TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
-----------* * *-----------
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(Chương trình Sau Đại Học)
QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀ VẬN DỤNG
QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG
GIÁO DỤC MẦM NON Ở NƯỚC TA.
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lời mở đầu
Nước ta đang thực hiện công cuộc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, không kinh
qua hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, tiến lên hình thái kinh tế xã hội xã hội
chủ nghĩa. Tuy nhiên, nước ta vẫn kế thừa những tinh hoa của nhân loại đạt được
dưới hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là những thành tựu về khoa
học và công nghệ để đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất. Trong đó, trước hết và
quan trọng nhất là phải đầu tư vào sự phát triển của người lao động, vì người lao
động là yếu tố giữ vai trò quyết định, là chủ thể của các yếu tố còn lại cấu thành nên
lực lượng sản xuất. Hiểu rõ tầm quan trọng của điều này, tại Đại hội VIII, Đảng ta
đã đặc biệt chú trọng vấn đề phát triển nguồn nhân lực Đảng ta xác định: “Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển này. Nguồn lực cơ bản, to
lớn, quyết định này phải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể
lượng chất và vận dụng quy luật lượng chất đối với vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học trong giáo dục mầm non ở nước ta”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục đích nghiên cứu.
Tiểu luận thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò phương pháp luận của quy luật
lượng chất trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non ở
nước ta hiện nay. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy quá trình
đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu những vấn đề chung của quy luật lượng chất trong phép biện
chứng duy vật.
Tìm hiểu thực trạng sự vận dụng quy luật này trong đổi mới phương pháp dạy
học ở bậc học mầm non. Từ đó đề xuất một số biện pháp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tiểu luận này, tôi sử dụng phương pháp biện chứng duy vật là
chủ yếu. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như:
• Phương pháp phân tích.
• Phương pháp so sánh, chứng minh.
5
•
Phương pháp khái quát, tổng hợp.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tiểu luận chỉ dừng lại nghiên cứu việc vận dụng vai trò của quy luật
lượng chất trong đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non ở nước ta
hiện nay.
thuyết về sự vận động và phát triển, còn phép biện chứng duy vật là phương pháp vì
phép biện chứng duy vật là hệ thống những nguyên tắc, những yêu cầu đòi hỏi con
người phải nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ, trong sự vận động của quá
trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó.
Phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơ bản: Phép biện chứng chất
phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.
1.1.2. Đặc điểm của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật do C.Mác & Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế
thừa trực tiếp những nội dung hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen.
Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật là phép biện chứng duy vật
được xây dựng trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Hơn nữa, phép
biện chứng duy vật không chỉ giải thích các mối liên hệ, trạng thái vận động và phát
triển của thế giới mà nó còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới.
7
1.1.3. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật được khái quát thành hai
nguyên lý. Hai nguyên lý được cụ thể hoá qua các quy luật. Các quy luật được chia
thành hai loại: Các quy luật cơ bản và các quy luật không cơ bản – các cặp phạm trù
cơ bản của phép biện chứng duy vật.
1.2. Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng
Quy luật lượng chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép duy vật biện
chứng, qua quy luật lượng chất chúng ta nhận thấy rằng: Bất cứ sự vật, hiện tượng
nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau
trong sự vật, hiện tượng. Trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm lượng chất cũng như quan hệ giữa chúng. Những quan điểm đó
phụ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận của các nhà triết học hay của các
trường phái triết học. Phép biện chứng duy vật đem lại quan điểm đúng đắn về khái
Trong việc xem xét mối quan hệ giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất, Hegel
đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy. Chính dựa trên tư tưởng của Hegel, Lênin đã
ra một kết luận quan trọng là: Việc thừa nhận bước nhảy hay không là tiêu chí cơ
bản để xem đó là người theo quan điểm biện chứng hay siêu hình về sự phát triển.
Tất nhiên, với tư cách là nhà triết học duy tâm, Hegel đã xem các phạm trù chất,
lượng, độ chỉ như những nấc thang tự phát triển của tinh thần, của “ý niệm tuyệt
đối” chứ không phải là những nấc thang nhận thức của con người đối với thế giới
bên ngoài.
