế quản lí nhà nước.
3.2. Về lưu chiểu và kiểm tra lưu chiểu xuất bản phẩm

bươn chải, việc chạy theo thị hiếu để có thu nhập và duy trì sự hoạt động cũng như
hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước là điều không thể tránh khỏi.
4. Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
4.1. Nguyên nhân khách quan
- Tác động của các yếu tố khách quan làm cho pháp luật xuất bản chưa thể
hoàn thiện vì còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm. Pháp luật xuất bản bao giờ cũng
lạc hậu hơn các quan hệ xã hội trong lĩnh vực xuất bản, thêm vào đó là sự thay đổi
nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội nước ta làm nảy sinh nhiều vấn đề cần
giả quyết. Việc nghiên cứu, trình và thông qua dự án luật về các lĩnh vực văn hóa,
sản phẩm văn hóa tinh thần thường khó khăn, phức tạp hơn nhiều so với các lĩnh
vực và sản phẩm vật chất thuần túy, một số quy định của pháp luật chỉ dừng lại ở
- 23 -


mức định tính, chưa được lượng hóa và cụ thể hóa nên việc thực hiện gặp khó
khăn. Các văn bản về luật xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa đầy
đủ, đồng bộ nên việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lí vi phạm còn chưa kịp thời,
chưa nghiêm minh.
- Trong cơ chế thị trường, các hoạt động xuất bản cũng chịu sự tác động và
chi phối của thị trường, quy luật cung cầu, quy luật giá cả… Một số không ít các
chủ thể đã không nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động xuất bản, đã
“thương mại hóa” các hoạt động xuất bản, chạy theo thị hiếu, kinh doanh xuất bản
phẩm bất chính và tệ hại hơn đã kiếm tiền bằng cách làm băng hoại tâm hồn, đạo
đức thế hệ trẻ. Đáng trách là có một số cơ quan quản lí nhà nước cũng chỉ vì tham
lợi nhuận đã đứng ra tổ chức và bao che cho những việc làm sai trái đó.
4.2. Nguyên nhân chủ quan
- Các văn bản pháp luật xuất bản vẫn chưa được ban hành kịp thời, tình
trạng ỷ lại cho cơ quan quản lí nhà nước cấp dưới đã góp phần làm cho hệ thống
luật thiếu đồng bộ, mâu thuẫn. Trình độ, năng lực của cơ quan xây dựng văn bản
pháp luật còn hạn chế, đội ngũ cán bộ xây dựng pháp luật còn thiếu, các điều kiện

tác phẩm đạt yêu cầu về giá trị tư tưởng, khoa học và nghệ thuật. Mục đích của
xuất bản hướng tới việc cảm hóa con người, cải tạo con người, cải tạo thiên nhiên
và xã hội vì mục đích của con người.
Thứ hai, quản lí nhà nước về xuất bản phải dựa trên cơ sở quan điểm: sản
phẩm của xuất bản là những hàng hóa đặc biệt.
Là một loại sản phẩm của quá trình sản xuất vật chất, xuất bản cũng như các
sản phẩm khác, là kết quả của lao động sống và lao động quá khứ được vật hóa. Vì
vậy, xuất bản phẩm cũng có giá trị sử dụng, giá trị trao đổi giống như các sản phẩm
vật chất khác. Khi đưa vào lưu thông, nó trở thành hàng hóa. Nhưng xuất bản nói
chung và sách nói riêng là một loại hàng hóa đặc biệt, nó còn có giá trị đạo đức,
giá trị thẩm mĩ, giá trị văn hóa… Người tiêu dùng sách sẽ hài lòng khi tiếp thu các
- 25 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status