VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ HỘ GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM TẤT THẮNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ HỘ GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
hiện luận văn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học
còn chưa nhiều nên nghiên cứu của tôi vẫn còn nhiều điểm chưa được hoàn
chỉnh, vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để luận văn của
tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thùy Dung
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT
1
Tên viết tắt
BNN& PTNT
Tên đầy đủ
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
2
CĐ
thôn
Cao đẳng
LHPN
MTTQ
Lực lượng lao động
Liên hiệp phụ nữ
Mặt trận tổ quốc
Là dự án của FAO, thực hiện các cuộc
10
RIGA
điều tra mức sống hộ gia đình trong
FAO
hơn 27 quốc gia
Food and Agriculture Organization of
11
the United Nations - Tổ chức lương
thực và nông nghiệp Liên hợp quốc
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Chương Mỹ năm 2015........35
Bảng 1.2: Phân loại độ tuổi dân số huyện Chương Mỹ năm 2015..................37
Bảng 1.3: Tình hình dân số và lao động của huyện Chương Mỹ thời kỳ 2013 2015.................................................................................................................38
Bảng 2.1 : Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi huyện Chương Mỹ........................39
phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần phụ nữ có vai trò sáng
tạo nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào cũng có
sự tham gia bằng nhiều hình thức của phụ nữ.
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và ngày
càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường
đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi
nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động,
sáng tạo khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn
đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực.
Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang chủ trương thực hiện bình
đẳng giới vẫn có không ít phụ nữ bị đối xử bất công, chịu ảnh hưởng của
phong tục tập quán lạc hậu "trọng nam khinh nữ", bị ràng buộc không có điều
kiện tham gia các hoạt động của phụ nữ đặc biệt là tham gia sản xuất và nắm
trụ cột kinh tế trong gia đình. Tình trạng này xảy ra khá phổ biến tại các vùng
nông thôn và vùng đồng bào dân tộc ít người.
Chương Mỹ là một huyện đồng bằng thuộc thành phố Hà Nội, cách
trung tâm thủ đô Hà Nội 20km, có đường quốc lộ 6A, quốc lộ 21 đi qua. Với
tổng dân số khoảng hơn 300.000 người vẫn đang trên đà phát triển chính vì
1
vậy vẫn còn tồn tại làng quê đan xen với đô thị hóa nên tư tưởng trọng nam
khinh nữ vẫn còn tồn tại khá nhiều; người phụ nữ đôi khi không được tham
gia nhiều công tác xã hội, thậm chí rất ít được tham gia sử dụng các nguồn lực
trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng nhằm
đề xuất các giải pháp phát huy tối đa vai trò, tiềm năng, thế mạnh của phụ nữ
trong thực tiễn, qua đó nâng cao vị thế, tiếng nói và tăng cường vai trò của
phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nông thôn.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn
trong sản xuất và công việc nội trợ. Phụ nữ đã thực hiện nhiều hoạt động sản
xuất và đã đóng góp đáng kể đến thu nhập gia đình. Họ không chỉ tham gia và
công việc sản xuất mà còn cả làm các công việc nội trợ. Vì vậy, vai trò nhân
đôi của họ rất nặng nhọc (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996). Một cuộc
khảo sát ở đồng bằng sông Cửu Long đã chỉ ra rằng phụ nữ đã đóng góp 72%
công việc sản xuất nông nghiệp và 82% cho công việc nội trợ. Phụ nữ cũng
đảm nhiệm hầu hết công việc trồng trọt, chăn nuôi, phụ nữ có mặt ở tất cả các
khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp: chăm sóc cây lúa, tưới tiêu đồng
ruộng, gặt hái, phơi thóc lúa, xay giã gạo … hoặc trong những loại hình lao
động nặng nề và khó nhọc như lĩnh vực thủy nông ( Nguyễn Thị Lân, 2006;
Trung tâm nghiên cứu khoa học về lao động nữ - viện khoa học lao động và
các vấn đề xã hội, Bộ Lao động thương binh và xã hội, 1998).
Một số nghiên cứu đã tập trung đánh giá vai trò của phụ nữ trong thực
hiện các công việc nhà nông, cũng như những đóng góp của họ trong kinh tế xã hội ở địa phương. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, không chỉ tham gia vào
lĩnh vực nông nghiệp với số lượng lớn, phụ nữ còn thực sự là chủ thể của
ngành kinh tế này. Các nghiên cứu đã phân tích, đánh giá mức độ tham gia
của phụ nữ trong mọi lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp như: sản xuất gạo,
chăn nuôi, thủy lợi, trồng rừng, chế biến lương thực, tiếp thị sản phẩm
(Nguyễn Thị Lân, 2006; Đỗ thị Bình, Lê Ngọc Lân 1996; Đỗ Thị Bình 1999,
Lưu Song hà và cộng sự , 2013; Nguyễn Sinh, 2004).