Về sau sự ra đời của phép biện chứng duy vật đánh dấu một giai đoạn phát
triển căn bản trong quan niệm về chất và lượng. Mối quan hệ qua lại giữa sự thay
đổi về lượng và sự thay đổi về chất nói chung. Chúng ta cùng tìm hiểu rõ, sâu sắc
hơn về quan niệm lượng và chất.
1.2.2. Quan niệm biện chứng duy vật về chất
Trong thế giới quanh ta tồn tại vô vàn sự vật, hiện tượng. Vì sao chúng ta biết
phân biệt đây là sự việc này và sự việc kia? Điều đó là đơn giản vì các sự vật khác
nhau, có những đặc trưng, thuộc tính, những quy định khác nhau. Mọi động vật và
thực vật đều được đặc trưng bởi đồng hóa, dị hóa nhưng chúng lại khác nhau. Sở dĩ
9
ta phân biệt được những sự vật hiện tượng khách quan đó là vì chúng có sự khác
nhau về chất. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm
nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ
không phải là cái khác. Như vậy để xác định chất của sự vật thì cần phải xác định
các thuộc tính của nó. Muốn xác định thuộc tính của sự vật cần phải đặt sự vật ấy
trong mối liên hệ với sự vật khác.
*Phân biệt chất và thuộc tính
cơ bản thay đổi thì chất của nó mới thay đổi, còn thuộc tính không cơ bản khi thay
đổi thì chất của sự vật hiện tượng vẫn chưa thay đổi. Nhưng việc phân biệt giữa
những thuộc tính cơ bản và không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối. Vì trong
mối liên hệ này nó là thuộc tính cơ bản còn trong mối liên hệ khác nó là không cơ
bản.
Mặt khác, mỗi thuộc tính lại được hình thành từ các đặc trưng về chất của nó.
Vì vậy, mỗi thuộc tính lại đóng vai trò là một chất của sự vật. Do đó sự phân biệt
giữa chất và thuộc tính cũng chỉ mang tính tương đối, trong mối quan hệ này nó là
chất nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là thuộc tính của sự vật. Sự vật có vô vàn
thuộc tính nên sự vật không chỉ có một chất mà còn có vô vàn chất. Có thể thấy chất
của đường là sự tổng hợp của vô vàn các thuộc tính: Hòa tan, nóng chảy, ngọt, mỗi
thuộc tính lại có các đặc trưng về chất: Thuộc tính hòa tan (nhiệt độ, mức độ,…)
Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành,
mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó. Nghĩa là bởi
kết cấu của sự vật. Trong tự nhiên và cả trong xã hội, chúng ta thấy không ít sự vật,
mà xét riêng về các yếu tố cấu thành. Chẳng hạn, kim cương và than chì là những
sự vật đều do cacbon (carbon) tạo thành. Nhưng kim cương là vật cứng nhất trong
tất cả các vật, có thể cắt được hầu hết mọi kim loại, có giá trị kinh tế cao, còn than
thì không có được những đặc trưng tương tự. Sự khác nhau đó được quyết định bởi
phương thức liên kết khác nhau của các nguyên tử cacbon. Chất của sự vật không
11
chỉ thay đổi khi có sự thay đổi những yếu tố cấu thành mà nó còn phụ thuộc vào sự
thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó. Do vậy, để làm biến đổi chất của
sự vật, có thể cải tạo các yếu tố cấu thành, hoặc biến đổi phương thức liên kết giữa
các yếu tố đó.
Chung quy lại, chất mang tính khách quan vì bất kì một sự vật nào cũng được
cấu thành từ các yếu tố cấu thành nên các bộ phận tạo nên tính quy định về chất;
biểu thị lượng của sự vật và ngược lại. Chẳng hạn số lượng trẻ đạt chuẩn trong năm
của một lớp sẽ nói lên chất lượng chăm sóc và giáo dục của lớp đó. Điều này cũng
có nghĩa là dù số lượng cụ thể quy định thuần túy về lượng; song, số lượng ấy cũng
có tính quy định về chất của sự vật. Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời
nhau trong sự vật. Trong quá trình vận động và phát triển, chất và lượng của sự vật
không đứng im mà chúng luôn vận động không phải biệt lập với nhau mà luôn luôn
có quan hệ qua lại theo một quy luật nhất định.
