Đánh giá kết quả sản xuất và tiêu thụ thuốc thú y của công ty cổ phần thuốc thú y trung ương i - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá
luận tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực và chưa từnh đuợc sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận tốt
nghiệp này đã đuợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khoá luận này đã
đuợc chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Sinh vên

Trần duy khánh

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngành kinh tế nông nghiệp và phát
triển nông thôn, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn của mình tới:
TS.Vũ Thị Phương Thụy người đã chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất,
trực tiếp giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin được chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, phòng tài chính kế toán
của Công ty cổ phần sản xuất thuốc thú y trung ương I, nơi đã hướng dẫn và
chỉ bảo cũng như cung cấp số liệu trong suốt quá trình em thực tập và hoàn
thành bản khóa luận của mình.
Đồng thời em cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường đại học Nông
Nghiệp Hà Nội và các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và phát triển nông
thôn đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức chuyên ngành cho em
trong suốt 4 năm học tại trường.
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viên

yếu tố bảo quản tốt tránh tình trạng hàng bị giảm chất lượng. Việc sản xuất

iii


thuốc thú y còn mang tính chất thời vụ do nhu cầu sử dụng và tiêu dùng.
thuốc có ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người, vì vậy được sản xuất
trong điều kiện cho phép và tuyệt đối đảm bảo về chất lượng. Một số nguyên
liệu trong nước chưa sản xuất được nên phải nhập từ nước ngoài. Ngoài ra do
yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật nên chi phí sản xuất bao gồm cả các chi phí
phụ như phí kiểm tra, kiểm soát chất lượng.
Trên thị trường tiêu thụ thuốc thú y hiện nay đang có sự cạnh tranh rất
lớn, không chỉ là sự cạnh tranh của các đơn vị sản xuất thuốc thú y trong nước
mà trên thị trường còn có các doanh nghiệp nước ngoài như hãng Bayer
(Thụy Sỹ), công ty Helm (Đức), Sanofi (Canada)…Chính vì lý do đó việc
cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại cũng trở nên gay gắt trên thị trường
thuốc thú y ở Việt Nam hiện nay.
Hiện tại thuốc thú y trong nước được người tiêu dùng tin tưởng và sử
dụng nhiều. Tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở sản xuất thuốc thú y sản xuất
trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh công nghiệp dược phẩm. Sản phẩm
thuốc thú y được tiêu thụ rộng khắp trên cả nước nên việc kiểm nghiệm gặp
nhiều khó khăn, chính vì vậy trên thị trường vẫn còn lưu hành nhiều sản phẩm
thuốc thú y không bảo đảm đủ tiêu chuẩn.
Hiện nay trên thị trường thuốc thú y tồn tại một số lượng lớn thuốc thú
y nhập khẩu tại trung quốc qua biên giới Việt Trung, do quan lý không tốt ,
giá nhập rẻ hơn so với nhập khẩu, điều này tác động không tốt đến các nhà
sản xuất thuốc thú y trong việc hàng giả, hàng nhái kém chất lượng, trong đó
có công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I. Tuy nhiên trước sự cạnh tranh
mạnh mẽ của các sản phẩm thuốc thú y trên thị trường sản phẩm của công ty
cổ phần thuốc thú y trung ương I vẫn được khách hàng trong nước chấp nhận.

Bảng 5. Gía bán cổng xưởng các sản phẩm thuốc thú y chính tại phân xưởng I
công ty cổ phần thuốc thú y TƯ I.................Error: Reference source not found
Bảng 6. Gía bán cổng xưởng sản phẩm thuốc thú y công ty tại phân xưởng II. .Error:
Reference source not found
Bảng 7. Tổng chi phí khâu sản xuất công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I..Error:
Reference source not found
Bảng 8. Gía trị sản xuất các sản phẩm thuốc thú y chính công ty cổ phần
thuốc thú y TƯ I 2007 - 2009......................Error: Reference source not found
Bảng 9. Bảng kết quả trong khâu sản xuất của công ty cổ phần thuốc thú y
trung ương I (2007 - 2009)...........................Error: Reference source not found
Bảng 10. Doanh thu tiêu thụ của công ty qua các tháng từ 2007 - 2009. .Error:
Reference source not found
Bảng 11: Doanh thu tiêu thụ các cơ sở sản xuất thuốc thú y từng thị trường năm 2009..Error:
Reference source not found
Bảng 12. Doanh số tiêu thụ thuốc thú y qua các kênh của công ty qua 3 năm
2007 - 2009...................................................Error: Reference source not found
Bảng 14. Chi phí bán hàng qua 3 năm 2007 - 2009 qua kênh gián tiếp...Error:
Reference source not found
Bảng 13: Chi phí bán hàng của kênh trực tiếp (kênh 1)Error: Reference source
not found