3
Những dẫn chứng khoa học đã khẳng định sự tham gia tích cực và
những thành quả đóng góp của phụ nữ nông thôn trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển kinh tế nông thôn, góp
phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực đồng bằng Sông Hồng và đặc biệt là góp
trên những phân tích cụ thể, dẫn chứng thực tiễn, tác giả đã đề xuất những hỗ
trợ cần thiết cho phụ nữ trong phát triển kinh doanh, sản xuất ở nông thôn,
nhằm phát huy được thế mạnh để sản xuất kinh đoanh một cách có hiệu quả,
tăng cường phúc lợi cho gia đình và nâng cao vai trò, vị thế phụ nữ nông thôn
(Lê Thị Nhâm Tuyết, 2006).
Một số nghiên cứu khác đã đề cập đến việc tiếp cận nguồn lực của
những gia đình có nữ làm chủ hộ đối với các nguồn tín dụng, nguồn tài
nguyên đất (Báo cáo nguồn lực đảm bảo bền vững cuộc sống gia đình nữ chủ
hộ, Bộ NN&PTNT, 2002). Mô tả được sự sôi động của phụ nữ trong việc
tham gia vào các hoạt động tín dụng, tiết kiệm tại địa phương, những yếu tố
tác động và khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khi tham gia chương trình này
(Bộ NN&PTNT, 1998).
Bên cạnh các nghiên cứu về đề cập đến cơ hội tiếp cận các nguồn lực
của phụ nữ nông thôn, một số nghiên cứu khác quan tâm đến cơ hội việc làm,
chế độ đãi ngộ và mức lương, khả năng được đào tạo về kỹ thuật và văn hóa
đối với phụ nữ nông thôn. Nghiên cứu cũng đưa ra một số mô hình giải quyết
việc làm từ các chính sách xúc tiến việc làm đối với lao động nữ nông thôn:
Tạo việc làm thông qua phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, mô hình việc làm trên cơ sở phát triển hộ gia đình, tạo việc làm thông
qua các dự án nhỏ, qua phát triển các doanh nghiệp nhỏ, mô hình việc làm tại
nhà, mô hình tổ chức việc làm cho đối tượng lao động đặc biệt (Phạm Đỗ
Nhật Thắng, 1997; Lưu Song Hà và cộng sự, 2014)
Trình độ văn hóa của phụ nữ khá thấp, họ đã không được hướng dẫn kỹ
thuật. Phụ nữ cũng không có thời gian tham gia các lớp tập huấn khuyến nông
để nâng cao kiến thức, kỹ thuật của cá nhân trong sản xuất nông nghiệp (Đỗ
Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003). Phụ nữ cũng bị hạn chế về cơ hội tham
5
trong tiếp cận nguồn nước sạch và các công trình thủy lợi ở nông thôn. Mặc dù
phụ nữ và nam giới ở nông thôn có những vai trò khác nhau trong việc quản lý
cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường cũng như quản lý khai thác và
bảo vệ các hệ thống thủy nông (Như việc phân công các hoạt động cụ thể có
khác nhau) nhưng trong Chiến lược Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc
quản lý, duy trì nguồn nước sạch, các điều kiện vệ sinh và sức khỏe của gia đình
(Bộ NN&PTNT, 2008). Bởi lẽ chính phụ nữ là người có vai trò quan trọng trong
việc sản xuất nông nghiệp (nhu cầu về nước), trực tiếp tham gia sản xuất nên họ
xứng đáng là người được hưởng lợi và tham gia như là chủ thể trong thực hiện
và triển khai các dự án, chương trình phát triển. Thực tiễn đã chứng minh phụ nữ
đã tích cực tham gia vào quá trình xây dựng dự án, lập kế hoạch, giám sát và
đánh giá hiệu quả quản lý khai thác các công trình thủy lợi tại địa phương phục
vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong nhiều lĩnh vực khác mà phụ nữ tham
gia tích cực, góp phần vào thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới như
làm đường giao thông, phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi đa dạng hóa
nghề nghiệp … (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2015). Các nghiên cứu này đã tiến
hành nghiên cứu sâu theo vùng miền nhưng chưa toàn diện.
Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ ra vai trò của phụ nữ nông thôn
trong tham gia sản xuất và xã hội nói chung chứ chưa có các nghiên cứu đánh
giá đến các nhân tố tác động đến việc thực hiện vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình. Bên cạnh đó chưa có nghiên cứu đánh giá một cách
tổng quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực sản xuất. Đây cũng
là những gợi ý để đề tài tập trung nghiên cứu, bổ sung vào những khuyết thiếu
trong các nghiên cứu trước đó.
2.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Theo số liệu điều tra trong 30 năm (1980 – 2010) của FAOSTAT, trong
lĩnh vực nông nghiệp nữ giới chiếm 43% lực lượng lao động ở các nước đang
cầu lao động về giới, cái mà cho rằng nữ giới không thể làm công việc trồng
8
trọt hiệu quả hơn nam giới, điều đó khiến cho họ phải đối mặt với những khó
khăn khi giá nông sản tăng. Hộ gia đình nữ giới làm chủ hộ thường hạn chế
lao động nghiêm trọng so với những hộ nam giới làm chủ hộ do họ có ít thành
viên và nhiều người phụ thuộc. Vốn nhân lực sẵn có trong mỗi hộ gia đình có
liên quan chặt chẽ tới các biện pháp tăng năng suất nông nghiệp, thu nhập hộ
gia đình, tất cả điều này ảnh hưởng tới phúc lợi hộ gia đình và tăng trưởng
kinh tế ở cấp quốc gia. Bên cạnh đó dịch vụ khuyến nông cung cấp thông tin
hữu ích và kịp thời về các công nghệ và kỹ thuật mới giúp nông dân tăng
năng suất sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên việc cung cấp các dịch vụ khuyến
nông ở các nước đang phát triển vẫn còn thấp ở cả hai giới và nữ giới có xu
hướng ít sử dụng dịch vụ khuyến nông hơn so với nam giới. Các dịch vụ tài
chính như tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm cung cấp cơ hội cho việc nâng cao
sản lượng nông nghiệp, an ninh lương thực và kinh tế hộ gia đình, cộng đồng
và quốc gia. Có một số lượng đáng kể các bằng chứng cho thấy có một
khoảng cách đáng kể sự chênh lệch giới tính trong việc tiếp cận tín dụng ở
nhiều nước đang phát triển. Nữ giới thường xuyên nhận được các khoản vay
nhỏ hơn và có thể không có quyền kiểm soát việc sử dụng hoặc thu nhập được
tạo ra từ khoản này. Cuối cùng việc tiếp vận các công nghệ tiên tiến có vai trò
rất quan trọng trong việc duy trì và cải thiện năng suất nông nghiệp. Các yếu
tố đầu vào phụ thuộc vào sự sẵn có của tài sản như đất đai, tín dụng, giáo dục
và lực lượng lao động đều cho thấy xu hướng có nhiều hạn chế với các hộ gia
đình nữ giới làm chủ hộ so với các hộ gia đình nam giới làm chủ hộ (T.Hertz,
AP de la O Campos, A.Zezza, C.Azzarri, P.Winters, EJ Quinxones, B.Davis
(2009) “Wage inequality in International perspective: Effects of location,
sector and gender”)
nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó đề xuất các giải pháp chủ
yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên
địa bàn nghiên cứu.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ nông thôn trong độ tuổi lao động tại
các HGĐ trên địa bàn huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế HGĐ.
Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài được tiến hành tại huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến
tháng 6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Phụ nữ nông thôn có vai trò, đóng góp như thế nào trong
hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình hiện nay?
Câu hỏi 2: Các yếu tố thúc đẩy và rào cản nào ảnh hưởng tới vai trò của
phụ nữ trong sản xuất, phát triển kinh tế?
Câu hỏi 3: Cần có những chính sách gì nhằm phát huy vai trò của phụ
nữ nông thôn trong phát triển kinh tế?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Người phụ nữ ngày nay vẫn là người làm chính các công
việc nội trợ và tham gia trực tiếp tạo thu nhập cho gia đình.