Lượng cũng như chất, mang tính khách quan (vì bất kì một sự vật nào cũng
chiếm một vị trí nhất định trong không gian - quy mô tồn tại, và được diễn ra trong
một khoảng thời gian nào đó - tốc độ, nhịp độ của nó); Sự vật không chỉ có một
lượng mà còn có vô vàn lượng; Sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ mang tính
tương đối. Vì còn tùy vào những mối quan hệ nhất định. Chẳng hạn như thống kê số
lượng trẻ đạt chuẩn trong một lớp học: Tốt, khá, trung bình rồi đến lượng. Nhưng
trong mối qua hệ khác, thông qua sự thống kê ấy có thể đánh giá chất lượng trẻ của
lớp đó là như thế nào. Bất kì sự vật nào bao giờ cũng bao gồm 2 mặt lượng và chất,
lượng và chất tác động qua lại lẫn nhau tạo nên mối quan hệ biện chứng giữa lượng
và chất.
1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất
1.3.1 Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại:
• Khái niệm độ, bước nhảy, điểm nút:
Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng.
Chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ
tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại. Sự thay đổi về lượng và về
chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động và phát triển của sự vật. Nhưng sự
13
thay đổi đó có quan hệ chặt chẽ với nhau chứ không tách rời nhau. Sự thay đổi về
lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại, sự thay
triển trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ cũng phát triển hơn và khi biết bò trẻ được
đến với thế giới xung quanh một cách gần gũi hơn, trẻ được trực tiếp tiếp xúc với sự
vật hiện tượng. Nhưng đồ dùng, đồ chơi ở trên cao trẻ vẫn phải nhờ đến người chăm
sóc trẻ chứ trẻ vẫn chưa tự lấy được, chính vì phải nhờ đến người chăm sóc lấy đồ
chơi cho trẻ đôi lúc trẻ phải đợi chờ nếu người chăm sóc phải bận làm việc khác nên
trẻ vẫn mong muốn mình có thể tự lấy khi trẻ cần, chính sự thôi thúc ấy trẻ khát
khao được đi, được trực tiếp lấy những đồ dùng trẻ thích, được trực tiếp chạm gần
hơn và gần hơn nữa đến xung quanh mà gần như xa lạ với trẻ trước đó. Sự khát
khao ấy vẫn không được đáp ứng vì thể chất, sự phát triển của trẻ chưa đạt đến một
lượng nhất định, trẻ cần phải tích lũy thêm đến một mức độ nào ấy cần bước nhảy
đột phá trẻ sẽ đi một cách vững vàn hơn, khi lượng đạt đến mức độ chín muồi, cứ
tiếp tục như vậy, lượng càng ngày càng tích lũy thì chất luôn luôn thay đổi một cách
tích cực. Sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút sẽ ra đời chất mới với lượng mới
tương ứng của nó. Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với
những điểm nút mới. Sự vận động và phát triển là khôn cùng. Do đó, sự vận động,
biến đổi của sự vật sẽ hình thành một đường nút của những quan hệ về độ.
Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra được gọi là
bước nhảy. Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của
sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên. Bước nhảy là sự kết
thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát
triển mới. Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự
vật. Có thể nói, trong quá trình phát triển của sự vật sự gián đoạn là tiền đề cho sự
liên tục và sự liên tục là kế tiếp của hàng loạt sự gián đoạn.
+ Bước nhảy đánh dấu sự kết thúc một chu kì vận động của sự vật, nhưng
đồng thời là điểm xuất phát của một chu kì vận động, phát triển mới tiếp theo (vai
trò của bước nhảy)
15
cũng trong tự nhiên, con người vẫn quan sát thấy cả những quá trình thay đổi về
chất diễn ra một cách nhanh chóng.