vii


Bảng 16. Tổng lợi nhuận trước thuế công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I
(2007 - 2009)................................................Error: Reference source not found
Bảng 17. Số lượng gia súc, gia cầm qua các năm (Tổng cục thống kê)...Error:
Reference source not found
Bảng 18. Đánh giá khách hàng về sản phẩm của công ty.......Error: Reference
source not found

ĐẶT VẤN ĐÊ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ngành chăn nuôi đã chiếm một vị trí vô cùng quan trọng
trong đời sống xã hội, vì nó cung cấp cho con người các sản phẩm thiết yếu
như: Thịt, trứng, sữa, da… và các sản phẩm chế biến khác để phục vụ cho con
người. Nhưng làm thế nào để các loại thực phẩm trên khi sản xuất ra có chất
lượng tốt và năng suất cao, thì trong chăn nuôi phải biết kết hợp các yếu tố
như: Phát huy ưu của di truyền, chọn lọc cũng như lai giống và phải đảm bảo
tính an toàn dịch bệnh cho gia cầm, gia súc. Muốn đảm bảo an toàn dịch bệnh
cho gia súc, gia cầm cần phải có thuốc, đặc biệt là chăn nuôi tiên tiến tập
trung theo lối thâm canh sản xuất hàng hóa. Chăn nuôi càng tập trung bao
nhiêu thì càng dễ bị các bệnh truyền nhiễm bấy nhiêu. Vì vậy để chăn nuôi
đạt hiệu quả tốt, để con người tránh được những nỗi đau và được cung cấp
những sản phẩm sạch, an toàn thì rõ ràng chăn nuôi phải chú ý đến thú y.
Thuốc thú y là một trong hàng ngàn sản phẩm được sản xuất, kinh
doanh và tiêu thụ ở khắp nơi. Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân
số làm nông nghiệp và xu hướng chăn nuôi ngày càng phát triển. Vì vậy thuốc
thú y ở Việt Nam cũng có vai trò ngày càng quan trọng. Không những sản
xuất ra thực phẩm dùng trong nước, thực phẩm của Việt Nam đã và đang xuất
hiện trên thị trường của nhiều nước khác, yêu cầu an toàn thực phẩm khi xuất
khẩu càng quan trọng và một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của thuốc
thú y đối với chăn nuôi. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế trong nông nghiệp đã chỉ rõ: “ Từng bước đưa chăn nuôi lên lên ngành
sản xuất chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nông nghiệp, phát triển mạnh đàn
gia súc, gia cầm, trâu bò cày kéo, sữa, thịt, phát triển đàn lợn phù hợp với khả
năng sản xuất thức ăn, tạo ra những vùng chăn nuôi tạp trung, đi đôi với phát

1



1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
- Góp phần hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiến về sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm nói chung và thú y hiện nay.
- Đánh giá kết quả sản xuất và tiêu thụ thuốc thú y của Công ty cổ phần
thuốc thú y trung ương I.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình và kết quả sản xuất
và tiêu thụ thuốc thú y của Công ty trong những năm qua.
- Đề xuất phương hưóng và một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả
sản xuất và tiêu thụ thuốc thú y tại Công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu vấn đề kinh tế tổ chức liên quan đến kết quả sản xuất và
tiêu thụ thuốc thú y tại Công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I.
- Chủ thể nghiên cứu: Phân xưởng, tổ sản xuất, bộ phận kinh doanh tiêu
thụ thuốc thú y tại Công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về kết quả sản xuất
và tiêu thụ thuốc thú y tại Công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I.
- Thời gian của nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm thuốc thú y của công ty từ năm 2007 đến năm 2009 dự
kiến một số giải pháp, phương hướng đẩy mạnh quá trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm của công ty đến năm 2015.
- Phạm vi về không gian: Tại công ty cổ phần thuốc thú y trung ương I
- 88 Trường Chinh, Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 1/2010
đến 5/2010.