Giả thuyết 2: Tuy ngày nay được mọi người công nhận vai trò của
người phụ nữ là quan trọng nhưng họ vẫn chưa được quyền quyết định
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài sẽ lựa chọn 04 xã có sự khác
biệt về trình độ và mức độ phát triển kinh tế xã hội để so sánh, đối chiếu về
mức độ tham gia của phụ nữ trong sản xuất và xã hội. Các hộ gia đình, đối
tượng thu thập thông tin đa dạng trong hoạt động sản xuất tham gia các ngành
nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp khác nhau ( hộ thuần nông, hộ phi nông,
hỗn hợp nông – phi nông,…) và tham gia xã hội (công tác quản lý, lãnh đạo,
tham gia các hoạt động cộng đồng ở các mức độ khác nhau).
Tổng số 04 xã: 200 bảng hỏi cấu trúc
Thị trấn Chúc Sơn: là trung tâm chính trị - văn hóa – xã hội của huyện
Xã Trần Phú: là một xã thuần nông miền núi có dân tộc thiểu số.
Xã Quảng Bị: xã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
12
Xã Mỹ Lương: xã thuần nông và phần lớn dân cư theo công giáo
Thu thập thông tin thứ cấp
Phân tích những tài liệu sẵn có liên quan đến nội dung nghiên cứu
nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu, góp phần bổ sung làm rõ
những nội dung nghiên cứu của đề tài.
Phân tích các văn bản chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước về
phát triển kinh tế hộ gia đình, thực thi luật Bình đẳng giới, các chính sách huy
động sự tham gia của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Các báo cáo tổng kết, hội thảo, Hội nghị về vấn đề liên quan tới đề tài.
Các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về huy động sự tham gia
của nữ giới vào các hoạt động phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn.
Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được sử dụng trước, song song hoặc sau phương
pháp nghiên cứu định lượng.
đình thuần nông).
Nội dung chính của phiếu thu thập ý kiến bao gồm những khối lượng
thông tin sau:
+ Thông tin cơ bản về đối tượng được phỏng vấn: bao gồm các câu hỏi
về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp,….
+ Thông tin về hoạt động chính trị - xã hội: bao gồm các câu hỏi về sự
tham gia các tổ chức đoàn thể, mối quan hệ xã hội,…
+ Thông tin về vai trò của người phụ nữ trong gia đình: bao gồm các
câu hỏi về quyền quyết định, thời gian dành cho các công việc không tên.
Đơn vị khảo sát của đề tài: các cá nhân là chủ hộ hoặc vợ/ chồng chủ
hộ gia đình với số lượng mẫu khảo sát là 200 mẫu.
Bảng 1: Địa điểm và số lượng mẫu điều tra
STT
1
2
3
4
Tên xã
Thị trấn Chúc Sơn
Xã Trần Phú
Xã Quảng Bị
Xã Mỹ Lương
Mẫu điều tra
50
50
50
50
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
15
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra những nhận xét và đánh giá
về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế trên địa bàn nghiên cứu, từ đó
giúp chính quyền địa phương, những nhà quản lý hoạch định chính sách xã
hội của địa phương có cái nhìn đúng đắn, tổng thể về thực trạng vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế của địa phương mình, để thấy được mặt mạnh
cũng như mặt yếu của địa phương để đưa ra các giải pháp có tính khả thi
nhằm giải quyết các vấn đề tồn đọng ở địa phương và tăng cường cường đẩy
mạnh những mặt đã đạt được.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 3 chương tương ứng với 3 nội dung chính
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ gia đình
Chương 3: Yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ
Kết luận và khuyến nghị
16
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm công cụ
Khái niệm vai trò:
đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia; nguồn lực và lợi ích giữa
nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể.
"Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã
hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục
thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới"
là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong
quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm
bảo công bằng trong xã hội.
Theo hướng nghiên cứu của tác giả khái niệm “Giới” được tiếp cận
theo hướng nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho
nam và nữ.
Khái niệm Gia đình:
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình:
Theo từ điển xã hội học Oxford “gia đình là một nhóm thân thuộc hợp
thành từ những người có liên hệ với nhau bằng những ràng buộc dòng máu,
bạn tình hay những ràng buộc pháp luật. Nó là một đơn vị xã hội rất dẻo dai
đã tồn tại và thích nghi theo thời gian” [30, tr.182].
Trong cuốn Từ điển xã hội học của G. Endrweit và G. Thommsdorff
( nhà xuất bản thế giới, 2002) các tác giả đưa ra những định nghĩa gia đình
như sau: gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc
vai trò nhất định ( bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em..), với nó thì sự tách biệt về
giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (bằng một hay đa thế hệ : nam/
nữ ) và nó sẽ chuyển qua một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả
18