Như một nghiên cứu Ăng-ghen (Engels) để làm rõ hơn về khái niệm: Độ,
điểm nút, bước nhảy. Nước tồn tại ở 3 trạng thái: Rắn, lỏng, hơi. Từ -273 0C00C:
Nước tồn tại ở thể rắn, từ 0 0C1000C: Nước ở thể lỏng, từ 1000C5500C: Nước ở
thể hơi, lớn hơn 5500C: Nước ở trạng thái Plasma. Xét khoảng giới hạn từ
00C1000C: Nếu như chất của nước là chất lỏng, thì lượng tương ứng để quy định
16
chất này là nhiệt độ của nước. Nhiệt độ tăng trong khoảng 0100oC, chất của nước
là thể lỏng thì ta thấy lượng đổi nhưng chất chưa đổi, khoảng giới hạn 0100oC
triết học gọi là độ. Như vậy, trong giới hạn độ, lượng đổi, chất chưa đổi nhưng trạng
thái tồn tại của sự vật đã thay đổi. (Nhiệt độ của nước khi tăng lên lượng đổi,
nhưng chất vẫn là chất lỏng chất chưa đổi, nhưng trạng thái tồn tại của chất đã
thay đổi: Vận tốc chuyển động của các phân tử nước nhanh hơn, áp suất của nước
lên thành bình lớn hơn).
Nước ở thể plasma
Nước ở thể khí
Nước ở thể lỏng
Nước ở thể rắn
Bước nhảy
Độ
-273oC
trình chuyển hoá từ vượn người thành người… Như vậy, sự khác nhau giữa hai loại
bước nhảy vừa nêu không chỉ ở thời gian diễn ra sự thay đổi về chất, và cả ở cơ chế
của sự thay đổi đó. Khi nói về bước nhảy dần dần, ngoài nhân tố tốc độ, chúng ta
còn nói đến cơ chế của việc tạo ra chất mới. Ở đây, chất mới được tạo thành không
phải ngay lập tức, mà được tạo thành từng phần.
Mặt khác, cũng cần phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay đổi dần dần về
lượng. Nhưng sự thay đổi dần dần về lượng diễn ra một cách liên tục trong khuôn
khổ của chất đang có; còn bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa chất này sang chất
khác, là sự đứt đoạn của tính liên tục, là bước ngoặt quyết định trong sự phát triển.
• Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ
Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các
bộ phận, các nhân tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy làm thay
đổi một số mặt, một số nhân tố, một số bộ phận của sự vật đó. Đối với các sự vật
phức tạp về tính chất, về những nhân tố cấu trúc, về những bộ phận cấu thành. Bước
18
nhảy thường diễn ra bằng con đường từ những thay đổi về chất cục bộ đến thay đổi
về chất toàn bộ. Quá trình cách mạng giải phóng dân tộc thủ tiêu chế độ thực dân
(kiểu cũ) trên thế giới cũng như quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa đã diễn ra
theo con đường như vậy.
Khi xem xét sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất trong xã hội, điều quan
trọng là phải chú ý tới độ sâu sắc và ý nghĩa của chúng. Xuất phát từ cách tiếp cận
đó, cả sự thay đổi về lượng lẫn sự thay đổi về chất có thể phân ra thành những thay
đổi mang tính cách mạng hay tính tiến hoá.
1.4. Sự tác động trở lại của chất đối với lượng
Chất không tồn tại một cách thụ động mà có sự tác động trở lại đối với lượng;
chất mới tác động đối với lượng của sự vật trên nhiều phương diện như kết cấu, qui
cần phải có đầy đủ các yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi trong
dạy học phải đẩy đủ để khích thích sự ham muốn hiểu biết, tìm tòi khám phá thế
giới xung quanh của trẻ. Không chỉ có vài đồ dùng cũ trẻ chán ngán hoặc không có
đồ dùng đồ chơi mà bắt trẻ phải phát triển một cách toàn diện 5 lĩnh vực phát triển:
Nhận thức, thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ. Vì vậy, muốn trẻ phát triển tốt
nhất thì cần phải có môi trường giáo dục tốt nhất cho trẻ. Bên cạnh đó yếu tố đội
ngũ giáo viên, số lượng trẻ và nhà quản lý hết sức quan trọng. Cần phải có đội ngũ
giáo viên đạt chuẩn, có đầy đủ phẩm chất nghề và số lượng trẻ trong một lớp hết
sức quan trong, không thể để số lượng trẻ vượt quá mức cho phép trong một không
gian chật hẹp được. Một nhà quản lý giỏi là người phải có “trái tim nóng và cái đầu
lạnh”. Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất sự phát
triển của trẻ. Chúng ta cần phải coi trọng cả hai mặt lượng và chất và có những biện
pháp phát triển song song kết hợp giữa lượng nhằm giúp chất phát triển một cách
tối đa nhất. Nếu như chỉ chăm chăm trang bị đầy đủ về lượng nhưng không coi
trọng, phối hợp cùng chất để phát triển thì những yếu cầu đặt ra trước đo sẽ không
đạt được hiệu quả mong muốn và trẻ cũng không phát triển toàn diện như chúng ta
nghĩ. Chính vì vậy lượng và chất cần phải luôn luôn quan trọng như nhau.