3



Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển
của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã
hội. Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật,
tôn giáo... đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất.
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi
tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình. Sản xuất vật
chất không ngừng phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự
biến đổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội
từ thấp đến cao. Chính vì vậy, phải tìm cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội
ở trong nền sản xuất vật chất của xã hội.
Tóm lại trong quá trình tồn tại và phát triển, con người đã: Sản xuất ra
của cải vật chất để duy trì sự tồn tại của con người và xã hội loài người, thông
qua lao động sản xuất, con người được cải tạo, phát triển và hoàn thiện cả về
thể chất lẫn tinh thần. Hoạt động sản xuất là trung tâm, là tiền đề thúc đẩy các
hoạt động khác của xã hội phát triển.
2.1.2. Lý luận về tiêu thụ sản phẩm
+ Khái niệm tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của các sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ. Thông qua tiêu thụ, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ…
chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn
của doanh nghiệp được hoàn thành. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu
thành từ các yếu tố: Chủ thể kinh tế tham gia (người mua và người bán), Đối
tượng tiêu thụ (Hàng hóa, tiền tệ) và thị trường.
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm:
Thị trường: là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hóa. Đây là một
phạm trù kinh tế rất phức tạp nên có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường.
Mặc dù có nhiều khái niệm về thị trường nhưng đều có một quan điểm cốt lõi
là Thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa. Nó được diễn ra trong


năng khác nhau về thực hiện các công việc cần thiết cho quá trình tiêu thụ sản

6


phẩm vì vậy công ty cần phải tìm ra được các nhà trung gian có khả năng thực
hiện các nhiệm vụ cần thiết và thiết lập được các ràng buộc phù hợp với chiến
lược và mục tiêu của công ty. Đặc điểm của đối thủ cạnh tranh cũng có tầm
ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu kênh tiêu thụ, việc thiết kế kênh tiêu thụ
sản phẩm ảnh hưởng lớn tới kênh tiêu thụ sản phẩm. Công ty phải quyết định
việc thiết lập hệ thống của hàng riêng hay sử dụng các trung gian đang làm
việc cho chính đối thủ cạnh tranh. Đặc điểm về môi trường kinh doanh.Ngoài
ra còn các đặc điểm về kinh tế, luật pháp và các đặc thù về văn hóa, tập quán,
thói quen thương mại cũng ảnh hưởng tới các quyết định xây dựng kênh tiêu
thụ sản phẩm. Việc thiết kế kênh tiêu thụ sản phẩm phù hợp môi trường đảm
bảo hiệu quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm, tránh được các rủi do và các
xung đột không cần thiết đối với khách hàng và các nhà trung gian.
Nhu cầu tiêu dùng theo vùng: Đây là một đặc tính rất quan trọng, khách
hàng ở những vùng khác nhau thường có đặc tính tiêu dung khác nhau. Sản
phẩm mà họ yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, giá cả, mùi vị, mầu sắc… cũng
rất khác nhau. Một đặc tính nổi bật ở đây cần quan tâm là sự hiểu biết về sản
phẩm cũng khác nhau theo vùng. Người tiêu dung thường hiểu rõ hơn về sản
phẩm ở địa phương mình, đặc tính này thường được quan tâm nhiều hơn
trong tiêu thụ. Do đó doanh nghiệp cần chiếm lĩnh thị trường địa phương
mình trước, sau đó sử dụng khách hàng địa phương để xúc tiến gián tiếp cho
việc tiêu thụ sản phẩm ở địa phương khác.
Nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ: Trong sản xuất chăn nuôi nói riêng và sản
xuất nông nghiệp nói chung, vấn đề mùa vụ là cực kỳ quan trọng. Do vậy
người sản xuất thuốc thú y cũng cần phải biết đến đặc điểm này. Có như vậy,
sản xuất và tiêu thụ mới hợp lý, hiệu quả, theo sát được nhu cầu của thị

tăng lợi nhuận.
Tiêu thụ sản phẩm có tác dụng gắn sản xuất với thị trường, làm cho sản
xuất luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ thúc
đẩy sản xuất phát triển, tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất. Sức tiêu thụ của