Cần chú ý khâu tích luỹ về lượng để đến khi có đầy đủ điều kiện chín muồi sẽ
thay đổi về chất của sự vật. Trong cuộc sống, đã tổng kết thành nhiều kinh nghiệm
20
quý báu mang đậm tính quy luật lượng chất: “Tích tiểu thành đại”, “góp gió thành
bão”, “có công mài sắt có ngày nên kim”, “góp từng nửa bước để có ngàn dặm, góp
từng giọt nước nhỏ để trở thành biển rộng sông dài” (theo Tuân Tử)
Trong công tác giáo dục mầm non: Để chuẩn bị cho trẻ vào từ trường mầm
non vào lớp 1, là cả mộ quá trình chăm sóc và giáo dục, người giáo viên cần chủ
động và định hướng cho trẻ cách lĩnh hội tri thức, cách sử dụng lời ăn tiếng nói, tình
cảm, đạo đức, kỹ năng tự phục vụ… Vì khi học ở môi trường mầm non vui chơi là
nhất, hiện trạng học trước có rất nhiều bất lợi cho trẻ sẽ làm co trẻ cảm thấy chán
ghét việc học, làm cho trẻ khi vào lớp 1 sẽ thấy chương trình mình đã được học hết
không còn hứng thu khi đi học nữa, khi thúc ép trẻ học mà trẻ chưa đủ tuổi. Cần
phải học khi lúc này đây thể chất của trẻ chưa đáp ứng đầy đủ cho việc học, trẻ dễ
bị cong vẹo cuộc sống hay trẻ còn nhỏ thời gian duy trì chú ý của trẻ còn kém nếu
học thời gian như trẻ tiểu học trẻ sẽ dễ sao nhãng việc học kết quả thu đươc cũng
không bao nhiêu. Chính vì vậy phụ huynh vội vàng thực hiện bước nhảy khi mà trẻ
chưa tích lũy đủ lượng đây chính là căn bệnh chủ quan duy ý chí cần được xóa bỏ.
Cần chống lại bệnh bảo thủ trì trệ biểu hiện ở chỗ lượng đã biến đổi đến quá
độ mà không chịu thực hiện bước nhảy vẫn giữ nguyên chất cũ. Trong giáo dục
mầm non chúng ta có thể thấy rõ nhất là ở các tỉnh vùng sâu vùng xa. Khi con đã
đến tuổi đi học nhưng phụ huynh vẫn khăng khăng khăng không cho con đến
trường và nhất là con gái bởi vẫn còn tư tưởng phong kiến trọng nam kinh nữ. Phụ
huynh vẫn bảo thủ cho rằng con gái thì cần gì phải đi học, con gái học nhiều cãi
cha, cãi mẹ, cãi chồng… Chính những tư tưởng như vậy đã khiến cho những đứa trẻ
đã đến tuổi đến trường vẫn không được đi học mà vẫn phải ở nhà khi lượng đã biến
đổi nhưng không chịu thực hiện bước nhảy nên vẫn giữ nguyên chất cũ. Ngày nay
chính quyền đang ra sức chống lại bệnh bảo thủ trì trệ.
Dân gian ta có câu: “trời sinh voi sinh cỏ” ngày nay tư tưởng ấy vẫn còn áp
dụng ở một số vùng miền ở nước ta hay các vùng có dân tộc thiểu số ít người với
trình độ dân trí thấp. Những đứa trẻ được sinh ra ở đây hầu hết vẫn theo tư tưởng
ấy, trẻ không được đến trường mầm non, không được ủng hộ và tạo điều kiện quan
tâm chăm sóc đúng, phù hợp theo lứa tuổi. Chính vì vậy mà thể chất và trí tuệ của
22
trẻ phát triển hầu như chậm hơn những trẻ ở vùng miền khác. Nhà nước, chính
quyền cần phải có những chính sách xóa bỏ tư tưởng ấy. Mà cần xác định được
bước nhảy, có thái độ ủng hộ bước nhảy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bước
thực hiện được nhiệm vụ trên, nhà giáo dục cần phải thay đổi phương pháp giáo dục
của mình nhằm giúp trẻ tích cực, chủ động và sáng tạo theo cách riêng của trẻ
24
nhưng vẫn đảm bảo vai trò của nhà giáo dục. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học
trong giáo dục mầm non là một việc hết sức cần thiết.
Hiện nay, trong phương pháp dạy học thường nói đến thuật ngữ “kiến thức
phương pháp”, tức phương pháp chiếm lĩnh tri thức. Nhà văn L.Tolstoi cũng từng
nhắc đến điều này: “Điều quan trọng không phải biết trái đất tròn mà quan trọng
hơn là làm thế nào để biết trái đất tròn”. Nhà văn đã nói đến mối quan hệ giữa kiến
thức và phương pháp nắm bắt kiến thức. Trong cuộc sống hằng ngày, những câu
châm ngôn: Tôi không quan tâm bạn thành công như thế nào mà tôi quan tâm là
cách thức bạn đi đến thành công. Điều này khẳng định phương pháp quan trọng hơn
rất nhiều trên con đường lĩnh hội tri thức, có lẽ cũng nên bắt đầu từ lứa tuổi mầm
non là bậc học đầu tiên là nền tảng của cuộc đời.
Trước đây, trong giáo dục dạy học vẫn đi theo một lối mòn là: Dạy học lấy
người thầy làm trung tâm. Có thể ví người thầy như một cái bình rót – học trò như
một cái bình chứa, người thầy cứ rót kiến thức mình vào người học, người học cứ
lắng nghe tiếp thu một cách thụ động kiến thức của người thầy. Trong giáo dục học
mầm non ngày xưa thậm chí ngày nay cũng còn trường hợp, giáo viên chỉ biết
truyền thụ kiến thức của mình cho trẻ bằng nhiều cách khác nhau như: Diễn giải,
thuyết minh, giải thích… đề trẻ có thể hiểu được những kiến thức của giáo viên
mầm non lấy từ chương trinh mầm non đã đặt ra. Vì thế, năng lực độc lập, sáng tạo
của trẻ bị hạn chế, gây không ít những khó khăn cho trẻ trong việc học tập khi trẻ
bước vào trường phổ thông. Chẳng hạn như trong quá trình giáo dục trẻ giáo viên
mầm non luôn áp đặt rập khuôn cho tất cả các trẻ một bài mẫu mà giáo viên mầm
non không chú ý đến nguyện vọng của từng trẻ, giáo viên mầm non luôn luôn cho
mình là đúng mà không chú ý đến suy nghĩ của từng trẻ, không quan tâm đến sự
xung quanh, chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, hình thành những kỹ năng, kỹ sảo
cho bản thân.
Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục Mầm non là làm cho
trẻ không chỉ là khách thể trong quá trình học, chịu sự tác động trực tiếp của giáo
viên trong quá trình dạy học mà trẻ còn là chủ thể, tự giác tích cực sáng tạo trong
quá trình ấy. Giáo viên mầm non phải tạo điều kiện cho trẻ hoạt động, tự tìm tòi,
phát hiện điều mới lạ, khám phá nó, chiếm lĩnh tri thức. Đó là lối dạy học bằng hoạt
động, thông qua hoạt động. Cùng với sự thay đổi là “lấy trẻ làm trung tâm” thì giáo
viên phải là người hướng dẫn, tạo ra môi trường, đưa ra tình huống có vấn đề để trẻ
tự mình giải quyết. Nhằm mục đích giúp trẻ tích lũy đủ lượng về mặt thể chất cũng