8


doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, hay
phản ánh đầy đủ những điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm còn góp phần tăng trưởng kinh tế chiếm lĩnh thị
trường cho doanh nghiệp và nhiều mục đích khác. Tiêu thụ sản phẩm cũng
góp phần tăng thu hút lao động, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người
lao động, giảm tệ nạn xã hội, tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất.
2.1.3. Lý luận về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thuốc thú y
2.1.3.1. Đặc điểm, vai trò sản phẩm thuốc thú y
+ Đặc điểm sản phẩm thuốc thú y:
Đây là sản phẩm đòi hỏi tính kỹ thuật cao, qui trình bảo quản nghiêm
ngặt. Mỗi sản phẩm sản xuất phải đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật bởi vì nó có
ảnh hưởng gián tiếp tới sức khỏe con người. Do đó thuốc thú y có một số đặc
điểm sau:
- Thuốc thú y là loại sản phẩm mà người tiêu dùng mua về để phòng
chữa bệnh cho gia súc, gia cầm nên nhu cầu thuốc thú y thường phụ thuộc vào
qui mô đàn gia súc, gia cầm cũng như tình trạng sức khỏe của chúng.
- Tất cả các loại thuốc thú y đều được quy định thời gian sử dụng và
bảo quản theo đúng chế độ, đặc biệt là các loại vacxin.
- Một số sản phẩm thuốc thú y mang tính thời vụ do sự xuất hiện các
bệnh thường gặp ở vật nuôi.
- Thuốc thú y được coi là sản phẩm công nghiệp, song việc sử dụng nó
lại không mang tính tập trung của hàng công nghiệp mà nó phân bổ rộng

gồm cả các chi phí phụ như phí kiểm tra, kiểm soát chất lượng.
Đặc điểm quá trình tiêu thụ thuốc thú y
+ Qúa trình tiêu thụ thuốc thú y mang tính chất đặc thù riêng đó là có
tính chất thời vụ rất cao. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều gây ra bệnh tật cho đàn gia súc gia cầm. Chăn
nuôi chịu ảnh hưởng bởi thời tiết rất nhiều.Chính vì vậy vào mùa mưa phùn,

10


gió bấc, nhu cầu về thuốc rất cao, lượng thuốc tiêu thụ của công ty phụ thuộc
vào thời vụ.
+ Qúa trình tiêu thụ thuốc thú y cũng tuân theo quy luật cung cầu của
thị trường.
+ Thuốc thú y có ảnh hưởng giáp tiếp đến sức khỏe con người, mặt
khác nhiều loại thuốc thú y có thời gian sử dụng ngắn nên việc lưu thông, tiêu
thụ được kiểm tra nghiêm ngặt.
2.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng sản xuất tiêu thụ thuốc thú y
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất thuốc thú y:
+ Nguồn vốn sản xuất: Vốn là một yếu tố quan trọng trong bất kỳ hoạt
động sản xuất nào không riêng gì sản xuất thuốc thú y. Có vốn thì hoạt động
sản xuất mới được tiến hành. Mặt khác việc sản xuất thuốc thú y cần một
lượng vốn lớn vì vậy nguồn vốn trong sản xuất là một yếu tố tiên quyết và nó
có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình sản xuất thuốc thú y của công ty.
+ Lao động: Thuốc thú y là sản phẩm đòi hỏi tính kỹ thuật cao, việc sản
xuất phải đảm bảo kỹ thuật vì vậy lao động cũng là một yếu tố không thể
thiếu để làm ra một sản phẩm thuốc thú y có chất lượng, việc điều tiết lao
động trong từng khâu sản xuất là điều vô cùng quan trọng trong sản xuất
thuốc thú y.
+ Nguyên vật liệu: Do đặc thù của sản xuất thuốc thú y là hầu hết

- Kênh tiêu thụ trực tiếp:
Người sản xuất bán thẳng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng
không qua các khâu trung gian.Phương thức bán hàng này nhanh, có lợi
nhuận cao, đồng thời doanh nghiệp chủ động cả về thời gian và cả khách hàng
nên tương đối thuận lợi.
Nhà sản xuất

Khách hàng

Sơ đồ 1. Kênh tiêu thụ trực tiếp (kênh 1)
- Kênh tiêu thụ gián tiếp:

12


Người sản xuất bán sản phẩm cho người tiêu dùng qua một hoặc một số
trung gian như người bán buôn, người bán lẻ hay các đại lý.Nếu càng nhiều
tầng lớp trung gian thì càng khiến cho cầu nối càng dài, sản phẩm tới tay
người tiêu dùng càng chậm. Kênh gián tiếp giúp cho sự ổn định giá cả cũng
như sự phát triển của dịch vụ, tuy nhiên người tiêu dùng phải mua sản phẩm
với giá cao hơn,nếu công tác quản lý không chặt chẽ, sản phẩm bị giảm cấp sẽ
ảnh hưởng đến uy tín người sản xuất đồng thời tăng tính độc quyền với một
số loại sản phẩm trên phạm vi thế giới.
Nhà sản

Người bán hàng (Nhà phân

xuất

phối công nghiệp)

xuất

Nhà bán
buôn

Nhà bán
buôn
nhỏ

Người
bán lẻ

Sơ đồ 4. Kênh tiêu thụ có hơn ba trung gian (kênh 4)

13

Khách
hàng


+ Yếu tố thị trường: Nhu cầu tiêu dùng của từng vùng khác nhau không
phải ở khu vực nào cũng giống nhau do vị trí địa lý phân thành các vùng đồi
núi, đồng bằng, trung du. Từng vị trí có những kiểu khí hậu khác nhau vì vậy
này ảnh hưởng tới chăn nuôi khác nhau, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thuốc thú y
của từng thị trường cũng khác nhau.
+ Yếu tố Chất lượng sản phẩm: Nếu chất lượng sản phẩm cao thì người
tiêu dùng sẽ tín nhiệm, đồng thời uy tín của công ty sẽ tăng lên, việc tiêu thụ
sản phẩm sẽ trở nên dễ dàng hơn và ngược lại nếu chất lượng sản phẩm kém
thì việc lưu thông hàng hóa nói chung và sản phẩm thuốc thú y nói riêng sẽ
gặp nhiều khó khăn.

Thị trường thuốc thú y phát triển rất nhanh và mạnh mẽ. Đến nay cả
nước đã có 87 nhà sản xuất thuốc thú y với 4.671 sản phẩm, đáp ứng được
hơn 70% nhu cầu thuốc phòng trị bệnh gia súc, gia cầm và giải quyết công ăn
việc làm cho hàng ngàn người. Để tăng cường năng lực cạnh tranh và mở
rộng thị trường xuất khẩu, trong 6 nhà máy đạt GMP (thực hành sản xuất tốt)
đã có 3 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMPEU. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 đã được áp
dụng ở 18 nhà máy. Nhiều nhà máy đang phấn đấu đạt cả 3 tiêu chí: GMP,
GLP (thực hành kiểm nghiệm tốt) GSP (thực hành bảo quản tốt) để đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế. Ngoài ra còn có 190 nhà sản xuất của 35 quốc gia
đăng ký lưu hành 1.752 sản phẩm thuốc thú y tại Việt Nam. Mặc dù thị
trường thuốc thú y phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có thời điểm không đáp
ứng được cho thị trường, đặc biệt khi gặp dịch bệnh lây lan,một ví dụ điển
hình trong năm 2009. Ngay từ đầu năm 2009, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm
đang có xu hướng bùng phát rộng. Mục tiêu chung trong công tác phòng
chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong năm 2009 của Bộ NN và PTNT là tập
trung khống chế được các loại dịch bệnh nguy hiểm ở động vật như cúm gia
cầm, lở mồng long móng, dịch tả lợn và bệnh thuỷ sản không để lây lan ra

15


diện rộng...Từ đầu năm đến giữa tháng 2/2009, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện
tại 31 xã thuộc 16 huyện của 9 tỉnh bao gồm Thanh Hoá, Thái Nguyên, Cà
Mau, Sóc Trăng, Nghệ An, Hậu Giang, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Quảng Trị.
Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu huỷ là 32.815 con. Diễn
biến dịch ở các tỉnh đồng bằng song Cửu long trong những tháng đầu năm
2009 diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng bùng phát ra diện rộng. Về
dịch cúm trên người: Trong năm 2008, Việt Nam có 6 ca nhiễm cúm trong đó
5 ca đã tử vong.
Dịch lở mồng long móng trên trâu bò cũng xảy ra ở 38 xã, 11 huyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status